Một số tác phẩm của tác giả Cao Thị Hảo

PHÁC THẢO DIỆN MẠO VĂN XUÔI DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 

  1. Từ một thực tế tiếp nhận

Đầu  thế kỷ XX, cùng với sự hình thành và phát triển của nền văn học quốc ngữ, văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại cũng xuất hiện và dần khẳng định vị trí với sự tham góp của nhiều tác giả ở những dân tộc khác nhau. Văn học dân tộc thiểu số hiện đại là một bộ phận nằm trong dòng chảy của văn học hiện đại Việt Nam. Nó bao gồm các sáng tác của các tác giả người dân tộc thiểu số viết về dân tộc mình và những trăn trở của họ về các vấn đề của đời sống, xã hội. Những sáng tác của họ hầu như chưa được quan tâm hoặc mới dừng lại ở những nghiên cứu khái lược, lẻ tẻ. Chính vì vậy, dường như mảng văn học này “còn nằm bền lề của việc giảng dạy văn học, nằm bên lề của các sách giáo khoa, giáo trình và trong các diễn đàn văn học, có nghĩa là nó còn nằm bên lề cuộc sống văn học Việt Nam hiện đại”(1).

Trong bối cảnh đó, văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại cũng được nghiên cứu rất hạn chế. Phần lớn những nghiên cứu về văn xuôi dân tộc thiểu số thường chú ý đến những sáng tác viết về miền núi của Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Nguyễn Trung Thành, Ma Văn Kháng…. với những tác phẩm đã có tiếng tăm trên văn đàn như: Vợ chồng A phủ, Đất nước đứng lên, Rừng xà nu, Đồng bạc trắng hoa xòe viết về các dân tộc Hmông ở Tây Bắc, Ê đê ở Tây Nguyên, Dao ở Việt Bắc…. Thực tế này đã vô tình tạo một rào cản trong tiếp nhận và phát triển văn học thiểu số, bởi: “Muốn hiểu đời sống thực của người dân miền núi và dân tộc phải có đời sống thực của người trong cuộc”(2).Và bản thân các nhà văn này cũng tự nhận thấy những hạn chế nhất định trong ngòi bút của mình, Tô Hoài thừa nhận: “Cho tới nay tôi viết một số tác phẩm đề tài miền núi. Các anh liệt sĩ (Hoàng Văn Thụ, Vừ A Dính), cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Bắc (Vợ chồng A Phủ, Họ Giàng ở Phìn Sa). Tôi cho rằng dẫu tôi đã cố gắng, nhưng những tác phẩm ấy chỉ đạt tới đôi nét chấm phá của một bức kí họa thông qua cảm xúc mới mẻ của mình. Tôi không thể có được tâm hồn và những hiểu biết để thể hiện như Đinh Ân (Mường), Vi Hồng (Tày), Mã Thế Vinh (Nùng), Mã A Lềnh (Mông). Văn học các dân tộc thiểu số có thực sự phong phú, lớn mạnh phải do chính các nhà văn dân tộc ấy xây dựng, góp phần vào nền văn học đa dân tộc của chúng ta”(3). Đây là một nhận xét đáng để người nghiên cứu quan tâm. Văn học hiện đại Việt Nam là một nền văn học thống nhất, đa dân tộc. Thể hiện đặc trưng này một cách rực rỡ nhất có lẽ là ở sự góp mặt của những tác phẩm văn học viết về miền núi và các dân tộc thiểu số trong thành tựu chung của văn học cả nước. Kể từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, bộ phận văn học này trên thực tế đã được tạo thành bằng cảm hứng dồi dào của chính các cây bút người dân tộc thiểu số. Họ có nghĩa vụ và đã tự nguyện một cách nhiệt thành tham gia vào công cuộc viết lịch sử tâm hồn dân tộc mình. Hòa vào dòng chung của văn học dân tộc với nội dung yêu nước, căm thù giặc, ca ngợi cách mạng, sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số cũng góp một tiếng nói bảo vệ đất nước, căm thù giặc ngoại xâm, đồng thời quảng bá và bảo tồn những nét văn hóa phong tục tập quán đẹp của dân tộc mình. Do vậy, nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số cần có cái nhìn toàn diện, bao quát để khẳng định những giá trị không thể thay thế của những sáng tác mà các tác giả dân tộc thiểu số cống hiến bên cạnh những tác phẩm của những tác giả người Kinh viết về dân tộc và miền núi.

Hơn nữa, nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số không phải là xác định nó tiến kịp hay bước sau so với văn học cả nước mà cần xác định xu hướng phát triển, cùng những đóng góp của mảng văn học này vào tiến trình vận động của văn học dân tộc. Chúng ta không nên đặt ra vấn đề so sánh hơn thua, đuổi kịp hay còn lạc hậu so với văn học dân tộc để đưa ra những kì vọng e rằng không thực tế: “Một chặng đường hơn nửa thế kỷ, văn học viết các dân tộc thiểu số Việt Nam đã làm một cuộc hành trình thần tốc, xuyên suốt nghìn năm (so với văn học Kinh) để sải bước kịp văn học cả nước”(4). Cần có cái nhìn khách quan, công tâm, khoa học để đánh giá cụ thể, đúng đắn những đóng góp nhất định và những hạn chế còn tồn tại trong dòng văn học dân tộc thiểu số nói chung và văn xuôi dân tộc thiểu số nói riêng để từ đó có những định hướng hợp lý thúc đẩy sự phát triển đa dạng của văn học dân tộc thiểu số ở các vùng miền trong cả nước, tạo ra sự phong phú đa sắc màu của văn học dân tộc Việt Nam.

  1. Các chặng đường phát triển

Nếu như văn học viết dân tộc Kinh ra đời cách đây mười thế kỷ, thì văn học viết các dân tộc thiểu số Việt Nam chỉ mới ra đời, hình thành, phát triển vào đầu thế kỷ XX. Bộ phận văn xuôi dân tộc thiểu số cũng bắt đầu le lói từ những năm 30 của thế kỷ XX.

Đầu thế kỷ XX, trên văn đàn văn học xuất hiện một số tác phẩm viết về đời sống sinh hoạt của người dân tộc thiểu số ở miền núi. Những tác giả đóng góp cho mảng đề tài này đều xuất thân là người Kinh như Thế Lữ với tập truyện Vàng và máu (1934), Lan Khai với Truyện đường rừng (1940). Đương thời, những tác phẩm này đã thu hút sự chú ý của người đọc bởi sự mới mẻ, kì dị, kích thích trí tò mò khám phá của độc giả trước cảnh sắc của những miền đất xa xôi, hoang dã với những phong tục tập quán kì bí, độc đáo hoặc những hủ tục mông muội thậm chí man rợ. Nhà văn giống như người du khách lãng tử muốn khám phá những miền đất còn hoang vu, chiêm ngưỡng những tộc người còn nhiều bí ẩn.

Trước năm 1945, văn xuôi của tác giả người dân tộc thiểu số chưa xuất hiện. Từ sau 1945 theo định hướng đường lối văn nghệ của Đảng, mảng văn học dân tộc thiểu số được quan tâm phát triển cả về lực lượng sáng tác, số lượng, chất lượng tác phẩm và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Ngoài một số tác giả người Kinh có những sáng tác về miền núi, dân tộc như Hồ Chí Minh (Giấc ngủ mười năm, 1948), Nam Cao (Nhật kí ở rừng, 1948), Tô Hoài (Vợ chồng A Phủ, 1952; Cứu đất cứu mường, 1953), Nguyên Ngọc (Đất nước đứng lên, 1954)… Một số tác phẩm của các tác giả người dân tộc thiểu số đã xuất hiện gia nhập vào dòng chảy chung của văn xuôi dân tộc miền núi vốn trước đây chỉ là độc quyền của những cây bút người Kinh. Một thế hệ nhà văn trẻ người dân tộc đã được hình thành trong những năm 50 – 60 khi miền Nam đấu tranh chống Mỹ, miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Họ là những trí thức thiết tha muốn đóng góp vào nền văn học đa dân tộc bằng sức lực và tài năng của chính mình. Đó là Nông Viết Toại (Boỏng tàng tập éo, 1952), Nông Minh Châu (Ché Mèn được đi họp, 1959), Y Điêng (Em chờ bộ đội Awa Hồ, 1960), Hoàng Hạc (Ké Nàm, 1963), Triều Ân (Tiếng khèn A Pá, 1968), Vi Thị Kim Bình (Những bông huệ, 1968)… Cách mạng, nhân dân, văn hóa dân gian là 3 nguồn mạch cảm hứng nuôi dưỡng các cây bút văn xuôi người dân tộc thiểu số trong những năm tháng cách mạng và kháng chiến chống Pháp. Sáng tác của họ luôn bám sát công cuộc cách mạng của dân tộc, thể hiện sâu sắc cảm xúc tâm trạng của người dân miền núi trong những tháng ngày gian khổ đầy mất mát, hi sinh nhưng oanh liệt, oai hùng. Phạm vi đề tài phản ánh khá rộng, họ không chỉ viết về miền núi mà còn viết về miền xuôi, về miền Nam, thậm chí quan tâm cả tới những vấn đề có tính quốc tế, ngợi ca sự đổi đời của nhân dân các dân tộc và cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Văn xuôi thời kỳ này chủ yếu viết về con người, quê hương miền núi. Đây là giai đoạn mà ý thức dân tộc của các tác giả được thức tỉnh, họ háo hức khám phá với tâm hồn “bừng nắng hạ” hăng say, hăm hở, tràn đầy cảm hứng lãng mạn khi cảm nhận về quê hương dân tộc. Dường như chưa bao giờ người ta lại tự hào về quê hương, dân tộc mình đến vậy. Và cùng với những đóng góp của các tác giả người Kinh và các tác giả người dân tộc, văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam đã dần được định vị và “góp phần xứng đáng vào công cuộc cách mạng, cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng xã hội chủ nghĩa, trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền văn học Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(5).

Từ sau năm 1975, trong không khí hoà bình xây dựng cuộc sống mới, văn xuôi dân tộc thiểu số phát triển khá mạnh mẽ. Các tác giả người dân tộc thiểu số đông đảo hơn và thành tựu sáng tác cũng rực rỡ hơn. Thời kỳ này văn xuôi dân tộc thiểu số phát triển mạnh về số lượng cũng như chất lượng, giúp chúng ta có thể nhận diện một cách rõ ràng, khẳng định nó như một thực thể riêng, độc đáo trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại.

Vào những năm cuối thế kỉ XX, ngoài những tác giả người Kinh vẫn không ngừng trăn trở về đề tài miền núi, dân tộc như: Mạc Phi, Xuân Thiều, Khuất Quang Thuỵ, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Khắc Trường, Sơn Nam, Vũ Hạnh, Phạm Duy Nghĩa… đội ngũ những cây bút người dân tộc được mở rộng, xuất hiện đông đảo, không chỉ ở phía Bắc mà cả miền Trung, miền Nam của đất nước. Ở Tây Nguyên có Hlinh Niê (Êđê) với tập truyện Con rắn màu xanh da trời (1997) và tập kí Trăng Xí Thoại (1999), Kim Nhất (Ba na) với các tập truyện Động rừng (1999), Hồn ma núi (2002) và Niê Thanh Mai (Êđê) với tập truyện Về bên kia núi (2007). Ở phía Nam lần đầu tiên xuất hiện văn xuôi của một số dân tộc như truyện kí Chân dung người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh (1994) của Lý Lan (Hoa), tiểu thuyết Chân dung cát (2006) của Inrasara… Ở khu vực miền Trung xuất hiện La Quán Miên (Thái) với tập truyện Hai người trở về bản (1996), Kha Thị Thường với tập truyện Lũ núi (2003), Lang Quốc Khánh với tập kí Những miền thương nhớ (2005), Hà Thị Cẩm Anh (Mường) với Gốc gội xù xì. Ở vùng Việt Bắc và Tây Bắc tác giả người Tày luôn chiếm số đông. Ngoài các nhà văn như Ma Trường Nguyên, Hà Lâm Kỳ, còn có Đoàn Lư, Hoàng Hữu Sang, Cao Duy Sơn… Trong đó đáng chú ý là nhà văn Vi Hồng. Từ 1980 – 1997, Vi Hồng đã cho ra đời 14 cuốn tiểu thuyết: Đất bằng (1980), Núi cỏ yêu thương (1984), Thung lũng đã rơi (1985), Vào hang (1990), Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Lòng dạ đàn bà (1992), Dòng sông nước mắt (1993), Ái tình và kẻ hành khất (1993), Tháng năm biết nói (1993), Chồng thật vợ giả (1994), Phụ tình (1994), Đi tìm giàu sang (1995), Đọa đày (1997). Ngoài ra ông còn có các tập truyện ngắn: Đuông Thang (1988), Người làm mồi bẫy hổ (1990), Thách đố (1995), Đường về với mẹ chữ (1997). Ông là một hiện tượng văn học đáng được quan tâm về sức làm việc phi thường và những hiểu biết về con người, phong tục tập quán, thiên nhiên miền núi mang đậm sắc thái Tày.

Trong những sáng tác trên, có những tác phẩm khá xuất sắc thể hiện được bản sắc dân tộc riêng về dựng cảnh, dựng người, cách sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật và tư duy nghệ thuật độc đáo. Nhiều tác phẩm đã kết hợp được bút pháp tự sự theo kiểu truyền thống ảnh hưởng từ các sử thi, truyện cổ, truyện thơ… với bút pháp văn xuôi hiện đại tạo nên sự đa dạng, nhiều vẻ, nhiều giọng điệu, trở thành “vườn hoa nhiều hương sắc” làm phong phú bức tranh của đời sống văn học hiện đại nước ta. Mã A Lềnh với bút kí Cao Nguyên trắng mang giọng điệu sôi nổi hào hứng đã ghi lại những đổi mới trên quê hương trong thời kỳ kinh tế thị trường. Văn phong lôi cuốn, hấp dẫn, linh hoạt, phong phú. Quê hương hiện ra như một bức tranh với những nét hoa văn khác nhau nhưng luôn có gam màu chủ đạo là rực rỡ sôi động. Cao Duy Sơn với Người lang thang, Cực lạc, Hoa mận đỏ… đặc biệt là Đàn trời đã tái hiện một bức tranh xã hội phong phú với những mảnh đời và lối sống khác nhau ở miền núi. Tác giả đã miêu tả những xung đột trong cuộc sống, trong tâm hồn mỗi cá nhân với một ngòi bút tinh tế sống động, đậm chất hiện thực nhưng cũng không kém phần lãng mạn. Kim Nhất (Ba Na) thể hiện khá phong phú những phong tục tập quán của dân tộc mình qua Chuyện buôn làng, Nối dây, Phạt kơ đi… Qua tập kí Chân dung người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, Lý Lan đã khắc họa chân thực, cảm động “chân dung” của một bộ phận người Hoa sống ở thành phố hiện đại nhất nước ta trong một thời gian dài và một không gian rộng gắn liền với từng bước thăng trầm của lịch sử dân tộc. Hình ảnh những con người lao động vất vả trong mưu sinh, lập nghiệp luôn có ý chí vươn lên làm chủ cuộc sống bên cạnh những ông chủ tham lam xảo quyệt bon chen làm giầu hiện lên thật sinh động… Nhưng điều được thể hiện nổi bật ở đây là tinh thần đoàn kết gắn bó của người Hoa đối với dân tộc Việt trong cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc. Hlinh Niê đã biết kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa chất huyền thoại và sử thi khi viết về con người, cuộc sống ở Tây Nguyên. Tác giả giới thiệu kho tàng folklore độc đáo với những ngôi nhà rông, hình hoa văn chim thú được lưu giữ trên nóc các nhà mồ, nghệ thuật ẩm thực kiểu Tây Nguyên… miêu tả sắc nét lễ hội đâm trâu, lễ hội cồng chiêng, những nét hoa văn thổ cẩm phối hợp hài hòa giữa các gam: xanh, vàng, đỏ để làm nổi bật hai màu chủ đạo: đen và trắng (Về đâu hỡi thổ cẩm Tây Nguyên, Trăng Xí Thoại). Tác giả còn ngợi ca cuộc sống mới đang chuyển mình của dân tộc Tây Nguyên. Một bộ phận người dân đã vươn lên trong làm kinh tế, thoát khỏi cuộc sống thiếu thốn nghèo khổ, được thụ hưởng cuộc sống có điện, có tiện nghi (Du xuân Tây Nguyên, Làng mặt trời, Bình minh người Dao Cư Suê, Buôn Yung mùa hoa trắng…). Người con của núi rừng Tây Nguyên không chỉ trăn trở trước những luật tục lạc hậu vẫn tồn tại mà còn đau đớn, xót xa trước những di sản văn hóa đang bị mai một dần khi “hàng trăm các nghệ nhân theo dòng thời gian lặng lẽ nằm xuống. Hàng trăm nghề truyền thống lụi tàn, hàng trăm cổ vật như có cánh bay, hàng trăm công trình sưu tầm, công sức và tâm huyết của bao người bị mối xông thành đất. Chiêng Gia Rai, Ê Đê, Ba Na chảy thành máu trong các lò nấu đồng”(6). Đây không chỉ là lời cảnh báo mà là một hiện thực nhức nhối về sự mất mát, một đi không trở lại của di sản văn hóa dân tộc.

Có thể nói, tuy chưa có những tài năng xuất sắc, những phong cách đích thực, nhưng những cây bút người dân tộc thiểu số đã phần nào thực hiện được sứ mệnh cũng như khát khao cháy bỏng của những người con không quên nguồn cội, đó là nuôi giữ ngọn lửa văn chương của dân tộc mình. Nếu không có sự hòa nhập máu thịt, cộng sinh giữa chủ thể và khách thể thì các nhà văn dân tộc thiểu số không thể viết về con người, cuộc sống của dân tộc mình đầy cảm xúc như thế. Hầu hết các nhà văn dân tộc thường có cảm xúc mãnh liệt, nóng bỏng da diết về con người, cuộc sống của dân tộc mình, quê hương mình. Bởi những người cầm bút là con em dân tộc có một thế mạnh nhất định khi linh giác của họ từ trong huyết thống đã được nuôi dưỡng, tiềm ẩn ở vùng vô thức của tâm linh sâu thẳm, những biểu tượng văn hóa của dân tộc mình.

Trong sự phát triển chung của đất nước, bộ mặt miền núi và cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số đã và đang có bước phát triển đa dạng về mọi mặt. Nhiều tác phẩm hướng về công cuộc xây dựng đời sống, phát triển kinh tế ở miền núi như tiểu thuyết Gió hoang của Ma Trường Nguyên, tập bút kí Cao nguyên trắng của Mã A Lềnh và các tập truyện ngắn của Sa Phong Ba. Phạm vi hiện thực cũng được mở rộng hơn nhờ sự dân chủ, đổi mới của văn học. Những vấn đề nhạy cảm, những mảng tối, những mặt trái của hiện thực trước đây từng bị né tránh nay phần nào đã được phơi bày. Trong những năm 90, các tiểu thuyết của Vi Hồng được dư luận quan tâm bởi những vấn đề có tính thời sự. Tác giả đề cập đến sự băng hoại đạo đức của một số trí thức có địa vị nhưng ham tiền tài danh vọng (Người trong ống, Gã ngược đời), những sai lầm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, sự ấu trĩ của việc ngăn cấm cá nhân làm giàu (Chồng thật vợ giả, Thung lũng đá rơi,…).

Nhìn chung, cho tới nay, nhiều dân tộc thiểu số vẫn chưa có mặt trong cuốn biên niên sử của văn học Việt Nam hiện đại. So với khoảng thời gian đã mấy chục năm của công cuộc đổi mới, nhìn chung văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi vẫn chưa theo kịp bước đi của hiện thực. Từ trước đến nay, bộ phận văn học này còn ít chạm đến chiến tranh cách mạng – một hiện thực lớn có ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh của các dân tộc miền núi. Phần lớn các nhà văn chỉ miêu tả công cuộc xây dựng đời sống mới mà chưa tái hiện những tên tuổi đã đi vào lịch sử cách mạng, kháng chiến ở miền núi. Và cả về tầm vóc lẫn số lượng còn thiếu những tác phẩm khái quát được những vấn đề trung tâm của dân tộc – miền núi trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường, thực hiện xóa đói giảm nghèo, đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một số vấn đề “thời sự” ở các vùng miền núi như an ninh, quốc phòng… chưa được phản ánh toàn diện, triệt để. Những hiện tượng bất ổn về chính trị xã hội, thực trạng đói nghèo, thất học, mù chữ hoặc tái mù chữ ở nhiều nơi đến nay mới chỉ được đề cập trong một số rất ít truyện ngắn. Về đội ngũ sáng tác, sự kế tục của thế hệ người viết trẻ ở cả dân tộc Kinh và các dân tộc khác hiện rất ít ỏi. Đây cũng là một trong những vấn đề đang được nhiều nhà nghiên cứu quan ngại khi nhìn về tương lai phát triển của văn xuôi miền núi.

  1. Một vài đặc điểm tiêu biểu

3.1. Văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi đã công khai hé mở thực trạng về sự nghèo đói truyền kiếp của người dân vùng cao, vạch trần thói mị dân, sự sa đọa cùng hành vi đen tối của quan lang bản địa. Sự hiện hữu của cái nghèo, cái ác, tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với vùng cao là vấn đề được nhiều tác phẩm quan tâm. Sự xâm nhập của thương trường phá vỡ sự yên bình ngàn đời của núi rừng, lối sống thực dụng nhen nhóm lan tỏa làm rạn nứt nếp nghĩ truyền thống, cái xấu xa phi pháp khuấy đảo sự thanh bình của làng bản… Đó là những dấu hiệu băn khoăn đáng lo ngại trước sự biến chuyển của đời sống người dân miền núi. Đáng lưu ý là ngoài những vấn đề mang tính xã hội, một số tác phẩm đã đi vào các khía cạnh của đời tư con người vùng cao, với những câu chuyện tình yêu nhiều sóng gió, trắc trở, với những số phận cá nhân chứa đầy bi kịch, với lòng tham và cả sự tha hóa của con người…

Trước năm 1975, văn xuôi dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung phản ánh cuộc đấu tranh cứu quốc vĩ đại của dân tộc, có nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng, ca ngợi quê hương, đất nước, con người mới. Hiện nay biên độ sáng tác đã mở rộng hơn. Văn xuôi dân tộc thiểu số đã từng bước bắt nhịp vào đời sống của đất nước, ca ngợi cái mới, cái tốt đẹp đồng thời cũng phê phán cái xấu, cái lạc hậu, cái ác, cổ vũ, động viên đi sâu miêu tả thân phận con người miền núi với những số phận mới, khát vọng mới. Trong trang viết của các nhà văn, cuộc sống con người miền núi đã có nhiều đổi thay. Sự tù đọng trong nghèo khó, đói rét, tật bệnh của người dân đang dần được khắc phục. Sự trói buộc của những tập tục lạc hậu trong những bản làng heo hút đang được nới bỏ. Vẫn còn nhiều vấn đề đang diễn ra trong đời sống của đồng bào miền núi, người dân phải vật lộn với những khó khăn của cuộc sống mới: nạn tảo hôn, mù chữ, phá rừng, hút sách… Người phụ nữ miền núi là hiện thân của bức tranh toàn cảnh về số phận con người ngàn đời trong rừng thẳm. “Thân phận người con gái ở nơi rừng rú mọi thứ như ải ra, mục ra bởi bóng núi đè” (Vi Hồng). Tuy vậy, ở họ vẫn ánh lên vẻ đẹp của người lao động khỏe khoắn, hồn nhiên, thủy chung với những khát vọng cao đẹp lại mang dáng vẻ riêng của từng dân tộc. Những chàng trai mang nhiều hoài bão khát vọng nhưng không thể thực hiện được. Hình tượng những nhân vật với những mảnh đời bất hạnh. Những người dân lương thiện có địa vị thấp hèn trong xã hội, phải sống trong cảnh nghèo hèn tối tăm, với môi trường sống khắc nghiệt hoặc trong sự áp bức bóc lột của cường quyền, bạo lực… nhưng luôn có ý thức vươn lên vượt qua số phận. Những nhân vật đại diện cho thế lực hắc ám, đại diện cho những kẻ thuộc tầng lớp thống trị miền núi, nắm giữ cường quyền, đè nén, bóc lột, cướp đoạt tự do hạnh phúc của dân nghèo vô tội. Họ giống như bóng đêm dầy đặc bao phủ cuộc sống, tác yêu, tác quái áp bức con người.

Bức tranh hiện thực xã hội miền núi hiện ra với không gian thiên nhiên hoang dã, không gian hiện thực buồn lạnh, u ám của những thị trấn nhỏ nơi biên thùy, những bản làng còn chìm trong nghèo khó. Ở đó xuất hiện những xung đột giữa khát vọng no ấm, tình yêu, hạnh phúc với những thế lực hắc ám, những rào cản từ hủ tục, những oái oăm trắc trở muôn đời của kiếp người, làm ngời sáng những tình cảm thủy chung thiêng liêng, những phẩm chất cao đẹp của con người miền núi dũng cảm và nhân hậu. Những con người này mộc mạc nguyên sơ vừa mang vẻ đẹp của sự e ấp hồn nhiên, vừa thể hiện bản năng sống dồi dào mãnh liệt đầy tự chủ, năng động trước mỗi cảnh ngộ của cuộc đời mà họ phải đối mặt đương đầu. Chính vì vậy, nhân vật của các nhà văn miền núi thường “không có những tính cách với những nét hằn nổi, để có thể cảm nhận như sờ mó được”(7) nhưng vẫn lôi cuốn người đọc bởi sự phong phú của thế giới nhân vật, sự sinh động của phong tục tập quán và khả năng tưởng tượng, sáng tạo, hư cấu ít có.

Đặc biệt khi miêu tả nhân vật, các tác giả thường dùng thủ pháp so sánh, tương phản theo lối “vật hoá” (đối với nhân vật phản diện) hoặc “thần hoá” (đối với nhân vật chính diện). Những nhân vật phản diện thường được xây dựng bằng thủ pháp “vật hoá”  nhằm hạ thấp đối tượng. Chẳng hạn nhân vật Khàng (Dưới chân núi Nục Vèn – Cao Duy Sơn) được miêu tả “nghịch như con khỉ độc trên rừng, dữ như con hổ đói” (8). Khi nhìn thấy cô gái đẹp, hắn “đứng như con gấu, mắt vằn đỏ như mắt con hổ đói hau háu nhìn cắm vào cái gáy nõn chuối rừng”(9). Tính nết thì “ác như con rắn độc”(10). Còn lão lí trưởng – bố Khàng thì “mặt khoặm lại trông dữ như mặt diều hâu”(11). Hoặc chân dung nhân vật Eng Bải (Eng Bải – Triều Ân): “hai má dài như mặt ngựa không đeo hàm thiếc”, “tiếng cười như tiếng ngựa, khi thì hờ hờ, khi thì hi hí”(12). Thằng Thìm với “cặp mắt to như con ốc nhồi, lồi ra như người ta ấn hai con ốc nhồi to vào hốc mắt”, có nụ cười nhếch mép “như trâu cười nước đái của nó”(13). Hình ảnh ông anh cả của Hoàng (Tháng năm biết nói – Vi Hồng) “khi cười thì cái mũi héo lại, nhăn thun lủn như con đỉa”(14). Mụ Tẹo – người vợ duyên nợ của Hoàng có mái tóc “rất dầy nhưng sao vàng như lông bò, da mặt đỏ phớt nhưng sao nhẵn thín như da con lươn già”. “Cô ta nhách ra từng tiếng dai như mảnh da trâu khô và rít qua kẽ răng”(15). Với thủ pháp “vật hóa”, các nhân vật phản diện trở thành những con vật tầm thường thậm chí bẩn thỉu, hèn hạ.

Ngược lại khi khắc hoạ những nhân vật lí tưởng, các tác giả lại sử dụng thủ pháp so sánh với xu hướng “thần hoá”, “tiên hoá”. Người con gái đẹp thường được ví với “bông hoa tiên trên vách núi”, “bông hoa thánh”, “hoa vặc viền trên đá” hoặc “đẹp như một nàng tiên”…. Chẳng hạn: “Họ có khuôn mặt trái xoan rất xinh đẹp như bàn tay tiên đúc nặn nên…Cái mũi của họ thật thanh tú với cặp môi đỏ chót như quả nhót chín mọng, lúc nào cũng ươn ướt như tô một thứ nước son của tiên của phật”(16).

Hầu hết các nhà văn dân tộc thiểu số đều chịu ảnh hưởng của thi pháp dân gian với quan niệm ở hiền gặp lành, ác giả ác báo. Hệ thống nhân vật trong tác phẩm thường được phân định thành hai tuyến rõ ràng tốt – xấu, thiện – ác. Những nhân vật chính diện thì được miêu tả thánh thiện, nhân ái như tiên, bụt, chân thực tới tận đáy lòng. Ngược lại, nhân vật phản diện thì xấu xa, ti tiện, độc ác và tàn nhẫn đến cùng cực. Nhân vật chính diện luôn có vẻ đẹp hoàn mĩ từ hình thức bề ngoài đến phẩm chất, nhân cách. Họ thường là những con người lí tưởng chân thực, giầu lòng nhân ái, giầu khát vọng về tình yêu tự do, có sức sống bền bỉ, mãnh liệt. Tính nhân văn và lòng trắc ẩn luôn là khát vọng muôn đời mà các nhà văn người dân tộc gửi gắm kì vọng ở những nhân vật đại diện cho vẻ đẹp của dân tộc mình, cộng đồng mình. Ngay cả khi nhà văn viết về cái xấu, cái ác thì cũng là để bảo vệ cái tốt, cái thiện, đấu tranh, cảnh tỉnh con người biết cảnh giác và tránh xa những gì phi đạo đức, phản nhân văn. Chính điều này làm cho cảm hứng ngợi ca, khẳng định trở thành cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm của các nhà văn dân tộc thiểu số.

3.2. Văn xuôi miền núi còn đi sâu miêu tả, khắc họa đời sống tinh thần vốn đã rất phong phú, đa dạng của văn hóa và con người miền núi. Đó là những phong tục tập quán đặc trưng của các dân tộc thiểu số. Văn xuôi viết về dân tộc thiểu số miền núi cũng đã đào sâu vào các mặt đời sống của các dân tộc làm rạng nên những nét riêng, độc đáo trong lễ hội, cách trang trí nhà cửa hay lối sống. Các tác giả cũng chỉ ra cái xấu chưa bị tiêu diệt đến cùng, cái tốt đang khởi sắc và cả cái đẹp đang bị mai một. Đó còn là thực trạng về sự mông muội, mê tín dị đoan nặng nề bị kẻ ác lợi dụng và tố cáo hoặc những luật tục vô nhân đạo còn tồn tại ở vùng cao đang bắt đầu bị lớp trẻ chống đối. Những con người miền núi sâu nặng nghĩa tình, bền bỉ, thuần hậu lần lượt bước vào các trang văn của người nghệ sĩ. Những tăm tối u mê, đói rét, lạc hậu, giả dối đều là kẻ thù của cái đẹp. Các nhà văn đã tập trung miêu tả những tập quán của dân tộc thiểu số về cư trú, lao động, sinh hoạt, vui chơi, tín ngưỡng, những nét tâm lý riêng của mỗi cộng đồng. Chẳng hạn trang phục của đồng bào Dao đỏ, Dao quần trắng, Hmông, Tày… hiện lên khác nhau rõ nét. Các tác phẩm đã phản ánh sâu sắc hiện thực cuộc sống vùng đồng bào các dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng dân tộc, khơi dậy và nuôi dưỡng tình cảm, khát vọng xây dựng, giữ gìn nét đẹp văn hóa của dân tộc mình.

Đến với ngày lễ hội của các dân tộc, người đọc ngỡ ngàng trước sự đa dạng trong màu sắc văn hóa, trang phục, trong ngôn ngữ, trong các lễ thức dân gian, các điệu múa cổ truyền và cả trong ẩm thực… Sự phong phú ấy phần nào nói lên sự đa dạng trong bản sắc dân tộc. Nếu đi sâu vào văn hóa của từng tộc người chúng ta sẽ thấy những trầm tích về lịch sử được bảo lưu qua lời ăn tiếng nói, qua phong tục tập quán và phương cách ứng xử. Dân tộc nào cũng có những nét riêng về văn hóa. Đó là nét đặc thù mang dấu ấn khu biệt của mỗi cộng đồng. Hiểu biết các dân tộc thông qua văn hóa của từng tộc người là yếu tố quan trọng để tạo dựng nên tác phẩm văn học nghệ thuật hiện đại.

Những phong tục tập quán với những nét tiêu biểu cho bản sắc của từng dân tộc biểu hiện những đặc tính trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng của con người vùng rừng núi. Từ những tục lệ ma chay, cưới xin, đón dâu, ở rể, các lễ hội dân gian như hội tung còn, đánh khăng, chơi quay, bắn nỏ đến những phong tục tín ngưỡng như lễ cầu mưa, cầu nắng, cầu mùa, lễ vào nhà mới, lễ mừng được mùa, lễ cấp sắc, cầu ngư, lễ bỏ mả (pơ thi), lễ cúng rừng, cúng nguồn nước… hiện lên chân thực. Vẻ đẹp lễ hội được toát lên từ những nghi thức long trọng, những lời ca, tiếng hát, điệu vũ của cô then xinh đẹp mang hình bóng quê hương, cỏ cây, hoa lá, trời mây, sông suối làm say đắm lòng người. Những thói quen ăn ở, sinh hoạt, nếp sống hàng ngày đều ghi lại dấu ấn văn hóa. Người Hmông sống trong những ngôi nhà mái thấp trên đỉnh núi mờ sương, dân tộc Dao làm nhà sàn trên những mô cao cạnh nguồn nước, đồng bào Tày làm nhà trong thung lũng… Những dấu ấn này đang mai một theo thời gian khi vấn đề hiện đại hoá xã hội đang đi vào từng thôn bản làm thay đổi cuộc sống và nếp sinh hoạt của các dân tộc thiểu số. Do đó, những trang văn của các tác giả vô hình chung trở thành từ điển sống để chúng ta khảo cứu về nếp sống cổ truyền của mỗi tộc người.

Như vậy, hầu hết các tác giả đều chú trọng miêu tả đời sống tâm linh với những nét phong tục tập quán đẹp đẽ, cả những hủ tục đã ăn sâu vào tiềm thức ngàn đời của con người miền núi. Đây cũng là một trong những điểm nhấn làm nên sức hấp dẫn của những tác phẩm văn xuôi viết về dân tộc thiểu số miền núi.

3.3. Ngôn ngữ nghệ thuật được hoàn thiện nhờ tài năng lao động của nhà văn. Khác với ngôn ngữ văn hóa, ngôn ngữ nghệ thuật mang dấu ấn, màu sắc riêng của từng tác giả, phản ánh nét độc đáo không lặp lại của mỗi nhà văn. Khi các nhà văn sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, mỗi người lại có khả năng thể hiện một giọng điệu riêng, cách xử lý riêng tạo nên cá tính sáng tạo, phong cách đặc thù. Nhiều tác giả là con em các dân tộc được học tập và giáo dục dưới chế độ mới dần dần hình thành đội ngũ trí thức người dân tộc, trong đó một số người đã say mê bước vào con đường sáng tạo văn chương. Mô hình chung của các nhà văn dân tộc thiểu số thường là những trí thức viết văn kiêm nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian. Không chỉ thông qua con đường được đào tạo chính thức, họ còn tự học thêm rất nhiều. Đặc biệt vốn tri thức của họ ngày càng dầy dặn chính là do họ biết khai thác vốn văn hoá dân tộc được cộng đồng, họ tộc và môi trường sống truyền nhập. Vốn hiểu biết văn hóa, văn học dân gian phong phú đã chắp cánh cho sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số thêm bay bổng, lãng mạn. Phần lớn cách viết của các tác giả này nằm trong một hệ thống văn hoá, ngôn ngữ dân tộc, những câu nói ví von, so sánh giầu hình tượng nhuần nhuyễn trong một kiểu tư duy dân gian – truyền thống.

Các thủ pháp ví von, so sánh liên tưởng thường được các nhà văn dân tộc thiểu số sử dụng với mật độ lớn. Điều này thể hiện rõ sự ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong cách viết của các tác giả đồng thời tạo cho tác phẩm giầu chất thơ, phù hợp với cách phô diễn của người dân tộc thiểu số. Vấn đề đặt ra là, liệu ảnh hưởng dân gian quá sâu đậm có tạo nên hiệu ứng ngược chiều như lo ngại của một số nhà nghiên cứu: “Các tác giả thường dùng lối nói ví von, so sánh nên chất văn xuôi chưa được nổi rõ, các nhân vật thường được xây dựng theo kiểu nhân vật chức năng hoặc loại hình như trong các truyện cổ tích, thần thoại hoặc nhân vật cổ mà thiếu chiều sâu phân tích, lý giải để nhân vật có được tính cách riêng”(17). Rõ ràng, thực trạng này là có cơ sở, nếu xét thành tựu văn xuôi dân tộc thiểu số theo lí luận hiện đại thì tiến trình hiện đại hóa còn nhiều điều phải trăn trở, luận bàn. Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ tiếp nhận với tầm tiếp nhận của độc giả, sự tiếp thu kế thừa các yếu tố văn hóa văn học dân gian là một trong những con đường để tác phẩm của các nhà văn dân tộc thiểu số đi vào công chúng miền núi một cách hiệu quả. Nên chăng có thể coi đây là một thế mạnh của các nhà văn miền núi?

Mỗi tác giả đại diện cho mỗi dân tộc khác nhau lại có những cách vận dụng kho tàng folklore của mình theo cách riêng tuỳ thuộc vào vốn văn hóa mà họ thụ hưởng. Vi Hồng là người con của dân tộc Tày, ông đã vận dụng rất thành công vốn văn hóa văn học dân gian Tày – Nùng như sli, lượn, thành ngữ, tục ngữ, puối pác (lời nói bằng câu có vần), puối rọi (câu nói có nhịp và vần điệu như hát) trong ngôn ngữ trần thuật, đặc biệt là ngôn ngữ nhân vật tạo ra cách nói “ngọt tiếng”, “ngọt lời” nên tạo hiệu ứng “ngọt tim”. Có thể nói, trong sáng tác của Vi Hồng, chính ngôn ngữ dân gian đã đem lại sắc thái dân dã, mộc mạc nhưng tươi mới, độc đáo biểu hiện môi trường sinh hoạt còn đậm nét dân gian của vùng đất Việt Bắc. Ngược lại, văn xuôi của Hlinh Niê lại mang màu sắc sử thi Tây Nguyên với chất huyền thoại khi đậm đặc lúc mờ nhạt đan cài nhuần nhuyễn trong hình tượng nhân vật, cốt truyện hay các chi tiết sự kiện thực mà như ảo. Đặc biệt ngôn ngữ giầu hình ảnh, giầu nhịp điệu, phép so sánh và phóng đại được sử dụng có hiệu qủa đậm chất lãng mạn, bay bổng. Điều này cho thấy, cội nguồn văn hoá dân gian tạo sinh tác động sâu sắc tới tác giả chính là kho tàng sử thi đồ sộ của dân tộc Ê Đê, Ba Na với: Đăm Săn, Đăm Di, Xinh Nhã, Khinh Dú, Đăm Noi…

Như vậy, tiếp thu văn học dân gian cũng là một đặc trưng quan trọng tạo nên đặc điểm riêng biệt của bộ phận văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi.

Thành tựu về nghệ thuật của văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi được thể hiện như một quá trình nỗ lực tự hoàn thiện để hòa nhập với trình độ phát triển chung của văn học nước nhà. Văn xuôi miền núi ngày càng có xu hướng cởi bỏ những trì níu đã lỗi thời của cách tư duy thô mộc. Tiếp tục kế thừa truyền thống nhưng ít nhiều đã thấy cốt truyện linh hoạt, biến ảo hơn, nhân vật đa chiều, phóng túng và gần với đời thực hơn. Ngôn ngữ, giọng điệu, không gian cũng gợi lên những phong vị mới. Đây đó ở một số sáng tác, yếu tố kì ảo (fantastique), nghịch dị (grotesque) đã xuất hiện, dù mờ nhạt. Quy mô lớn rộng của tiểu thuyết sử thi có chiều hướng nhường chỗ cho những tác phẩm nhỏ, vừa nhưng sánh đặc hơn về thông tin, chi tiết. Về phía các tác giả dân tộc thiểu số, tiến bộ xã hội cùng sự giao lưu văn hóa là nhân tố thúc đẩy nhanh chóng quá trình hiện đại hóa văn xuôi của họ. Tư duy nghệ thuật phát triển, vốn tri thức về nhiều lĩnh vực của đời sống được mở mang giúp khu vực sáng tác này vượt qua được lối biểu đạt quen thuộc, đơn giản. Cộng thêm hàm lượng từ ngữ phong phú và cú pháp không ngừng được gia công, gọt giũa đã đem đến cho văn xuôi viết về dân tộc thiểu số miền núi những mới mẻ đáng khích lệ.

Trong những năm qua, một số sáng tác văn xuôi dân tộc thiểu số đã mang đến cho văn học Việt Nam những sáng tạo mới trong cách nhìn và tư duy nghệ thuật. Chính điều ấy đã rút ngắn dần khoảng cách giữa người phản ánh với đối tượng được phản ánh, giữa hiện thực được phản ánh với người tiếp nhận. Trên thực tế, văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi vẫn đang trên hành trình phát triển với nhiều hứa hẹn mới mẻ, những hạn chế sẽ dần được khắc phục, những thành công tiếp tục được phát huy dựa trên nền tảng vững chãi của những thành tựu văn học giai đoạn trước. Văn xuôi miền núi là bộ phận không thể tách rời với văn học dân tộc, văn học thời đại. Vì thế, văn học dân tộc muốn phát triển toàn diện không thể không quan tâm đến sự tồn sinh và phát triển của bộ phận văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi.

——————————————————

(1) Lâm Tiến: Văn học và miền núi, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2002; tr.41.

(2) Ngọc Bái: Văn học với đề tài miền núi, dân tộc, Nguồn: nhandan.com.vn

(3) Dẫn theo Lâm Tiến: Viết về con người, cuộc sống các dân tộc thiểu số, Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, số 142, tháng 11/2006; tr.19.

(4), (5), (17) Lâm Tiến: Thế kỷ XX – chặng đường đầu của văn học viết các dân tộc thiểu số Việt Nam, in trong cuốn: Văn học và miền núi, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2002; tr.152, 153, 146.

(6) Hlinh Niê: Folklore Tây Nguyên độc đáo và giầu có – còn chăng ?, in trong cuốn: Trăng Xí Thoại, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1999; tr.75.

(7) Phong Lê: 40 năm văn hoá nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam 1945 – 1985, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1985; tr 266.

(8), (9), (10), (11) Cao Duy Sơn: Những đám mây hình người, Nxb.Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2002; tr.195, 196, 199, 198.

(12) Triều Ân: Tuyển tập thơ văn Triều Ân, Nxb.Văn học, Hà Nội, 2006; tr.180.

(13), (14), (15) Vi Hồng: Tháng năm biết nói, Nxb.Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1993; tr.35, 37, 98.

(16) Vi Hồng: Chồng thật vợ giả, Nxb.Thanh Niên, Hà Nội, 1994; tr. 42. 

 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây