Tôi người Thái Nguyên

VNTN- Công trình đó được xây dựng ít nhất cũng đã vắt qua 3 thế kỷ. Nó vẫn đều đặn tự chảy, không mất một đồng tiền điện. Hệ thống thủy lợi đó xây từ khi mà cả nước Việt chưa tự có một cân sắt thép xi măng nào.

Tác giả cùng ông Trung, cựu Bí thư Đảng ủy xã Cam Giá sau 50 năm gặp lại, trong ngày khánh thành đình Cam Giá

Được tin Tạp chí Văn nghệ Thái Nguyên mở cuộc thi viết “Tôi và Thái Nguyên”, tôi rất hào hứng và mong muốn tham gia vì nơi đó là quê hương, nơi đó là “Chùm khế ngọt”. Nhưng thời hạn chỉ còn mấy ngày mà khung chữ chỉ chừng 1500, trong tâm trạng chồng chất kỉ niệm với quê hương, tôi viết vội theo kiểu liệt kê, ít văn hoa, mong độc giả bỏ quá.

Nhìn trên bản đồ Thái Nguyên như người phụ nữ đội nón quay lưng ra biển, trung tâm nơi xòe rộng nhất là tỉnh Thái Nguyên. Đó từng là thủ phủ của các tỉnh Việt Bắc; là thành phố sớm có hạng cả nước, nơi tập trung rất nhiều trường đại học, cao đẳng chỉ sau Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Thái Nguyên có hai công trình lớn nhất Đông Nam Á dưới thời thuộc Pháp, nhưng trải qua những lý do tế nhị, những thăng trầm lịch sử mà ít được chú ý.

Đó là đập Thác Huống. Một công trình thủy lợi tuyệt vời, chặn ngang dòng sông Cầu, chia nước chảy theo dòng sông Đào, rộng30 – 40m, dài tới trăm km, tưới nước nhiều vùng rộng lớn các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh.

Công trình đó được xây dựng ít nhất cũng đã vắt qua 3 thế kỷ. Nó vẫn đều đặn tự chảy, không mất một đồng tiền điện. Hệ thống thủy lợi đó xây từ khi mà cả nước Việt chưa tự có một cân sắt thép xi măng nào. Dòng sông Đào ấy còn là hệ thống giao thông thủy bộ nối liền đồng bằng với miền Việt Bắc. Rất nhiều cầu cất, cống ngầm, đặc biệt là khu âu thuyền, để tàu thuyền ngược xuôi vượt thác cao hàng chục mét dong buồm xuôi ngược.

Có kỳ vĩ không, khi ấy từ cuối thế kỷ 19 làm gì có điện, bói đâu ra phương tiện cơ giới thi công. Chỉ toàn bằng sức lao động cơ bắp của dân, với khối lượng đào đắp cả một con sông, làm đường đắp đê, cầu cống theo con sông dài cả trăm km ấy. Với dân số quá ít ỏi chắc chỉ bằng 1/10 dân số ngày nay. Với đói kém, nghèo nàn và lạc hậu, mới thấy được công lao vô cùng to lớn của cha ông.

Những năm 1966 – 1967 tổ dân quân chúng tôi thường làm nhiệm vụ canh gác đập, giật khói mù khiến máy bay không nhìn rõ cầu. Một buổi tối trên bệ cầu đang ngon giấc, tôi giật mình hoảng hốt, thấy trong quần có cái gì lục đục, quẫy đạp vung vít. Người run bắn cố nới dây lưng, thò tay nâng cạp quần, thì bỗng nhói đau khủng khiếp. Tôi vung tay, một con rết to hơn ngón tay cái cuốn tròn trên mu bàn tay, răng bấm chặt với bao cái chân gớm giếc quềnh quàng ghê rợn.

Kêu thét vùng vẫy gỡ được nó ra, thời gian đủ để cả bầu nọc độc đã vào hết cơ thể rồi. Đã vậy chả ai có kinh nghiệm gì để rửa để nặn bớt nọc độc ra. Chị Mẫn, chị Minh xúm vào dùng đuôi sam tóc chà xát. Đau khủng khiếp, tím tái tê liệt cánh tay, anh Tấn, Chị Minh dìu tôi về. Vào nhà chúng tôi ở nhờ, ông chủ lo cuống tìm đưa tôi cục nam châm, bảo ấp vào sẽ hút nọc ra. Có thật vậy không? bạn đọc tự hiểu!

Chưa hết, đau đến “chết nửa con người”…, nhà tôi cách cầu chừng hơn 1 km, về tới nhà khuấy động cả đêm quê, người thân nhòa nước mắt. Ông anh tôi, thượng úy trinh sát Điện Biên, đã đốt cái chén quả hồng để giác. Tức là đốt nóng lòng chén cho hết không khí rồi úp lên vết cắn để hút nọc ra. Trời ơi nọc độc quá đau nên không cảm thấy cái bỏng của miệng chén. Thế đấy, cả mấy tiếng rồi, độc tố đã vào não vào tim, còn ở đâu tay mà giác. Lẽ ra lập tức phải ga rô, rửa nước, chích nặn vệ sinh thì lại không làm. Trên tay tôi giờ vẫn rõ một vết sẹo như vầng trăng lưỡi liềm là hình cái miệng chén.

Đập Thác Huống (hoàn thành năm 1936) có tác dụng nâng mực nước trên sông Cầu để chảy vào sông Đào. Ảnh: tuyengiaothainguyen.org.vn/

Niềm tự hào thứ hai của Thái Nguyên, cũng là lớn nhất Đông Nam Á, ấy là khu công nghiệp Gang thép. 

Mới hòa bình 4 năm, đất nước thuần nông lạc hậu, nghèo xơ xác, đã có thể cho ra sắt thép từ lòng đất của Tổ quốc mình, góp phần đáng kể cho xây dựng và chiến tranh chống Mỹ. Suốt những năm chiến tranh, Gang thép luôn là mục tiêu số một. Biết bao nhiêu bom đạn đã ném xuống, bây giờ từ xa đã thấy rõ cái ống khói cao to mà phình một đoạn giữa như bó bột. Đó chính là lỗ thủng từ một quả tên lửa Hoa Kỳ, giờ thành chiến tích. Hay như chiếc máy bay thần sấm cắm xuống Tân Long, rất gần trung tâm TP. Thái Nguyên, cũng là một trong những bằng chứng anh dũng kiên cường của quân dân trong tỉnh.

Khu công nghiệp Gang thép nằm tại phường Cam Giá, thời chiến tranh gọi đùa là “Gia Cám”. Cam Giá có nghĩa khác là mía ngọt, lúc bị tan hoang bom đạn gọi chệch là “Gia Cám” (!).

Bao nhiêu nhà cháy đổ, các trận địa pháo dày đặc trút lửa đạn lên trời, khiến máy bay Mỹ hoảng loạn ném bom vung vãi, bom bi không đủ độ cao nên không nổ rất nhiều. Ngày 9/10/1966, bốn bé trai San, Huấn, Hiển, Toán, nhặt quả bom gần đình làng Lau bị nổ. Một đám tang tập thể quá đau lòng.

Bom đạn nhiều, dân quân xã thành lập tổ thu nhặt bom. Tôi làm cùng anh Tần (sau là liệt sĩ) và chị Ninh. Đúng tuổi “17 bẻ gẫy sừng trâu” không biết sợ là gì. Xem bộ đội làm với đống bom ở vườn bà Sang, tôi thắc mắc chuyện quả bom bi có khi rất dễ nổ, nhưng có khi dùng xẻng xúc trong bụng bom mẹ lại không sao (?). Tôi đã tự mày mò tìm ra cấu tạo tinh vi của nó. Nguyên lý dựa vào lực ly tâm, bom con phải được văng ra ở độ cao cần thiết, có ly tâm thì chờ nổ, khi chạm vật cản hết ly tâm sẽ nổ. Tôi đảm bảo chắc chắn vậy, nên nhặt bom như thú vui (mỗi ngày bên “thần chết” được tính 1 công điểm, 1 công thời đó được trả chừng 3 – 4 kg thóc).

Đến bây giờ tôi vẫn áy náy bởi đã bỏ nhiều bom xuống giếng nhà ông X. (nhà có 2 giếng, cái cũ không dùng thường xuyên). Số bom đó không dễ nổ, nhưng vẫn là nguy hiểm và độc hại… Nên chăng nay nhận lỗi với dân quê mình!

Người Thái Nguyên quật cường anh dũng, nông dân chuyển dần sang làm ban đêm, công nhân bám trụ 24/24 mặc bom đạn dội trên đầu, những mẻ gang tuôn chảy trong lò mà ngưng lại đông cứng thì tai hại đến mức nào. 60 thanh niên xung phong hy sinh cùng lúc ở khu ga Lưu Xá; bao nhiêu chiến sĩ từ hàng trăm trận địa bảo vệ thành phố giữ vững cầu Gia Bẩy, và cũng mấy chục người hy sinh…

Riêng cầu Trà Vườn bị ngắt bay bằng một cuộc thử nghiệm vũ khí đặc biệt của Mỹ, cũng đã nói lên cái ác liệt của Thái Nguyên.

Hỡi các đồng hương quê nhà, các chiến binh cao xạ, có chứng kiến cùng tôi, trận ấy chỉ với 2 chiếc máy bay: Một F4H chiếu tia la de xuống cầu, tia sáng xanh lét hắt lên; một F105 từ dãy núi Linh Nham, bắt lấy tia sáng đó. Đúng như sợi dây, nhìn rất rõ “buộc hai trái bom vào” đặt trúng cầu. Tôi đã kể chuyện này trong một cuốn sách khác, bị phản hồi là: “Vào năm 1966 Mỹ chưa có vũ khí ấy nên đánh cầu Hàm Rồng cả ngàn trái bom mà không trúng”. Ấm ức như là kẻ khoác lác, tôi đã mày mò tìm hiểu và biết rằng: những năm đầu thập kỷ 60, cả Mỹ và Nga đều chạy đua thử nghiệm vũ khí lade. Vụ ở Thái Nguyên là một trong những thành công trên thực địa của họ.

Thôi, tôi đã nhìn thấy gần 1500 chữ. Tôi tự hào vì mình là NGƯỜI THÁI NGUYÊN. Hẹn gặp lại Thái Nguyên yêu dấu!

Trần Quang Thành

Bắc Từ Liêm, Hà Nội