Sông Cầu tuổi thơ tôi

VNTN- Khi tôi lớn lên đã thấy dòng sông Cầu, đoạn chảy qua xóm tôi (xóm Bến Đò, xã Linh Sơn, huyện Đồng Hỷ – nay thuộc thành phố Thái Nguyên) ở đó. Với tuổi thơ tôi, khúc sông ấy là cả một thế giới huyền bí khiến tôi vừa yêu, vừa sợ.

Sông Cầu đoạn chảy qua xóm Bến Đò, xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên

Bên kia sông, trong trí tưởng tượng của tụi nhóc chúng tôi khi đó là một thế giới hoàn toàn khác biệt với những gì xóm thuần nông tôi đang có. Khi ấy, xóm tôi mất điện triền miên. Mỗi lúc như thế, bọn trẻ con chúng tôi lại nhìn sang phía bên kia bờ sông, nơi có hàng bóng điện thẳng tắp, phát ra những tia sáng lung linh mà thèm thuồng, tưởng tượng và ao ước.

Mỗi năm một lần vào ngày Tết Độc lập, tôi và em gái út sẽ được bố cho “vượt sông” sang thành phố chiêm ngưỡng xác máy bay trưng bày tại bảo tàng và ngắm nhìn phố xá.

Chiếc gác ba ga xe đạp Phượng Hoàng không đủ chỗ cho 2 chị em ngồi. Bố tôi phải vót thêm 2 thanh tre để nối dài nó, rồi đặt một chiếc gối cũ lên. Tôi coi đó là ngai vàng của mình. Chuyến đi mỗi năm một lần đó luôn là sự kiện trọng đại đối với chị em tôi.

Dù chỉ cách thành phố một khúc sông nhưng quê tôi bao năm nay vẫn bình yên lắm lắm. Nhà cửa bấy giờ còn thưa thớt. Từ nhà tôi phóng mắt nhìn ra bốn bề đều là ruộng vườn với cỏ cây xanh mướt mát.

Những đêm trăng sáng, bố tôi thường kê 2 chiếc tràng kỷ ra ngoài sân cho chúng tôi chơi. Rồi bố kể cho chúng tôi nghe truyện Thánh Gióng bằng thơ. Bài thơ không biết là bao nhiêu câu nhưng dài lắm. Chị em tôi đứa nào cũng có thể thuộc nằm lòng:

“…Suốt 3 năm thật dài đằng đẵng/ Phải đâu rằng 9 tháng như ai/ Bà sinh được đứa con trai/ Trán cao, mắt sáng, thân dài, ngực to…”

Từ sân nhà tôi, nhìn qua cánh đồng Soi được bồi đắp phù sa, quanh năm bời bời màu xanh của rau, lúa là có thể thấy ánh đèn điện phía bên kia sông hắt lại.

 Mỗi lần như thế, trong đầu tôi lại tưởng tượng xem dưới ánh điện sáng kia đang có những gì, rồi ao ước một lần, buổi tối được đi dưới những ánh đèn ấy.

Hồi đó người ta chưa xây kè chắn lũ như bây giờ, bờ sông vẫn bên lở, bên bồi theo quy luật qua từng trận đại hồng thủy. Mỗi năm 2 lần, xóm tôi phải oằn mình chịu lũ. Thường lũ sẽ đến vào mùa tháng 3 và tháng 7 âm lịch.

Tôi nhớ theo lịch âm vì nhiều lần lũ lên đúng những ngày tôi cùng mẹ đi xay nhờ bột để về làm bánh trôi, báy chay cho ngày Tết tháng 3. Có khi, lúc đi nước còn mấp mé dưới ruộng rau muống, thế mà khi xay bột xong ra về, nước đã tràn qua đê, khiến tôi và mẹ phải bì bõm lội, lắm khi bố tôi phải đi đón rồi công kênh tôi trên vai.

Đấy là lũ tháng 3. Còn lũ tháng 7, có ngày giỗ của bà nội nên tôi không thể quên. Nhiều lần mẹ tôi đã phải vượt lũ sang bên kia sông, đến chợ Thái để sắm đồ về làm lễ thắp hương bà.

Lúc còn nhỏ, mỗi lần lũ về, bữa cơm gia đình tôi thường chỉ có cơm trắng và muối vừng. Bữa cơm cũng không theo quy luật thông thường mà sẽ nương theo con nước. Bố tôi sau khi đi một vòng “thị sát” tình hình sẽ về thông báo cho mẹ tôi. Nếu bố thấy nước lên nhanh, mẹ sẽ hối chúng tôi nấu và ăn cơm thật nhanh để chuẩn bị tinh thần chạy lũ.

Con trâu sẽ luôn là “nhân vật” được ưu tiên chạy lũ đầu tiên. Theo lời bố, tôi sẽ dắt trâu lên quả đồi sau nhà ông Khanh cùng xóm để gửi vì chỗ đó cao nhất. Bố mẹ và các chị lớn của tôi sẽ dong thuyền đi chạy ngô, khoai lang và các rau màu khác. Bởi, chỉ cần nước đi qua, toàn bộ ngô, khoai, rau các loại sẽ hỏng hoàn toàn nên dù chưa đến ngày được thu hoạch cũng phải thu về.

Ám ảnh nhất của tôi mỗi lần phải ngồi tẽ áo từng bắp ngô bố hối hả chở về, hạt còn chưa kịp mẩy, là gặp kiến. Kiến nhiều vô số kể, chỉ cần ngồi một lúc là kiến bám đầy chân, tay, kiến leo cả lên mặt, lên cổ tôi mà cắn.

Sau này lớn hơn, tôi mới thấm thía những bực bội với kiến của tôi khi ấy chưa là gì so với việc bố mẹ và các chị tôi phải dầm mình dưới nước “tranh cướp” với lũ từng bắp ngô. Vì khi đó, kiến sẽ chuyển nơi lánh nạn từ ngọn cây ngô sang người bẻ ngô mà cắn, mà đốt.

Lớn hơn, tôi đã có thể giúp mẹ đi chợ bán rau buổi sớm. Còn nhớ hôm ấy, vườn bắp cải nhà tôi đã đến kỳ thu hoạch, trời thì mưa liên miên. Nếu không kịp thu, cây bắp cải đẫy quá sẽ bị “nổ”, gặp mưa là thối không thể bán được. Mẹ vừa gánh rau đi trước, tôi chặt thêm được hơn chục cây rau cho vào quang gánh để gánh sang chợ thêm.

Hồi ấy, qua sông chưa có cầu treo Bến Oánh như bây giờ. Bắc qua sông là một cây cầu, mặt cầu làm bằng các ống tre ghép lại, bên dưới là các thùng phi tôi thường thấy người ta dùng để đựng nhựa đường. Nước dâng cao, phải tháo cầu làm đôi để dạt vào 2 phía bờ sông nếu không muốn nước lũ cuốn trôi cầu.

Những ngày như thế, muốn sang sông người dân bờ bên này phải đi bằng đò. Khó khăn lắm tôi mới tha được gánh rau lên đò, vì dù đã được túm cao lên nhưng với thân hình lũn cũn của tôi, gánh quang bước lên đò chẳng phải chuyện dễ dàng gì.

Chiếc đò chòng chành, lúc nghiêng bên này, lúc nghiêng bên kia, rồi chả mấy mà chật ních. Hầu hết đều là người đi chợ như tôi. Đò không có áo phao cũng không có máy nổ mà hoàn toàn được chèo bằng tay. Ra đến giữa dòng nước xiết, dù người chèo đò đã cố gắng hết sức song con đò vẫn quay vòng vòng, chấp chới. Càng lúc nó càng bị trôi theo dòng nước mà không tiến được về phía bờ bên kia. Một cảm giác sợ hãi hiện trên nét mặt của tất cả những người trên đò. Nguy cơ lật đò hiện hữu ngay trước mắt. Thực sự khi ấy tôi đã nghĩ mình có thể sẽ chết.

Thế rồi một người, hai người rồi tất cả những ai có đòn gánh trong tay đều nhanh chóng thả xuống nước, dùng nó làm mái chèo, khua nước đẩy con thuyền về phía trước. Cuối cùng, sau một hồi vật lộn, con thuyền cũng yếu ớt vượt qua được dòng nước xiết. Nhưng cũng từ đó, trong tôi luôn mơ hồ một nỗi sợ về khúc sông này trong ngày nước lớn.

Về sau, lần nào cũng vậy, dù không nói ra nhưng tôi thường mang theo một cảm giác lo lắng khi mẹ phải đi chợ qua đò. Những ngày ấy, áng chừng giờ mẹ có thể về, tôi thường leo lên trước cột trước hiên nhà để nhìn cho rõ con đường làng nối từ bến sông đến nhà tôi mà tìm bóng mẹ.

Có hôm ế chợ, rau khó bán, mẹ tôi về rất muộn. Vắt vẻo ôm chiếc cột trước hiên một hồi mỏi tay không thấy. Tôi thường chạy ra phía gần bến đò để đợi.

Những lần nhìn thấy mẹ đợi đò ở bờ bên kia rồi lại nhìn dòng nước chảy xiết tim tôi như thắt lại, rồi vỡ òa sung sướng khi nhìn đò cập bờ bên này.

Tôi biết ơn con đò, biết ơn người chèo đò và biết ơn cả khúc sông ấy đã luôn đưa mẹ trở về nhà với chúng tôi.

Kim Ngân

(Xã Linh Sơn, TP. Thái Nguyên)