Một nhà tư bản

Truyện ngắn. George Gissing (Anh)

Trong số những người đàn ông mà tôi hay bắt gặp họ thường xuyên qua lại trên con phố Mortimer thì có một cá nhân khiến tôi chú ý hơn cả. Anh ta tầm hơn ba mươi tuổi, dáng người cao to, cử chỉ lại dứt khoát. Trên mặt anh ta không hề toát ra một chút gì là cơ hội, lưu manh cả, mà chỉ thường trực hiện hữu cái vẻ thông thái khác người. Cứ nhìn vào những bộ quần áo mà anh ta mặc thì rõ ràng đây là một con người có tiền và rất biết cách tiêu tiền.

Nhờ đi hỏi loanh quanh mà tôi biết được anh ta tên là Ireton. Anh ta lui tới phố Mortimer để tìm mua tranh. Điểm đáng chú ý duy nhất còn lại là anh ta có một bà vợ rất giàu có. Sáu tháng sau thì lần đầu tiên tôi mới nhìn thấy vợ người đàn ông ấy. Cô ta đang là tâm điểm của một vụ li dị đình đám ở thành phố.

Lúc đó thì tôi cũng đã làm quen được với Ireton ở một quán rượu. Đây là một người đàn ông đáng được tôn trọng, khác với lời xì xào bàn tán của người đời. Tôi cảm giác rằng, Ireton có một vẻ đẹp nội tâm hiếm có. Trái với cử chỉ dứt khoát, anh ta lúc nào cũng tỏ vẻ ngượng ngùng trong giao tiếp. Ireton có thói quen vừa nói vừa day day bộ ria mép của mình hoặc là đảo mắt liên tục. Anh bạn mới của tôi không mang dáng dấp của một người vốn sinh ra trong nhung lụa. Số tài sản của Ireton hoàn toàn là do tự tay anh làm nên.

Danh tiếng của Ireton may mắn là không chịu ảnh hưởng gì bởi phiên tòa cả. Vợ chồng anh ta sống với nhau như chó với mèo trong suốt ba năm. Cô vợ đưa Ireton ra tòa với tố cáo rằng chồng mình có tận mấy cô bồ; hay là anh ta từng nhiều lần ném cốc vào người cô ta.

Cuối cùng, tất cả những lời buộc tội đó đều bị bác bỏ. Ireton thong dong bước ra khỏi tòa, còn vợ của anh thì xấu hổ cúi đầu đi qua cửa sau mà chuồn thẳng. Thế nhưng từ đó Ireton cũng không lui tới phố Mortimer nữa. Có tin đồn rằng anh ta đã chuyển đến sống tại Paris hay là London, nhưng rồi người ta cũng dần quên đi Ireton.

Ba năm sau. Nhân mùa thu đến, tôi đi nghỉ tại một ngôi làng có tên New Forest. Trong khi đang tản bộ trên đường làng thì tôi nhìn thấy một người đàn ông quỳ sau hàng dậu để xem xét một thứ hoa cỏ nào đấy dưới chân. Bộ quần áo của anh ta hoàn toàn không giống như những gì người làng thường mặc cả.

Tiếng bước chân của tôi làm người đàn ông giật mình. Anh ta vội quay lại, và tôi nhận ra người bạn cũ của mình. Ireton mỉm cười ngượng nghịu. Sau khi hỏi thăm nhau, Ireton nói với tôi:

“Anh có nhận ra loài hoa này không?”

Tôi ngẫm nghĩ một lúc nhưng không thể nặn ra một cái tên trong đầu.

“Anh thật sự không biết à… Tôi thì cũng như thế. – Ireton cười trừ – Nhưng tôi đã nhìn thấy loài này trong một cuốn sách về bách thảo của mình!”

Anh ta cẩn thận nhổ cành hoa lên, rồi cho vào cái túi đã chứa đầy những loài cây cỏ khác. Trong khi đó thì tôi ngắm nhìn Ireton vì tò mò. Có lẽ từ trước đến nay tôi mới chỉ nhìn thấy một mặt của con người này. Khi ở giữa thiên nhiên thì anh mới tỏ ra sự thích thú trẻ thơ của mình chăng!

Nhưng tôi cũng nghĩ đến một khả năng khác. Liệu có phải người vợ cũ đã khiến Ireton chán ngán cuộc sống thành phố rồi lui về ẩn dật tại New Forrest?! Nếu đúng như thế thì anh ta còn thú vị hơn cả tôi nghĩ.

“Thế anh ở tại đâu?” – Ireton vẫn giữ được thói quen đảo mắt liên tục trong khi nói. Tôi bèn chỉ tay về phía cuối làng, nơi mà một người họ hàng của mình đang sống.

Chúng tôi sau đó bắt đầu nói chuyện sôi nổi với nhau. Ireton mất hết vẻ rụt rè mà nhiệt tình bàn luận về những quyển sách mới; những buổi triển lãm; những cái tên mới nổi trong làng nghệ thuật. Anh ta thú nhận rằng mình mới đến trú tại một nhà trọ trong làng được hơn tuần, và đang tính đến chuyện rời đi. Tôi mời Ireton đến ở tại nhà người họ hàng của mình, nhưng cũng hỏi vì sao anh lại dừng chân lại ngôi làng nhỏ này.

“Tôi thích những vùng nông thôn như thế này – Ireton chân thành đáp – Lúc nào cũng có bùn trên đường, và thức ăn thì thật tệ, nhưng mỗi lần đến thăm thì tôi lại cảm thấy hào hứng hẳn lên!”

Tôi bắt đầu tự hỏi liệu người bạn của mình đã trở nên nghèo túng. Hay là vụ ly dị đã làm cho Ireton trở nên khánh kiệt, nhưng cũng nhờ thế mà anh trở nên quý trọng hơn những điều giản đơn trong cuộc sống. Cứ nhìn cách anh ta tỏ ra hứng thú trước cây cỏ thì có thể là như vậy lắm chứ.

***

Sáng sớm hôm sau, Ireton xách hành lý đến gõ cửa nhà người họ hàng của tôi. Chúng tôi luôn trò chuyện với nhau trong mấy ngày sau đó, và tôi có cơ hội được thấy sự thay đổi trong tính cách của anh. Anh ăn nói thẳng thắn, nhưng không bao giờ lộ ra những điều về mình như hiện nay đang làm nghề gì chẳng hạn. Ireton coi tôi như là một người bạn để bàn thảo về học thuật. Có vẻ như anh đã dành nhiều thời gian ở nước ngoài trong vòng ba năm qua để học tập. Anh tỏ ra biết rất rõ về hội họa và các họa sĩ Pháp. Tuy vậy, với một con người 44 tuổi này, việc học tập của anh không biết là có ích lợi gì không.

Nhiều lần tôi nhìn thấy Ireton tỏ ra vui mừng như một đứa trẻ khi tìm thấy một giống hoa cỏ kỳ lạ. Điều này thật là lạ lùng. Ba năm trước, anh ta không hề tỏ ra có một chút hào hứng gì với thiên nhiên cả, trừ khi anh chủ tâm giấu giếm sự yêu thích của mình với tôi. Lúc này đây, Ireton giống như một người đứng bên ngoài ngắm nhìn và trầm trồ trước vẻ đẹp của cuộc sống.

Cuối cùng thì tôi đánh liều hỏi Ireton:

“Gần đây anh có qua lại phố Mortimer không?”

“Không!” – Ireton trả lời ngay – “Tôi chưa đi trên con đường đó đã ba năm nay rồi!”

***

Buổi tối hôm đó, vì mải nói chuyện mà chúng tôi đi lạc vào một mảnh rừng được quây lại để săn bắn. Trong khi lò dò giữa những hàng cây thì chúng tôi chạm mặt ông chủ của khu rừng. Đó là một người có cái nhìn nghiêm nghị, khô khốc:

“Thưa các ông, tôi phải mời các ông ra khỏi khu đất riêng của mình!”

Ireton đứng thẳng lên, hơi kiễng chân để có thể đặt tầm mắt mình ngang hàng với ông chủ rừng:

“Chúng tôi không phải là những kẻ săn trộm!” – Ireton nói với một sự tự tin làm tôi ngạc nhiên – “Chúng tôi chỉ đang tìm đường cái mà thôi!”

“Thế thì tốt! Các ông chỉ cần đi thẳng một đoạn nữa rồi rẽ phải thì sẽ ra đến đường cái!” – Ông chủ rừng lạnh lùng nói rồi quay lưng đi. Tôi quay sang thì thấy khuôn mặt Ireton đột nhiên trắng bệch rồi lại đỏ lên vì cáu giận. Anh đi thẳng mà không nói một lời.

Khi chúng tôi về đến nhà, tôi bèn nói với bạn mình:

“Chắc là ông ta không tin lời anh nên mới ăn nói như thế!”

“Không phải đâu!”. Đến lúc này tay Ireton vẫn còn run lên vì tức giận. Tôi tập trung ngắm nhìn người bạn rồi tự hỏi, không biết vì sao anh ấy lại giận dữ như thế. Không nói một lời, chúng tôi đồng ý tắt đèn đi ngủ.

Sáng sớm hôm sau Ireton đánh thức tôi dậy với một nụ cười kỳ lạ. Anh với lấy cái ghế để ngồi bên giường tôi rồi nói:

“Tôi phải biết mọi thứ về ông già chủ khu rừng hôm qua!”

Tò mò, tôi giả bộ mình cũng khó chịu như anh:

“Vậy rốt cuộc ông ta là ai?!”

“Một vị quý tộc nghèo, trong tay chỉ còn một vài mảnh đất. Cha ông ta đã nướng hết tài sản của mình vào bài bạc. Tôi biết tên ông ta… Nếu tối hôm qua tôi đưa ông ta cái card của mình thì chắc hẳn ông ta đã không nói với chúng ta với cái giọng như thế!”

“Chắc là sự nghèo túng đã khiến ông ta trở nên cáu bẳn!”

“Chắc là như thế. Chiều nay tôi sẽ đến gặp ông ta? Không ai lại có thể coi tôi như một tên trộm vặt được cả!”

“Để yêu cầu một lời xin lỗi ư?”

“Không cần đến thế đâu. Ông ta có vài người con gái chưa chồng!”

Tôi hơi ngạc nhiên về sự nhỏ mọn của bạn mình, nhưng quyết định sẽ tiếp tục theo dõi anh.

Qua Ireton mà tôi biết được rằng vị quý tộc tên là Humphrey Armitage. Thái độ của ông ta tối hôm qua với chúng tôi thì không có gì lạ cả. Đúng ra thì chúng tôi phải xin lỗi ông ta mới đúng. Tôi không nghĩ rằng Ireton sẽ nhận được bất kỳ thứ gì từ ông ấy chiều nay.

Trước khi đi thăm nhà quý tộc, Ireton đi đến bưu điện để đánh một bức điện. Anh ta ăn mặc toàn những thứ đồ sành điệu nhất từ đầu đến chân. Nhưng đến bảy giờ tối hôm đó, anh ta quay lại gặp tôi trong bộ quần áo thường ngày.

“Chúng ta cùng đi làm vài vại bia nào. Tối ngày mai tôi phải dùng bữa với nhà Armitage! – Ireton nói với vẻ tự mãn – Ông già đón tôi một cách niềm nở. Tôi dành cả buổi chiều uống trà với ông ta và mấy người con gái!”

Tôi không nói lời nào.

“Anh không nghĩ rằng mọi chuyện sẽ ra như thế?” – Ireton đặt câu hỏi với tôi.

“Sáng nay anh nói rằng ông ta sẽ nhận ra anh là ai?” – Tôi tìm cách tránh câu hỏi của Ireton.

“Đúng vậy! Gần đây thông qua mua giới mà tôi mua một bức tranh của ông ta với giá rất cao. Tất nhiên là chiều nay ông ta đã nhiều lần xin lỗi cả hai chúng ta!”

Tôi cảm thấy hơi khó chịu, nhưng rồi cũng chấp nhận lời mời của Ireton. Chúng tôi cùng đi đến quán rượu gần đó, rồi chọn một cái bàn trong góc mà ngồi. Cái bàn nhìn thẳng ra sân sau, và ánh nắng chiều tà mon men tới mũi giầy của tôi. Tôi đoán rằng người bạn của mình đang muốn tâm sự một điều gì đó kín đáo, và quả thực thì tôi không nhầm.

“Tôi biết rằng anh không thích những chuyện mà tôi làm hôm nay! – Ireton chủ động vào chuyện – Anh nghĩ tôi là một thằng đáng khinh vì không bỏ qua cho ông cụ. Tôi cũng biết thế chứ!”

Lời nói của Ireton làm tôi mỉm cười.

“Không biết nhà văn có thể viết được một câu chuyện về tôi hay không. – Ireton tỏ ra rất chân thành – Nhưng trước hết thì tôi phải kể lại cuộc đời mình cho anh đã!”

Đến lúc này thì Ireton đã ngà ngà say. Chắc hẳn anh ta phải mượn đến rượu để vượt qua sự rụt rè cố hữu của mình để kể lại những năm tháng đã qua của cuộc đời.

“Từ lúc nhỏ đến năm hai mươi tuổi, tôi làm công trong một nhà kho thuốc. Tôi bây giờ vẫn còn sợ cái mùi hóa chất nên chẳng bao giờ đến bác sĩ cả. Mỗi tuần tôi được cho một bảng Anh, vừa đủ để sống và ăn mặc sao cho nghiêm chỉnh… Nhưng mà tôi không hề cảm thấy sung sướng cả. Tôi luôn là kẻ bị mọi người sai bảo, và tôi ghét thế. Mỗi khi được lệnh làm việc gì thì tôi lại chửi thầm!

Tôi tìm mọi cách để thoát ra khỏi tình cảnh của mình. Bao nhiêu đêm tôi nằm vắt tay trên trán nghĩ ngợi một việc nào đó có thể nuôi sống mình mà không phải ngửa tay đi xin. Tôi tự làm giấy tờ giả. Thậm chí tôi còn đọc báo để tìm tin tức về những vụ lừa đảo rồi học tập theo. Tôi không phải người xấu, nhưng mọi cách làm giàu chính đáng thì tôi đã từng chịu thất bại cả rồi.”

Ireton uống cạn cốc bia rồi kêu bồi bàn lấy thêm một vại khác. Anh ta hỏi tôi:

“Anh có nghe thấy tiếng con chim gì hót không nhỉ?”

“Tôi nghĩ rằng đó là tiếng kêu của một con cú muỗi!”

“Ngồi đây thích thật đấy. Ở Luân Đôn anh không thể nào vừa uống bia vừa nghe tiếng chim hót. Tôi vốn thích những điều đơn giản trong cuộc sống. Nhưng phải đến gần đây đầu óc của tôi mới đủ thông thoáng để thưởng thức những thứ đó. Lúc nào tôi cũng bị ám ảnh bởi ý nghĩ phải tìm cách nhảy lên cổ người khác. Nó làm tôi phát điên.

Một chiều thứ Bảy, tôi đi xem triển lãm trên phố Coventry. Người ta mở cửa miễn phí cho những khách muốn đến mua tranh. Từ trước đến nay tôi luôn luôn ưa thích hội họa. Hồi đó tôi chỉ mơ là mua được một bức tranh phong cảnh thật đẹp, nhưng mà trong túi không bao giờ có nhiều hơn một bảng Anh. Tôi chỉ đến gallery để xem tranh thôi!

Lúc đó thì tôi bắt gặp một bức vẽ về bãi biển tuyệt đẹp của Ewart Merry. Anh biết ông ta chứ. Ông ta mới chỉ mất được có vài năm thôi, và bây giờ thì bất kỳ bức tranh nào được ông ký tên thì đều trở thành món hàng đắt giá. Trong khi tôi đang mải mê ngắm tranh thì có một cặp vợ chồng đến bên cạnh. Một viên môi giới cố gắng mãi để thuyết phục họ mua một bức tranh khác của Ewart, nhưng cuối cùng cũng bị từ chối. Chắc hẳn vì thế mà hắn ta mới nổi cáu. Sau khi cặp vợ chồng đi chỗ khác, tôi mới đánh bạo đến gần viên môi giới để hỏi về giá của bức tranh bãi biển. Hắn ta chỉ khinh khỉnh nhìn tôi rồi buông thõng một câu: ‘Anh có làm cả đời cũng không mua được bức này!’.

Anh phải biết rằng lúc đấy tôi đang diện bộ cánh đẹp nhất của mình. Trông tôi không một chút gì giống với kẻ làm công ăn lương tại một nhà thuốc cả. Thế mà viên môi giới giáng cho tôi một đòn trời giáng. Tôi chết đứng một chỗ, tim đập loạn lên, rồi hai mắt nhìn thấy toàn màu đỏ. Bây giờ nghĩ lại chuyện đấy tôi vẫn có có cảm giác như thế!”

Quả đúng là khuôn mặt Ireton đã trở nên đỏ quạch, nhưng tôi không rõ là vì giận hay vì bia nữa.

“Sau khi nói xong câu đó thì viên môi giới bỏ đi, còn tôi thì rời khỏi buổi triển lãm. Tôi cũng đã quen với việc tự kiềm chế mình rồi. Nhưng không biết vì sao hôm đó bị quỷ thần sai khiến gì mà tôi quay trở lại phía trong để đi tìm viên môi giới. Tôi hỏi anh ta: ‘Thế anh ở đây để bán tranh hay là xúc phạm người khác? Tôi đã lịch sự hỏi anh về giá của bức tranh, và bây giờ thì anh cũng phải lịch sự trả lời tôi’.

Cuộc đời tôi bước sang trang khác vào thời điểm đó. Nếu tôi chỉ đơn giản chửi bới anh ta thì không có gì lạ. Nhưng tự mình đứng lên thể hiện quyền hạn của bản thân thì là một chuyện hoàn toàn khác. Đến cả viên môi giới cũng ngạc nhiên nữa. Phải một lúc sau anh ta mới nói được là bức tranh đáng giá ba trăm bảng Anh.

‘Tôi sẽ lấy nó! Anh hãy ghi lấy tên và địa chỉ của tôi!’

‘Vậy thì anh sẽ trả tiền ngay hay là trả dần?’

‘Trả một lần!’ – Tôi trả lời mà không hề suy nghĩ ‘Tôi sẽ lấy tranh vào thứ Hai!’

Tôi đi cùng viên môi giới đến bàn tiếp tân để ghi tên mình vào một cuốn sổ. Làm xong việc đó, tôi quay sang hắn ta để nói với một giọng thật cau có:

‘Nếu anh không chuyển bức tranh đến nhà tôi vào lúc đúng một giờ chiều thứ Hai, thì tôi sẽ không trả một xu nào cho nó!’ – Nói xong thì tôi bèn đi thẳng ra ngoài. Tôi đi mà không biết mình bước trên con phố nào nữa. Trong lòng tôi chỉ có nghĩ đến cái chiến thắng vừa rồi đối với viên môi giới kia. Tôi đã làm hắn câm miệng và nghĩ rằng mình đã phạm phải một sai lầm. Cứ tưởng tượng ra vẻ mặt của hắn khi biết trong túi tôi không có một đồng thì tôi lại muốn bật cười. Nếu tôi chỉ đấm vào mặt hắn một quả thì không thể nào tự đắc được như thế!”

Mặt trời đã lặn từ lâu, và quán bar đã bắt đầu sáng đèn. Trong cái nhập nhoạng của ánh nến, tôi vẫn có thể thấy rõ nụ cười méo xệch của Ireton. Anh ta thao thao với một vẻ tự hào hiếm thấy:

“Chắc anh cũng nghĩ là tôi lúc đó ngu ngốc lắm. Làm cách nào mà tôi lại có tiền để mua một bức tranh ba trăm bảng chứ? Anh nghe này, hồi đó tôi có một anh bạn làm cùng chỗ nhà kho. Anh ta lấy của bọn cho vay nặng lãi hai mươi bảng, rồi từ đó cứ đến ngày thứ Bảy thì lại trả lãi cho chúng. Tôi cũng có thể làm như anh ta!

Thế là tôi tìm đến Crowfather sống tại phố Dean. Có thể anh không biết, nhưng anh ta là tay cho vay có máu mặt nhất trong thành phố. Crowfather lấy chính nhà mình làm nơi kinh doanh. Tôi đến thì gặp anh ta đang ngồi ngoài hiên nhà hút thuốc. Cả hai chúng tôi vào trong phòng khách để bàn chuyện. Hóa ra Crowfather cũng chỉ tầm tuổi tôi thôi, mà trông mặt mũi rồi cách ăn mặc cũng bảnh bao ra phết!

Trước khi bàn chuyện cho vay, Crowfather mời khách một cốc rượu, rồi thủ thỉ hỏi xem vì sao tôi cần tiền. Ban đầu thì tôi cũng định im miệng, nhưng hơi rượu bốc lên đầu khiến tôi tuôn ra hết mọi chuyện. Crowfather ngớ ra một lúc rồi lại vỗ đùi phá lên cười. Anh ta hỏi:

‘Thế sao anh không nói luôn là có vật quý trong tay? Anh cứ gọi tôi qua nhà lúc nhận bức tranh, rồi chúng ta sẽ bàn tiếp công chuyện!’

Tôi sợ là Crowfather sẽ nói chuyện trực tiếp với viên môi giới, nhưng anh ta thề rằng sẽ không hé răng một chữ nào. Sau khi về nhà, tôi nằm vật ra. Cả ngày Chủ nhật tôi chỉ nằm trên giường nghĩ ngợi, vừa tự đắc vì đã dạy cho viên môi giới kiêu ngạo một bài học, vừa lo lắng về những ý định của Crowfather.

Đúng như đã hẹn, bức tranh được chuyển đến nhà trọ của tôi vào buổi chiều thứ Hai. Sau khi xem xét thật kỹ bức tranh, Crowfather mới rỉ tai tôi:

‘Anh hãy bán cho tôi bức này với giá một trăm năm mươi bảng Anh!’

‘Bán cho anh ư? Để làm gì cơ?’

‘Anh hãy bán cho tôi, rồi tôi sẽ cho anh vay ba trăm bảng. Một trăm năm mươi bảng còn lại thì anh chỉ cần trả hết cho tôi trong vòng một năm.’

Không thể nghĩ ra cách giải quyết nào thỏa đáng hơn, tôi chấp nhận lời đề nghị của Crowfather. Tay tôi run tới mức ký không ra chữ vào bản hợp đồng được anh ta đưa ra. Sau đó chúng tôi cùng đi đến văn phòng của viên môi giới để trả tiền cho bức tranh, rồi lại còn đi uống bia nữa. Trước khi chúng tôi chia tay nhau, Crowfather còn hẹn tôi đến văn phòng của anh ta vào buổi sáng hôm sau. Tôi đi về nhà với tâm trạng thật thảnh thơi. Tôi không còn tiếc gì bức tranh nữa, miễn là mỗi khi chạm mặt viên môi giới kia, hắn ta sẽ phải tỏ ra kính trọng tôi!”

Ireton bật cười, còn tôi thì lặng thinh. Hai chúng tôi ngồi nghe tiếng người làng nói chuyện, cười đùa, la hét xung quanh mình. Một lúc sau, Ireton mới chậm rãi nói tiếp:

“Đấy, tôi đã kể xong phần quan trọng nhất của câu chuyện đời mình. Còn sau đó thì cũng chẳng có gì đáng nói cả!”

“Nhưng mà làm sao anh lại trả được món nợ với Crowfather chứ? Rồi còn cái cách anh trở nên giàu có?”

“À, chuyện đó thì… Tôi đánh bạn với Crowfather. Anh ta cũng là người dễ chịu. Ngoài việc cho vay nặng lãi ra, Crowfather còn điều hành một công ty nhỏ chuyên nhận hàng của các hãng lớn, rồi cử người đi gặp khách hàng trực tiếp để bán. Nhờ thế mà chỉ trong vài năm anh ta đã trở nên giàu có, rồi lại còn đủ tiền để mua lại một vũ trường ở ngay Soho. Crowfather thật thà chỉ cho tôi mọi mánh làm ăn của anh ta. Tôi đoán rằng anh ta thích tôi vì tôi là người có học hành, khác với những loại mà anh ta làm ăn hằng ngày. Cũng gần giống như cách tôi nghĩ về anh vậy!
Mà kể ra Crowfather cũng là một người kỳ lạ. Anh ta ưa làm từ thiện, nhưng lại sẵn sàng lấy đi đến đồng cuối cùng trong nhà con nợ của mình. Tất cả mọi chuyện anh ta làm đều là hợp pháp hết, nhưng đến cả cảnh sát cũng phải gờm. Đấy là còn chưa nói đến tính mê tín nữa. Anh ta lúc nào cũng phải xem xét đủ thứ trước khi mạo hiểm việc gì. Có lần tôi nhìn thấy anh ta đứng ở góc đường để đếm số ngựa chạy qua con phố đó. Nếu số ngựa lẻ, thì anh ta có thể sẽ đi đánh cược hay cho ai đó vay. Nhưng mà số ngựa mà chẵn thì anh ta không làm gì cả. Còn khi mỗi lần đánh bài thì xa gần gì anh ta cũng phải tìm cho bằng được một kẻ ăn mày để bố thí… Mê tín như thế nhưng rốt cuộc mọi thứ cũng chẳng thể cứu được anh ta. Cách đây mười hai năm, anh ta bị xe đâm chết. Phải vài năm sau tôi biết tin.

Dù gì thì tôi cũng phải cảm ơn công lao chỉ dạy của Crowfather. Nhờ anh ta mà tôi mới có được như ngày hôm nay. Tôi bỏ công việc chết đói của mình ở nhà kho thuốc. Tôi quyết chí làm giàu từ con số không!

Trong vài năm đầu, tôi làm việc cho Crowfather. Cũng chẳng phải việc hay ho gì nên tôi không tiện nói ra ở đây. Anh chỉ cần biết rằng tôi kiếm được hai, ba lần hơn trước, còn được học hỏi kinh nghiệm từ Crowfather nữa. Rồi sau đó mẹ tôi đột nhiên ốm bệnh và qua đời. Bà có để lại cho tôi một căn nhà tại Notting Hill, cho thuê thì cũng được năm mươi bảng một năm. Tôi nói chuyện của mình với Crowfather, và anh ta khuyên tôi đừng nên bán nó đi mà hãy để lại để kiếm tiềm. Vừa lúc đó thì Crowfather và vài người bạn cũng có ý định mở một vũ trường mới, thế là tôi cho họ lấy căn nhà của mình để làm địa điểm, còn mình thì trở thành cổ đông góp vốn. Chẳng giấu gì anh, đấy chính là vũ trường Marlborough đấy!”

Cái tên Marlborough thì ở thành phố ai cũng biết. Nó là nơi những đứa thanh niên giàu có hằng đêm lũ lượt kéo nhau đến để đốt tiền.

“Đúng là tôi may mắn thật, nhưng bản thân tôi cũng có tài kiếm ra tiền nữa. Nhờ vào Crowfather mà tôi mới biết mình có cái tài đó. Tôi làm tất cả mọi việc để kiếm tiền nhằm thoát khỏi cái cảnh nghèo của mình. Chắc ít người lại có quyết tâm làm giàu như tôi. Anh cứ thử liệt kê tất cả những việc mà tôi đã làm thì chắc chắn phải viết đầy một cuốn sổ nhỏ!

Đến năm hai mươi tám tuổi thì tôi bán đi căn nhà của mẹ mình cho các cổ đông khác với giá chín mươi nghìn bảng. Lúc đó thì mọi người trong giới thượng lưu hay lui tới Marlborough cũng biết đến tên tôi rồi. Điều duy nhất mà tôi phải làm là lấy một cô vợ giàu, thế là a-lê-hấp, đi đâu ai cũng phải kính trọng tôi!”

Tôi dường như bỗng nghe thấy tiếng thở dài của Ireton.

“Những chuyện sau đó thì anh cũng đã chứng kiến rồi đấy. Tôi thề rằng mình sẽ không bao giờ lấy một cô vợ giàu có nữa. Mà tôi cũng chẳng còn quan tâm đến chuyện người khác phải cúi đầu trước mặt mình nữa. Phù du cả thôi… Bạn bè tôi có nhiều người tốt mà nghèo túng. Tôi thì lần này lần nọ giúp đỡ họ. Tôi đi tìm tranh của những họa sĩ thật nghèo để mà mua. Bây giờ tôi lại thích đi đây đi đó ngắm hoa cỏ, và khi mệt thì ngồi nghỉ hút thuốc rồi nói chuyện với người ở đó. Ông cụ Armitage quả là một người được giáo dục tử tế. Ông ta cứ nói suốt về những vị tổ tiên của mình. Còn con gái ông ta thì cô nào cũng xinh xắn, ăn nói dịu dàng. Đấy là những thứ mà dù anh có rất nhiều tiền cũng không thể nào mua được. Bây giờ tôi lại mừng vì đã gặp ông ta lúc tối qua!”

Chúng tôi loạng choạng bước ra khỏi cửa quán rượu. Tôi ngẩng đầu nhìn lên thì thấy bầu trời đầy sao. Ở thành phố, nơi mà lúc nào cũng sáng ánh đèn, thật khó để ánh sáng của những ngôi sao chạm đến con người như thế này.

***

Một tuần sau đó, tôi chia tay Ireton, rồi cả hai đều rời ngôi làng New Forrest. Phải đến hơn một năm sau tôi mới lại nhận được thư của Ireton. Thư được gửi đi từ đảo Wight, nơi anh ta đang trú chân. Trong thư Ireton thông báo rằng, mùa xuân tới anh sẽ lấy cô Ethel Armitage, con gái thứ hai của nhà quý tộc Humphrey Armitage, chủ khu rừng mà chúng tôi đã từng gặp.

Dịch giả: Lê Công Vũ