Thứ tư, ngày 12 tháng 06 năm 2024
23:33 (GMT +7)

Dạ huyết hương

  1.  

Cha gọi tôi về biển. Tiếng của cha thảng thốt và giục giã như những cánh chim báo bão. Chấp chới. Chao liệng. Rồi lọt thỏm giữa những vần vũ cuồng phong.

Đôi chân tôi vẫn bước lên núi cao.

Tôi muốn lên miền rừng xanh thẳm.

Vị muối mặn quyện vào đôi bàn chân rời rã. Mồ hôi đọng lại thành muối trắng xóa, lấp lánh trên những vạt lá. Mùi biển sực lên theo từng bước chân tôi, nồng nã. Những cơn gió rát rạt, xô đập, vặn xoắn trong lồng ngực, rồi bung tỏa, thổi tràn ra khắp các mạch máu. Những giọt máu nhỏ xuống, thấm ngay vào đất. Những giọt máu không có hồng cầu, bạc phếch. Chỉ có muối. Thân thể tôi là muối. Kết đọng lại dưới ánh mặt trời.

                                    a1-1694483633.jpg
 Minh họa: Lê Quang Thái

Tôi phải lên miền rừng.

Tôi không muốn da thịt khô đi thành những tinh thể muối.

Mẹ tôi đã có những giấc mơ màu xanh. Hẳn là vậy. Nhưng cha luôn muốn mẹ mơ những giấc mơ màu trắng. Giấc mơ lạo xạo muối, mặn chát, tanh nồng. Mẹ nôn vào những giấc mơ mà cha áp đặt. Những cánh buồm toạc máu. Đỏ ối trời chiều. Mẹ vẫy vùng trong giấc mơ bị siết chặt. Từng cột sóng như những cái lưỡi khổng lồ cuốn phăng tất cả, nhưng không thể cuốn trôi giấc mơ màu xanh kia. Giấc mơ về một miền rừng. Diệp lục vỗ về. Ngàn chim muông ríu rít.

Tôi chỉ nhớ về những giấc mơ của mẹ. Như tôi đã từng mơ. Khuôn mặt người thế nào, tôi không sao nhớ nổi. Chỉ biết nó chập chờn giữa một vùng sáng tối, phía bên này là biển, còn phía bên kia là rừng. Tiếng cười mẹ lảnh lót như những tiếng chim, còn tiếng khóc ào ạt như sóng cuộn. Lấp lánh một vùng tóc rối ánh lên như mặt biển đêm dát trăng vàng. Mẹ quẫy đạp trong cơn mơ của mình ngộp thở. Rồi mộng du đi về phía núi. Theo màu xanh và tiếng gọi trong tâm tưởng diệu huyền.

Những dấu chân mẹ trên cát bị sóng đánh rã rời. Mấy chục năm qua đã chẳng còn gì nữa. Nhưng tôi vẫn như nhìn thấy những mầm xanh trồi lên. Đầy sức sống và dẫn dụ. Nó như mở ra một con đường, đi vào thế giới khác.

Tôi đặt chân lên những dấu xưa của mẹ. Ấm nóng và mệt nhoài. Sự sống há chẳng phải bắt đầu từ những dấu chân như thế? Từ khi tôi chưa được hoài thai, từ khi tôi chỉ còn là một hạt bụi lơ lửng trong vũ trụ này. Sự sống đã bắt đầu từ những dấu chân như thế.

Cha gọi tôi về biển.

Tiếng của cha lạc trong gió. Những con sóng đánh tiếng cha vỡ nát. Tôi thương cha. Nhưng tôi không thể nào ở lại. Tôi chẳng thể tự chia đôi, để một theo mẹ lên núi cao, một ở lại cùng cha vẫy vùng miền biển. Tóc cha đã bạc cùng sóng nước, đã lẫn cùng với muối. Cha đứng ở mũi thuyền, nhìn theo những dấu xưa. Cánh buồm căng gió như muốn nứt toang lồng ngực. Hổn hển thở trong hoàng hôn lồng lộng. Chim bói cá lao vùn vụt xuống lòng biển, vá víu nhằng nhịt những rách nát của khoảng trời thương tật trong đáy mắt.

Không còn tiếng cha.

Không còn tiếng biển vần vũ.

Chỉ còn những muối kết lại loang lổ.

Có lẽ, tôi đã đi khá xa. Nhưng chưa tới miền rừng.

2.

Người đàn bà ngồi vá lại tấm lưới rách. Như một chiếc mạng nhện khổng lồ bủa vây. Những cái phao xốp như những con mắt trắng dã.

Người đàn bà dừng tay. Nhìn xa xăm về phía núi. Nơi ấy có những rừng cây xanh, những bông hoa đỏ. Chị đã đến nơi ấy trong giấc mơ của mình. Xa lắm, đi hết những tháng ngày lênh đênh, đi hết ba mươi sáu cửa rừng, mới đến nơi đền thiêng bóng thánh. Miền rừng xòe bóng mát, vỗ về những cơn mơ thổn thức. Chị thấy mình mặc áo xanh thêu hoa, thắt bao lưng xanh, đầu đội khăn xanh có cài hoa đỏ. Chị đánh đu trên những vòm lá, ngân nga cùng tiếng suối, ríu ran cùng tiếng chim, ca múa rộn ràng khắp sơn lâm sơn trang.

Cảnh núi rừng sương rơi lác đác

Thú hữu tình càng ngự càng vui

Ba gian lầu mát thảnh thơi

Sớm rong đỉnh núi tối ngồi sườn non (1)

Bỗng tiếng thét của người đàn ông làm chị bừng tỉnh. Lại một cơn bão biển đổ về. Trong phút chốc, bầu trời như đổ sập. Chị cuống cuồng thu dọn đồ đạc. Người đàn ông chèo lái con thuyền vào gần bờ và neo đậu chắc chắn.

Dù sao cũng đã quen rồi. Những cơn bão biển. Sầm sập mưa. Bời bời gió. Vần vũ nước đục ngầu. Đứa con gái nhỏ cũng chẳng còn khóc thét ở trong thuyền. Đôi mắt nó ráo hoảnh nhìn trời nước. Như những người dân hàng chài vốn đã quen với sự lênh đênh. Và cả sự mất mát, nếu có. Thì nó cũng chôn sâu vào lòng biển.

Ba người trong chiếc thuyền nhỏ xíu, cứ dềnh lên rồi hạ xuống theo từng đợt sóng. Họ không nói với nhau lời nào. Chỉ có biển gào thét dữ dội. Người đàn bà lại mang tấm lưới rách ra vá tiếp. Những lúc như thế này, chị chẳng biết làm gì ngoài việc vá những tấm lưới rách. Chị nhìn vào tấm lưới chằng chịt như mê cung. Đi hết những tháng ngày lênh đênh, đi hết ba mươi sáu cửa rừng mới đến nơi đền thiêng bóng thánh. Trong đầu chị cứ vang lên tiếng nói đầy mê dụ. Mắt chị hoa lên. Tấm lưới trùm vào mặt chị đến nghẹt thở. Con thuyền ngả nghiêng, chao liệng. Tấm lưới quấn chặt lấy thân thể chị. Chị không thể vùng vẫy. Chị gào thét. Nhưng tiếng chị tan theo bọt biển. Kiệt sức. Con thuyền lật úp. Rồi từ từ chìm sâu vào lòng biển. Chỉ còn lại một khoảng tăm tối…

Cuối cùng người đàn bà cũng bỏ lại những tấm lưới rách. Chị không còn đủ kiên nhẫn để vá víu lại nó nữa. Chị đã theo những cơn mộng du về một màu xanh trên miền rừng xa thẳm.

Đó là một ngày.

Người đàn ông thấy tấm lưới rách nằm bất động với những chiếc phao trắng xốp như những con mắt rời rã.

Đứa trẻ thấy những dấu chân còn nóng hổi in trên cát lạnh.

Người đàn bà thấy bóng núi trong chờn vờn sương sớm.

Mải miết đi. Lăn, bò, trườn, tướp máu. Qua những cửa rừng…

Thượng ngàn Đệ Nhị tối linh

Ngôi cao công chúa quyền hành núi non

Anh linh đã khắp tiếng đồn

Sấm ran mặt bể  mưa tuôn đầu ghềnh (2)

3.

Tôi không nhớ mình đã đi bao nhiêu ngày đường. Những dấu chân xưa đã thành cây che kín. Lá rụng xuống thành những thảm mục ngái nồng. Cả thế giới của sự sống đang diễn ra ở đấy. Âm thầm và mãnh liệt dưới chân tôi.

Tôi đi giữa bạt ngàn những màu xanh. Thân thể tôi cũng là một màu xanh đang cạn khô diệp lục. Tôi thấy mái tóc mình xổ ra như rễ cây. Cuồn cuộn. Bộ quần áo tơi tả phất phơ trong gió như những chiếc lá. Chim về làm tổ trên đầu tôi. Những chú chim lạ, có tiếng hót tôi chưa được nghe thấy bao giờ. Một thứ ngôn ngữ khác. Bầy chim kể chuyện gì đó. Tôi không hiểu vì chưa được học tiếng của loài chim. Mà những ba mươi sáu thứ chim, tôi nhớ có lần mẹ bảo.

Tôi gặp một cụ già đốn củi. Cụ ơi, đây có phải miền rừng? Cụ già cười, mái tóc bạc rung rung như một vầng mây. Phải, đây là miền rừng. Tôi reo lên khi đã đặt chân tới miền rừng. Nhưng mà cô tới đâu? Con tới miền rừng. Tất nhiên là miền rừng, nhưng cô phải biết mình sẽ đến nơi nào trên cái miền rừng thăm thẳm chứ?

Tôi ngơ ngác. Tôi tới nơi nào trên cái miền rừng thăm thẳm? Có ai nói cho tôi biết. Chỉ có giấc mơ dẫn dụ tôi đến miền rừng.

Ông cụ chép miệng cảm thông, thôi về đi, đầy rẫy những hiểm nguy cô gái ạ. Tôi lắc đầu, tôi không thể trở về. Nếu phải bỏ xác ở chốn này thì đôi chân tôi cũng sẽ hóa rễ, đôi tay tôi sẽ hóa cành lá để thành một cái cây ôm vào lòng đất mẹ, để tán xanh vẫy gọi chim về. Cụ già lắc đầu rồi bỏ đi. Tôi kiệt sức, ngồi tựa lưng vào gốc cây và chìm vào giấc ngủ.

Tôi nghe thấy những con chim nói chuyện về ba mươi sáu cửa rừng, về ngôi đền thiêng và người đàn bà bí ẩn. Một bóng áo xanh nhẹ nhàng lướt tới. Bầy chim lặng yên. Bóng áo xanh vẫy gọi tôi bước đi, qua những đèo, những dốc, những khe. Tôi thoáng thấy gương mặt nàng, một bên má in hình đóa hoa. Thoắt cái, nàng đã đưa tôi đến cửa một ngôi đền rêu phong, nằm chênh vênh trên đỉnh núi. Rồi nàng tan biến, hòa vào màu xanh cỏ cây. Bông hoa trên má nàng rớt xuống, đọng lại trên tay tôi như giọt máu.

Tôi choàng tỉnh. Ngơ ngác nhìn quanh. Thì ra là một giấc mơ. Nhưng khi xòe bàn tay ra thì vẫn nguyên một bông hoa vừa đủ ba mươi sáu cánh. Những cánh hoa ngào ngạt một mùi hương lạ lẫm, diệu kì.

Tôi nhớ về người con gái áo xanh, về con đường mà nàng đã dẫn tôi đi. Tôi cầm bông hoa trên tay, lần theo làn hương, mơ hồ đi qua những đèo, những dốc, những khe, qua mười hai chốn Mán, mười hai chốn Mường, mười hai chốn Thổ tộc. Qua mỗi chốn là một cánh hoa rụng xuống, tan vào đất. Tôi đi hết ngày rồi đến đêm, chẳng ngơi nghỉ mà không hề biết mệt. Thấy đôi chân mình nhẹ bẫng, như không chạm đất. Như bay cùng với bóng áo xanh trong giấc mơ lạ lùng. Nhìn xuống, thấy dưới chân mình, đồi núi lô xô. Sương khói bảng lảng khắp miền rừng. Đến khi cánh hoa cuối cùng rớt xuống, tôi đã đi qua ba mươi sáu cửa rừng thì đền thánh hiện ra. Tôi ngã gục trên bậc thềm bước vào đền thánh.

4.

Người đàn ông ngồi ở mũi thuyền nhìn những tấm lưới rách nằm bất động. Đã bao năm rồi, nó chẳng thể rách hơn. Anh ta cứ để cho nó mặc sức rách nát tan hoang. Rồi lại nguyền rủa những tấm lưới rách.

Người đàn bà lang thang giữa ba mươi sáu cửa rừng. Cứ đi mãi, đi mãi rồi lại về chỗ cũ. Trên tàng cây xanh thẫm, những con chim lượn vòng, khắc khoải kêu bắt cô trói cột, bắt cô trói cột. Dưới đất, những cây dây leo mau chóng phủ kín dấu chân người. Người đàn bà ngồi như hóa đá, dưới một gốc cây to. Đã đi không biết bao lâu rồi mà chẳng thể thoát được chốn mê cung của rừng già, như những mắt lưới nhằng nhịt mà ngày trước chị đã mải miết ngồi vá lại. Chẳng mấy chốc mà tóc người đàn bà đổ trắng, như một áng mây bị hóa kiếp lưu đày.

Một ngày nọ, người đàn bà rẽ lối giữa rừng sâu bị trượt chân rơi xuống khe núi. Thân thể tướp máu. Những giọt máu chầm chậm nhỏ xuống lòng đất, âm thầm trỗi dậy trong lớp đất mục. Người đàn bà ngất lịm đi. Đến khi tiếng kêu bắt cô trói cột thống thiết vang lên khắp khu rừng thì chị mới tỉnh lại, bàng hoàng thấy xung quanh, trên mặt đất là những bông hoa màu đỏ. Những bông hoa trút mùi hương mê đắm bung nở từ những giọt máu của chị, từ những vết thương đau đớn, nở từ một bên má rách nát trên khuôn mặt không còn vẹn nguyên.

Người đàn bà lê lết theo hướng những bông hoa dẫn dụ. Qua ba mươi sáu bông hoa máu, chị đi hết ba mươi sáu cửa rừng.

Bước khỏi cơn mê, người đàn bà bừng tỉnh. Toàn thân đầy thương tích nhưng lòng thông suốt. Cửa đền rộng mở. Chị ngã gục nơi bậc thềm. Có bóng áo xanh nhẹ nhàng nâng chị dậy. Ba mươi sáu bông hoa máu tụ lại thành một bông hoa ba mươi sáu cánh bay vút lên khoảng không.

Người đàn bà với tay chạm vào giấc mơ màu xanh.

5.

Ngôi đền cổ nằm chênh vênh trên đỉnh núi. Bốn mùa sương trắng giăng giăng. Nơi đây có loài hoa lạ. Rực rỡ từng cánh thắm. Ba mươi sáu cánh đỏ như những giọt máu xếp chồng lên nhau. Lá như những chiếc gai sắc nhọn. Hoa nở vào những đêm trăng tròn. Từng cánh chầm chậm bung tỏa uống những dòng trăng. Những cánh hoa lộng lẫy vươn mình, mềm, mịn, ướt rượt.

Bà đồng ngồi giữa những đóa hoa. Mái tóc trắng của bà đổ xuống hòa vào trăng lấp lánh. Bao năm rồi, hoa Dạ Huyết chưa tỏa mùi hương. Bà nhớ, cụ cố đồng lúc sinh thời nói rằng, khi nào Dạ Huyết dâng hương là sẽ có một đứa con tìm về với Mẫu. Hồi bà rời bỏ biển, vượt suối trèo đèo mang theo giấc mơ thượng ngàn, lúc bà đang bị mắc ở mê cung ba mươi sáu cửa rừng thì Dạ Huyết trên đền Mẫu thơm ngào ngạt. Cụ đồng bấm quẻ, biết là có đứa con đang tìm về với Mẹ. Một đời thanh đồng hầu Mẫu, liệu được mấy lần thấy hoa Dạ Huyết thơm. Cụ đồng mòn mỏi suốt cả cuộc đời trên đỉnh núi cao, làm bạn với gió mây, sớm đã quên đi hết thảy những bụi trần. Chỉ còn một tấm lòng thanh sạch như nước suối, như hương rừng, thành kính dâng lên thánh Mẫu. Cụ đã chờ được đứa con của Mẫu chịu kiếp cơ hành, nâng đỡ dìu dắt trên con đường tu tập. Âu cũng là phúc phần của một đời thanh đồng hầu thánh. Cụ bảo, đến lúc bà ngã ra trước cửa đền, bóng áo xanh nâng dậy, bông hoa ba mươi sáu cánh bay vút lên khoảng không thì Dạ Huyết tắt mùi hương. Loài hoa của rừng thiêng đã làm xong phận sự dẫn đường của nó. Khi cụ mất, hoa Dạ Huyết trút hương cuồn cuộn đến kiệt cùng. Trăng đổ xuống ào ạt như thác lũ. Những cánh hoa rụng bay tơi tả như dòng máu nóng đã đến lúc cạn khô. Bà thấy bóng cụ đồng bay lên cùng với bóng Mẫu vận áo xanh, trên đầu cài hoa đỏ.

Nơi đây đã từng có những người tìm về đền kính lễ. Là những người đang chịu kiếp cơ hành, với những giấc mơ màu xanh. Nhưng Dạ Huyết vẫn lặng thinh. Hương thơm của nó vẫn còn chắt chiu chờ đợi. Họ là con nhà thánh, đã được chấm lính bắt đồng, nhưng không có duyên với ngôi đền cổ ở thâm sơn cùng cốc.

Lại có cả đoàn người làm ăn phi pháp, xẻ núi chặt rừng buôn bán lâm sản và động vật quý hiếm, nghe tiếng đền Mẫu linh thiêng thì cũng khăn gói lên tìm, những mong sám hối và xin Mẹ Rừng che chở. Bà nhìn họ lắc đầu. Tâm đầy phàm tục tham lam, máu chảy trong tim màu đen chứ không còn màu đỏ. Mâm cao cỗ đầy làm chi, thánh đâu có cần mấy thứ lễ vật xa hoa như thế. Bà không nói nhiều, chỉ dặn họ đừng làm thêm việc ác, những mong hóa giải được phần nào. Bà nhìn thấy khuôn mặt họ tối sầm, cái kết đang cận kề với họ.

Thế mà lúc họ trở về, xe qua đèo, đã rơi ngay xuống vực. Trong ngôi đền cổ trên núi cao, bà đồng thấy những linh hồn thoát xác. Âu cũng là nghiệp báo, chẳng thể nào tránh khỏi. Nếu không muốn nghiệp thì cớ sao lại gieo nhân ác. Có ăn năn sám hối thì cũng đã muộn rồi.

Từ khi có đoàn người bỏ mạng nơi đèo sâu, người ta gọi nơi đó là đèo ma ám. Những linh hồn tội lỗi không thể siêu thoát, cứ lẩn quẩn ở trần gian. Không còn ai dám đi qua đó để lên ngôi đền cổ nữa. Đền Mẫu trên đỉnh núi sương mờ chỉ còn lại trong câu chuyện của những người ở chốn Mán chốn Mường, như một truyền thuyết nửa thực nửa mơ. Cả bà đồng tóc trắng cứ đến rằm tháng bảy lại nấu cháo lá đa rắc xuống đèo cũng trở thành một người đàn bà bí ẩn.

Nhưng bà vẫn không thôi chờ đợi. Về một đứa con có duyên với cửa đền. Ngày nào bà cũng tưới nước cho hoa. Nước được lấy từ đầu con suối, tinh khiết và thanh sạch. Bà thấy bóng Cô Chín Suối đang soi gương nước tươi cười, thấy bóng Cô Đôi Thượng Ngàn đang mắc võng trên những tán cây ngân nga ca hát.

Đứng trên ngàn rừng xanh bát ngát

Thấy cô về ngỡ Phật quan âm

Tay đàn miệng hát ca ngâm

Điểm đa điểm đót tiếng trầm nhặt khoan (1)

Bữa nay bà đồng thấy ruột gan như lửa đốt. Khăn áo chỉnh tề, bà thỉnh chuông cúi lạy trước ban thờ. Mẫu Thượng Ngàn ngự trên đài cao, hiền từ và bao dung. Bên cạnh là ban công đồng lục vị tôn quan, tứ phủ thánh chầu, tứ phủ thánh hoàng, tứ phủ thánh cô, tứ phủ thánh cậu. Hạ ban có ngũ hổ đại tướng thanh xà, bạch xà, các quan thủ ấn, thủ dấu, thủ đền, thủ điện binh. Bà thành kính lạy các ngài xin đài. Đồng tiền âm dương sấp ngửa trên cái đĩa cổ vân xanh. Bà như mở cờ trong bụng, khuôn mặt giãn ra. Vết sẹo trên má nom như một đóa hoa. Bà cúi rạp đất cảm tạ các thánh. Rồi ngồi nhìn đồng tiền âm dương trước mắt. Thời đã tới. Từng con đường sáng rõ mồn một. Nhân duyên, tương phùng, tu tập, hiếu đạo vẹn tròn. Nước mắt bà lặng lẽ chảy xuống. Bà chợt thấy vị mặn của muối, hương của biển cả đằm sâu. Những cơn bão biển nổi lên trong lòng bà giây lát rồi thoáng qua như một cánh Dạ Huyết hoa bay vào thinh không. Bà bấm đốt ngón tay rồi lẩm nhẩm. Đôi mắt bà khép lại mơ màng. Nhưng đôi môi còn như phảng phất một nụ cười thời son trẻ.

Ngoài kia, Dạ Huyết bắt đầu trổ hương.

6.

Tôi thấy người con gái áo xanh trong giấc mơ. Nhưng mái tóc nàng trắng như cánh đồng muối nơi biển cả. Tôi thấy cha, vẫn đứng ở mũi thuyền nhìn những tấm lưới rách. Lưới vủn nát thành những hạt muối. Mắt cha kết đọng lại thành hai hạt muối lớn. Rồi mắt tôi nhòa đi, chỉ còn lại một vùng sáng nhức nhối. Muối ở đâu lạo xạo trong mắt, nóng ran, buốt nhói, xót lặng. Tôi hét lên rồi mở bừng đôi mắt. Tôi đang nằm trên giường, trong một căn phòng nhỏ đơn sơ. Giật mình thấy một người đàn bà tóc trắng xõa dài. Trên má trái có một vết sẹo. Bà mặc áo xanh, như người con gái tôi đã gặp trong giấc mơ đưa tôi thoát khỏi ba mươi sáu cửa rừng. Tôi nhìn bà hoài nghi. Nhưng lòng thì bỗng rưng rưng muốn khóc. Bà yên lặng. Chúng tôi cùng nhìn nhau. Thời gian như chết giấc.

Vụt qua trước mắt tôi là tấm lưng áo của mẹ thấm mồ hôi mặn chát, là đôi tay miệt mài vá những tấm lưới rách, là những dấu chân còn nóng hổi in trên cát lạnh, là những mầm non đang âm thầm nhú lên từ những dấu chân người. Chỉ có khuôn mặt chập chờn giữa một vùng sáng tối, bên này là biển, bên kia là rừng. Chợt khuôn mặt của rừng nở bừng một đóa hoa lộng lẫy. Tôi choàng tỉnh. Ảo ảnh vụt qua. Nước mắt chảy dài trên má người đàn bà. Tôi mơ hồ đưa tay vuốt vào vết sẹo đang nhòe nhoẹt nước. Như một luồng điện chạy dọc thân thể, dòng máu nóng trong tôi đột ngột căng tràn. Khỏe khoắn, mạnh mẽ, tôi như được hồi sinh. Người đàn bà ôm tôi vào lòng, gọi, con ơi, nức nở. Tôi bàng hoàng và run rẩy trước cái ôm của mẹ. Lẽ nào… Đúng là hơi ấm của mẹ. Mấy chục năm rồi mà như mới hôm qua.

Mẹ bảo ngày mão đầu tháng hai là tiệc Mẫu. Lâu rồi, những người dưới xuôi sợ cái đèo ma ám nên ít có khách vãng lai. Chỉ có những người dân bản địa, sống cheo leo giữa núi thẳm non cao vẫn thường lui tới. Họ đến từ những tộc người khác nhau, ngôn ngữ khác, văn hóa khác nhưng đều nhất tâm hướng Mẫu. Vì Mẹ Rừng che chở cho họ, qua ngàn đời, Mẹ Rừng bao dung, nuôi sống rồi lại đón thân xác họ về miền rừng xanh thẳm, để linh hồn phiêu du qua ba mươi sáu cửa rừng, thảnh thơi nghe chim kêu vượn hú. Tôi đã gặp những người con của rừng trong những bộ áo thổ cẩm thêu hoa, với tiếng nói như suối chảy róc rách, những thanh âm của lá, của gió, của mưa giông cuộn xoáy giữa rừng già. Mẹ bảo, Mẫu đã dạy họ tiếng nói ấy, là thứ ngôn ngữ của rừng thiêng. Cũng như những tiếng chim kêu vượn hót nỉ non, tất cả đều là do Mẫu dạy. Tôi nhớ lại những chú chim làm tổ trên đầu tôi trong ba mươi sáu cửa rừng. Tôi đã nghe được tiếng chim chỉ dẫn tôi trong giấc mơ kì diệu. Bóng áo xanh dẫn tôi qua điệp trùng đá núi, là bóng Mẫu hay là bóng mẹ? Tôi không biết. Sự diệu huyền linh thiêng trùm phủ khắp miền rừng. Tôi thấp thỏm chờ đến ngày tiệc Mẫu.

7.

Có người Mán nói rằng người Kinh đang làm lại đường đèo để cho ô tô đi lên đền Mẫu. Sẽ không còn đèo ma ám nữa. Người ta thuê hẳn pháp sư về trấn vong. Con đường lên đền Mẫu sẽ không phải trèo đèo lội suối, không phải qua ba mươi sáu cửa rừng mê lộ mà người ta sẽ dựng cáp treo để chỉ cần ngồi một lát là đã lên tới cửa đền. Ngôi đền cổ sẽ trở thành khu du lịch tâm linh cho khách thập phương.

Mẹ tôi lặng người đi. Nét mặt sa sầm. Vết sẹo trên khuôn mặt tái dại. Mẹ bấm đốt ngón tay, cắn môi bật máu.

Một lúc, mẹ lắc đầu thở dài. Gieo nghiệp nặng ắt gặp báo ứng. Lòng tham khởi nguồn cho mọi tội lỗi. Mẫu có bao giờ cần lễ vật cao sang.

Nhưng rồi tôi cũng mau quên đi câu chuyện họ xẻ núi chặt rừng làm đường lên đền Mẫu.

Đúng ngày mão đầu tháng hai, tiệc Mẫu.

Những người dân chốn non cao đều ăn vận thổ cẩm xanh, chít mũ xanh thành tâm dâng lễ lên Thánh Mẫu. Chẳng phải mâm cao cỗ đầy gì, những đứa con dâng Mẫu hoa thơm trái ngọt của chốn rừng thanh sạch.

Ngôi đền cổ như bừng sáng. Những rêu phong ánh lên sắc xanh lộng lẫy của vĩnh hằng.

Tất cả ngồi nghiêm trang trước ban thờ. Mẹ bảo, tiệc Mẫu sẽ hầu đủ ba mươi sáu giá. Tôi làm hầu dâng cho mẹ. Người cung văn già dân tộc Thổ có cây đàn nguyệt cổ đã hơn một trăm năm. Cứ tiệc Mẫu lại đi mấy ngày đường khăn gói về đây, đàn hát cho mẹ tôi hầu bóng. Cụ đã ngoài tám mươi mà chưa có người nối nghiệp, cụ bảo, không biết Mẫu còn cho hầu đàn hát được mấy năm. Cụ muốn dạy lại cho tôi. Từ xưa tới giờ, tôi chẳng biết gì đàn hát, thế mà sau khi nghe cụ ca vài điệu, cầm cây đàn trên tay, tôi cứ rưng rưng. Tôi mơ hồ gảy phím đàn, mường tượng ra những tiếng chim rồi cất lời ca như lời của muôn ngàn cây lá.

Trên ngàn gió cuốn rung cây

Dưới khe cá lặn chim bay về ngàn

Canh khuya nguyệt lặn sao tàn

Chiếc thoi bán nguyệt khoan khoan chèo vào

Gập ghềnh quán thấp lầu cao

Khi ra núi đỏ lúc vào ngàn xanh (2)

Người cung văn già vỗ đùi đánh đét. Tốt rồi, tốt rồi. Cụ nở nụ cười, phô ra hàm răng đen đã rụng mất vài cái. Những nếp nhăn trập trùng như những suối, những khe chợt giãn ra, phẳng lặng.

Mẹ mở tấm vải phủ giá gương trên bàn loan. Tôi thoáng thấy trong bóng gương, chập chờn những giấc mơ màu xanh, của tôi và của mẹ. Tôi ngước nhìn ban công đồng lộng lẫy, Mẫu uy nghi ngồi giữa các vị tôn quan, các thánh cô, thánh cậu. Mẹ thành kính cầm tấm khăn bản mệnh, tấm khăn điều theo mẹ đi suốt cuộc đời. Tôi và những thanh đồng khác, ai cũng có tấm khăn như thế. Người ta bảo “sạch sành sanh mới được manh áo đỏ”. Chúng tôi nâng niu, giữ gìn, trân quý tấm khăn gói ghém linh hồn mình. Mẹ trùm tấm khăn bản mệnh lên đầu, hai tay chắp nén nhang, người lắc lư say, linh hồn như trôi về cõi khác.

Người cung văn già tấu lên bản đàn, ca lời mời thánh về đồng. Bóng tam tòa Thánh Mẫu về xe giá, tôi đưa mẹ một nắm hương sống. Tấm khăn phủ diện vẫn trên đầu. Qua giá Mẫu, giá các Chúa, các tôn quan, Chầu Bà và thánh hoàng là đến giá tứ phủ Thánh cô. Mẹ tung khăn hồi dương ngự đồng. Bóng Cô Đôi Thượng Ngàn về giá, tôi reo lên, mau chóng sửa soạn điểm trang, thay khăn áo xanh, cài hoa đỏ cho Người. Vết sẹo trên má mẹ thành một đóa hoa rực rỡ. Gian thờ ngào ngạt hương thơm. Bóng Cô Đôi giáng về trong thân xác mẹ lộng lẫy kiêu sa, tôi và mọi người cùng thốt lên, cô đẹp quá! Bóng cô lễ trước ban thờ. Tôi châm mồi đưa Người sáu cây nến nhỏ. Đôi tay Người mềm dẻo uốn lượn, những mắt lửa lấp lánh trên từng ngón tay tiên. Một vầng hào quang rực rỡ bung tỏa trước mắt tôi. Nguồn ánh sáng vô tận, vĩnh hằng và chở che. Tôi thấy lòng náo nức, ngất ngư xoay theo nhịp múa của từng bước chân bóng cô uyển chuyển rộn ràng. Người cung văn mắt nhắm mơ màng, đôi tay thoăn thoắt chạy trên từng phím đàn, từng dòng âm thanh ào ạt như thác đổ.

Hiệu cô là công chúa Sơn tinh

Mặt tròn vành nguyệt má in phấn hồng

Da cô trắng tựa tuyết đông

Tóc dà dà biếc lưng ong dịu dàng

Chân cô đưa nhởn đưa nhang

Bước nào bước ấy tiên nàng nguyệt nga (1)

Cứ thế, chúng tôi đi trọn một ngày qua ba mươi sáu giá đồng đến khi người cung văn tấu lên lần cuối “xe loan thánh giá hồi cung. Mẹ nhảy múa, ca hát, khóc cười, như mê như say. Nhà thánh ban phát cho mẹ một nguồn năng lượng diệu kỳ mà tôi chưa bao giờ được thấy.

Ba ngày sau tiệc Mẫu, mẹ đột nhiên trở bệnh. Tháng hai trời lạnh sắt se nhưng mẹ vẫn chỉ mặc độc chiếc áo xanh. Mẹ bảo, đã hoàn thành việc lớn của đời mình rồi, giờ về với Mẫu thì không còn điều gì hối tiếc.

Đêm đó, mẹ ra đi nhẹ nhàng. Tôi cầm chiếc đàn nguyệt mà người cung văn già để lại, gảy điệu lâm khốc cho mẹ nghe. Trăng nhạt nhòa trên đỉnh núi mờ sương, Dạ Huyết trổ hương nhức nhối. Tôi thấy bóng mẹ bay theo bóng Mẫu, những bóng áo xanh dập dờn trên khoảng không xanh biếc rồi mất hút vào vô tận.

Tôi ở lại ngôi đền cổ chờ đến một ngày Dạ Huyết đơm hương.

------

Chú thích:

(1) Hát văn Cô Đôi Thượng Ngàn

(2) Hát văn Đệ Nhị Thượng Ngàn

Truyện ngắn. Nguyệt Chu

0 đã tặng

Mời bạn cho ý kiến, quan điểm...

Gửi
Hủy