Chủ nhật, ngày 23 tháng 06 năm 2024
21:35 (GMT +7)
KỶ NIỆM 70 NĂM CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ (07/5/1954 - 07/5/2024)

Cách đây 70 năm, địa ngục lòng chảo Điện Biên Phủ - góc nhìn từ những cựu binh Pháp (Kỳ II)

(Tiếp theo kỳ trước)

Kỳ II – Nhật ký hành quân tháng 11 năm 1953

Trên tờ “Ladepeche” số ra ngày 7 tháng 5 năm 2004, tướng Bigeard cho biết: “Đây đúng là một điều ngu xuẩn khi đặt chiến trường tại lòng chảo. Bộ chỉ huy đã nói rằng nếu quân Việt tấn công, chúng tôi sẽ tiêu diệt họ. Trên thực tế, họ chính là những người đã tiêu diệt chúng tôi”.

Trên máy bay trước giờ nhảy dù ngày 22 tháng 11 năm 1953
Trên máy bay trước giờ nhảy dù ngày 22 tháng 11 năm 1953

Chịu trách nhiệm phản công, Bigeard với cấp hàm trung tá tại thời điểm nhảy dù xuống Điện Biên Phủ lần đầu tiên vào ngày 20 tháng 11 năm 1953 cùng với 700 lính dù, ông là người chứng kiến cuộc chiến ngay từ những giây phút đầu tiên. Cũng trong bài báo này, Bigeard nói tiếp về “kỷ niệm đẹp nhất” của mình:

Có vẻ rất ngớ ngẩn nhưng đó là thời gian bị bắt giữ làm tù binh. Trong trại, tôi được bổ nhiệm làm lãnh đạo. Đó là mùa hè năm 54. Chúng tôi chỉ ở đó có bốn tháng vì tôi đã nói rằng vì danh dự, chúng tôi phải rời đi… Sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, chúng tôi có tổng cộng 10.000 tù nhân, sau 4 tháng chúng tôi còn lại 3.900, rất nhiều người chết trong tù. Chúng tôi không bị ngược đãi, không bị tra tấn, được ăn một nắm cơm vào bữa trưa và bữa tối”. Bigeard  kết luận: “Đó là bộ mặt của chiến tranh” – “À la guere comme à la guerre”.

***

Ngày 21 tháng 11 năm 1953

Buổi sáng.

Lễ an táng những người lính của Trung đoàn nhảy dù thuộc địa số 6 được diễn ra ngay trên cánh đồng lúa nằm cách làng không xa với sự có mặt của Bigeard, những cây thánh giá được đẽo bằng gỗ rồi sơn trắng cùng những vòng hoa đặt trên mộ. Nghĩa trang này sẽ biến mất vĩnh viễn dưới đạn pháo trong trận chiến bốn tháng sau đó.

14:00

2 chiếc C-119 cất cánh mang theo các thiết bị của chiếc máy ủi 7 tấn. Chiếc Packett đầu tiên xuất hiện phía trên thung lũng Điện Biên Phủ do đại úy Henri Soulat, trưởng phân đội lái, tiếp theo là chiếc thứ hai do trung úy Magnat lái. Chiếc đầu tiên mang theo một chiếc máy ủi nặng 1 tấn,  chiếc thứ hai mang theo xẻng và các phụ kiện máy móc nặng 2 tấn dùng trong xây dựng sân bay. Tất cả các thiết bị được thả dù xuống Octavie. Máy bay đi đúng hướng, tuy nhiên dây dù bị đứt và thiết bị rơi xuống tự do. Trên đài phát thanh, một bình luận viên hài hước nói: “Đừng nản lòng, rồi chúng sẽ bật lại!”. Ba ngày sau đó 2 chiếc máy ủi 4 tấn khác cũng được thả dù xuống. Đây là lần đầu tiên một chiếc máy ủi được thả bằng máy bay, ngay cả đối với những người Mỹ, những quan sát viên và cũng là người cung cấp các thiết bị kỹ thuật này cũng không khỏi ngạc nhiên. Tổng cộng có 4 chiếc máy ủi được thả dù nhưng chúng đều ở tình trạng cũ nát (từng được sử dụng trong chiến dịch của Ý, Pháp và Đức). Một chuyên gia được cử đến địa điểm để tìm ra những chỗ hỏng hóc.

Kết thúc ngày 21 tháng 11 năm 1953

Đã có 80 chuyến bay được thực hiện với 230,25 giờ bay. Tổng cộng có 47,58 tấn hàng hóa được thả dù. Mất một chiếc máy ủi, 61 lính dù, 1.423 lính được gửi đến DZ Natacha.

Sân bay (trái) và thả dù các thiết bị hạng nặng (phải)
Sân bay (trái) và thả dù các thiết bị hạng nặng (phải)

Lực lượng quân sự đang thiếu hụt. Như thường lệ, quân đội ra lệnh kêu gọi các đội bay dân sự. Những phi công dân sự này đã quen với việc bay trong điều kiện khó khăn cùng với số lượng nhân lực tối thiểu, họ có thể điều hướng mà không cần hoa tiêu, chức năng này do phi công cung cấp. Dưới con mắt của giới chức quân đội họ thường bị chế nhạo bằng một giọng điệu khôi hài, những phi công “tốt nghiệp được là nhờ vào tiền bạc”. Giờ đây họ đang có mặt đó...

Chỉ huy Millot, chỉ huy Trung đoàn pháo binh dù số 35, được bổ nhiệm làm Phó đội cứu hỏa của đồn đồng thời chịu trách nhiệm điều phối các vụ ném bom trên không và trên mặt đất.

Đại úy Castaignet nắm quyền chỉ huy Pháo binh, Đại đội súng cối hạng nặng nước ngoài số 1 (CEPML số 1) với 8 súng cối 120 mm sẽ do Trung úy Molonier chỉ huy, trước đây đơn vị này thuộc Trung đoàn pháo binh dù số 35.

Các phóng viên báo chí đã gửi điện tín tới các tờ báo ở Paris cũng như các tờ báo nước ngoài thông báo rằng một trại cố thủ tương tự như Nà Sản sẽ được thành lập ở Điện Biên Phủ, căn cứ không quân mới sẽ có nhiệm vụ hỗ trợ cho đám lính nổi dậy của vùng cao đồng thời sẽ hướng tới mục đích chiếm đóng Điện Biên Phủ lâu dài.

Chính sự bất cẩn để lộ thông tin này đã cho phía Việt Minh biết về ý định của quân Pháp. Nhưng nghiêm trọng hơn, sự bất cẩn này đã cho tướng Giáp biết được thông qua báo chí rằng những bí mật của Sư đoàn 316 đã bị phát hiện và hiện đang bị theo dõi (các đơn vị của Sư đoàn 316 đang hướng về Lai Châu theo tuyến tỉnh lộ 41, theo nguồn thông tin đáng tin cậy sư đoàn 316 đang trên đường sang đất Thái), các mã và tần số vô tuyến của Sư đoàn đang bị kiểm soát để giải mã. Ngay lập tức phía Việt Minh đã thay đổi mật mã hoạt động khiến quân Pháp không thể tiếp tục theo dõi. Tuy nhiên chúng ta vẫn còn may mắn vì vẫn tiếp tục phân tích các mật mã hậu cần cho phép theo dõi chính xác các hoạt động di chuyển của quân đội cũng như các nhu cầu hậu cần.

Từ trái qua: Tướng Navarre, Cogny và Gilles (ngồi phía sau)
Từ trái qua: Tướng Navarre, Cogny và Gilles (ngồi phía sau)

Chúng tôi buộc phải thay đổi vị trí hoạt động đồng thời cố gắng tổ chức hoạt động bất chấp những tiếng ồn chói tai của hoạt động máy bay. Trong nhiều ngày, tiếng máy bay thả thiết bị vật tư gầm rú không dứt: 100 tấn hàng hóa mỗi ngày! Mọi thứ từ trên trời rơi xuống, thậm chí chúng rơi tự do như chiếc máy ủi kỹ thuật hay bao gạo đã vô tình giết chết một người lính Việt Nam ở Trung đoàn lính dù thuộc địa số 8. Tất cả đều được cung cấp bằng dù hoặc không dù: thực phẩm, đạn dược, dây thép gai, xẻng, cuốc, v.v..

Đường đi Morane đã hoàn thành.

Yêu cầu khẩn cấp từ Hà Nội về vị trí tập kết của nhóm Bordier.

2 con đom đóm cảnh giác suốt đêm từ 8 giờ tối tại địa phương.

Đêm yên tĩnh nhưng lạnh lẽo.

Ngày 22 tháng 11 năm 1953

9:30

Lực lượng đổ bộ của Trung đoàn lính dù thuộc địa số 5 có tên “Bawouan số 5”, Tiểu đoàn trưởng Buvery. Bác sĩ: Trung úy Pierre Rouault. Tổng cộng: 700 lính thả dù thành ba đợt xuống khu vực DZ Natacha. 30 chuyến bay chia thành ba đợt cách nhau 3 phút trên cùng một DZ. Sau khi tập hợp lại, lực lượng tác chiến là 114 người châu Âu và 585 người Việt Nam (một lính dù châu Âu bị pháo sáng bắn trúng dù rơi xuống đất. An táng tại nghĩa trang Điện Biên Phủ).

Trung đoàn tập hợp tại đồi Eliane 2, còn được đặt biệt danh là Thành cổ vì tại đây tồn tại một tòa thành cổ vốn là nơi ở của các quan trong vùng. Trên pháo đài có một ngọn tháp nhỏ vẫn treo cờ Việt Nam.

Tối ngày 22 tháng 11

Thêm 4.560 lính cùng với đại đội Bawouan số 5, thêm 755 lính thả dù xuống DZ Natacha trong đó 22 lính rơi xuống vùng núi hoang trước khu vực DZ Natacha.

Đây là đợt thả lính dù lớn nhất trong Chiến tranh Đông Dương. Tổng cộng cho đến hôm nay đã có 240 tấn vật liệu được thả xuống sau 248 chuyến bay.

Chiều muộn

Bất chấp công việc đang được tiến hành trên đường băng, một chiếc Beaver của công ty Aigle Azur đã hạ cánh cùng với tướng Cogny mang theo một số chiếc xe đạp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối giữa các điểm tập kết. Cogny chính thức nắm quyền tư lệnh Lực lượng bộ binh bắc Việt Nam cũng có mặt để đánh giá không khí những ngày đầu chiến dịch. Ông ta biết rõ Gilles và Bastiani phản đối việc thiết lập căn cứ không quân mới này. Tướng Gilles, sau trải nghiệm dù về mặt quân sự khá thành công của Nà Sản, không còn hứng thú với căn cứ quân sự mà vẻ bề ngoài đầy hứa hẹn nhưng bên trong tiềm ẩn nguy cơ bị chuyển hóa nhanh chóng thành một trại cố thủ.

Tướng Gilles (người cao, cầm ba toong) và tướng Cogny (người thấp)
Tướng Gilles (người cao, cầm ba toong) và tướng Cogny (người thấp)

Ngày 23 tháng 11 năm 1953

Bắt đầu chiến dịch Pollux – Kết thúc chiến dịch Castor: rút quân đồn trú Lai Châu.

Những đội quân lính bộ đầu tiên tập kết kể từ ngày 15 tháng 11.

Rút các đơn vị đồn trú Lai Châu. Chiến dịch Leda: sơ tán quân bằng máy bay.

19:00

Cuộc gặp mặt của các lãnh đạo quân đội Việt Minh với tướng Giáp tại một địa điểm ở khu vực rừng núi Thái Nguyên. Tướng Giáp đã được thông báo về cuộc thả dù ở Điện Biên Phủ.

Tuy nhiên tướng Giáp vẫn chưa nắm rõ ý đồ của quân đội Pháp.

Tướng Giáp hạ quyết tâm trấn giữ cả Lai Châu và Điện Biên Phủ, nhưng có lẽ Điện Biên Phủ là vị trí chính và Lai Châu là vị trí phụ. Nếu mối đe dọa từ phía quân Pháp gia tăng, tướng Giáp sẽ có thể cố thủ tại một vị trí duy nhất và đưa quân tiếp viện đến đó, hiện chúng ta vẫn chưa biết chính xác vị trí đó, rất có thể đó sẽ là Điện Biên Phủ. Nếu mối đe dọa từ phía chúng ta trở nên cấp bách, tướng Giáp có thể sẽ củng cố thêm vị trí này để biến nó thành một trại cố thủ (và rất có thể đây sẽ là Điện Biên Phủ) nhưng cũng có thể họ sẽ rút lui.

Hiện tại chúng ta không thể đánh giá liệu kẻ thù sẽ cố thủ hay rút lui, liệu họ sẽ chiếm một hoặc hai vị trí trong thời gian ngắn hay dài, liệu họ sẽ điều thêm  quân tiếp viện đáng kể hay chỉ ở mức tối thiểu, chúng ta vẫn còn thiếu rất nhiều thông tin chính xác do phía địch vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Tướng Giáp sẽ làm gì trong những ngày tới?

Vị trí đóng quân ngày 21 tháng 11 năm 1953. Điểm khoanh đỏ là Him Lam. Dưới đó (từ trái sang) là khu vực thuộc cứ điểm cứ điểm 206, 310 và đồi A1.
Vị trí đóng quân ngày 21 tháng 11 năm 1953. Điểm khoanh đỏ là Him Lam. Dưới đó (từ trái sang) là khu vực thuộc cứ điểm cứ điểm 206, 310 và đồi A1.

Dù tướng Giáp có quyết định như thế nào đi nữa, dù phía địch xảy ra bất cứ biến động gì thì việc quân địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ về cơ bản tạo ra một tình thế có lợi cho ta. Nó vạch trần sự mâu thuẫn mà quân địch đang đấu tranh, giữa nhiệm vụ chiếm lại lãnh thổ và tập hợp lực lượng, giữa việc chiếm đóng miền núi và tăng viện cho mặt trận đồng bằng.

Rất có thể tướng Giáp ra lệnh cho quân tiến về phía tây bắc tiêu diệt Lai Châu. Một cánh quân khác cắt đường Lai Châu và Điện Biên Phủ. Do đó, tướng Giáp sẽ bắt đầu bao vây căn cứ trên không trong tương lai.

Thông tin: Trung đoàn 148 báo cáo tiểu đoàn 700 chiếm Điện Biên Phủ “quân Pháp có thể đảm bảo liên lạc với Bắc Lào để ứng phó với chiến dịch thu đông của Việt Minh sắp tới”.

Dự án vận chuyển đi Sơn La 700 tấn gạo và 400 thùng xăng dầu.

Ngày 25 tháng 11 năm 1953

Việc thành lập 6 tiểu đoàn lính dù của chiến dịch Castor đã hoàn tất: Điện Biên Phủ hiện có 5.100 lính.

Các chuyến bay đã thả 145 tấn dây thép gai và 5 đến 6 UF cho mỗi loại vũ khí. (1 UF = 110 quả đạn pháo 120 mm hoặc 100 quả đạn pháo không giật 75 mm).

Xây dựng hàng rào thép gai
Xây dựng hàng rào thép gai

Chỉ huy Guerin -  đứng đầu nhóm máy bay chiến đấu 1/8 (GC) 1/8 Saintonge cùng với sự trợ giúp của các trung sĩ Barteau, Bouderon và Mazelle – đã cất cánh do chiếc Locust dẫn đường thực hiện nhiệm vụ ném bom một đơn vị Việt Minh đã bị phát hiện... Tổn thất phía Việt Minh không xác định.

Trước buổi trưa

Đại đội kỹ thuật nhảy dù số 17 đã san bằng một số túp lều của người dân bản địa để sử dụng vật liệu, xây dựng những cây cầu tạm bắc qua sông Nậm Rốm và con suối chảy giữa sân bay và làng.

Việc xây dựng bắt đầu tại một bến dỡ hàng cho tàu Bristols và bãi đậu cho tàu Dakotas cũng như cây cầu và cầu đi bộ trên Nậm Rốm. Tất cả công việc này được thực hiện thủ công.

Toàn bộ đơn vị đồn trú, ngoài các đơn vị được phân công trinh sát, đều tham gia dựng trại. Khói bốc lên khắp nơi, quân lính phá rừng trên những ngọn đồi gần nhất, bụi đá ong do xe cộ và máy bay cùng các vụ nổ do đại đội kỹ thuật nhảy dù số 17 bốc lên mù mịt, chúng tôi đang trong quá trình sản xuất đầy đủ để tìm vật liệu hoặc san bằng mặt bằng.

Những chiếc dù thu hồi được chất thành đống.

Ngày 29 tháng 11 năm 1953

13:45

Chuyến thăm của Navarre và Cogny: hạ cánh cùng tướng Mỹ Thomas J.H. Trapnell, người đứng đầu MAAG (Nhóm Cố vấn Hỗ trợ Quân sự).

16:50

Để đẩy nhanh tiến độ giao hàng về Điện Biên Phủ, 6 xe tải chở Trung đoàn 174 theo đại đội về công ty Tuần Giáo. Tiểu đoàn 255 bị loại trước.

Đêm

Súng cối 81 mm VM rơi ở khu vực Trung đoàn lính dù thuộc địa số 6.

Brigitte Friang (1924-2011). Nữ phóng viên đầu tiên ở chiến trường Điện Biên Phủ. Bà từng kỷ niệm sinh nhật lần thứ 30 vào ngày 23 tháng 1 ngay tại chiến trường.
Brigitte Friang (1924-2011). Nữ phóng viên đầu tiên ở chiến trường Điện Biên Phủ. Bà từng kỷ niệm sinh nhật lần thứ 30 vào ngày 23 tháng 1 ngay tại chiến trường.

Kết thúc tháng 11, điều ấn tượng nhất có lẽ chính là cuộc đối thoại giữa Brigitte Friang và đại tá Piroth. Trong đợt nhảy dù ngày 22 tháng 11 có sự xuất hiện của nữ nhà báo chiến sự nổi tiếng, Brigitte Friang. Bà chính là biểu tượng kiên cường của giới phóng viên. Luôn có mặt trên khắp các trận tuyến để đưa tin một cách xác thực nhất, bà cũng từng có mặt tại trận Tổng tấn công tết Mậu Thân 68. Ngay khi đặt chân xuống Điện Biên Phủ, Brigitte Friang với khí chất của một người phụ nữ mạnh mẽ, không sợ hãi và không ngần ngại nhảy dù để gia nhập trại cố thủ, đã đặt những câu hỏi đầy lo lắng dành cho đặc biệt là với Đại tá Piroth. Người này thay vì nhận ra những sai lầm trong chiến thuật của họ đã trả lời nữ phóng viên: “Nếu tôi là bố của cô, tôi sẽ đánh đòn cô”.

(Còn tiếp)

Quyên GAVOYE

Kỳ I: Nhật ký hành quân ngày 20 tháng 11 năm 1953

Kỳ III – Nhật ký hành quân tháng 12 năm 1953

2 đã tặng

2

Mời bạn cho ý kiến, quan điểm...

Gửi
Hủy