Ở nơi ước mơ chỉ là một con đường cạn

Bao năm ngược xuôi đến các thôn, bản từ miền núi đến đồng bằng, gặp nhiều điều kì lạ, nhưng việc nguyên một xóm, người dân phải lấy lòng suối làm đường giao thông như ở Tân Kim, xã Thần Sa (Võ Nhai) thì tôi mới gặp lần đầu.


Phải cứng tay lắm mới mong cả người và xe hàng không bị đổ kềnh ra lòng suối

Ngồi trên nhà sàn, hết nhìn xuống sân giếng xem vợ và con ngồi khêu ít ốc núi mới bắt được để cải thiện bữa trưa, ông Triệu Văn Kinh lại hướng ánh mắt buồn bã ra phía “đường đi”. Ông sốt ruột vì đã gần một tháng nay không thể ra khỏi nhà để đi làm. Chả là chiếc mụn đinh mọc ở mu bàn chân của ông “chống chỉ định” với nước bẩn. Trong khi đó, bước chân ra khỏi nhà ông là dòng suối chặn ngang trước mặt và đó cũng là đường giao thông duy nhất để ông và bà con trong xóm đi lại.Vì sao người dân trong xóm ông lại làm nhà 2 bên suối thì ông Kinh không biết. Ông chỉ biết từ thời ông, bà, cha mẹ ông đã sinh sống ở đây rồi. Ông cũng như các gia đình trong xóm hiện nay là sự nối tiếp các thế hệ trước mà thôi. Có một đặc điểm chung là các ngôi nhà ở Tân Kim không lớn. Có lẽ là bởi, đất làm nhà có giới hạn khi mà phía trước mặt là suối và phía sau là những dãy ta-luy cao thấp tùy từng đoạn nhưng đều gần sát với bức tường sau của mỗi nhà.

Do đường đi khó nên thương lái vào mua hàng hóa của người dân trong xóm trả giá thấp hơn so với giá thị trường.

Ông Kinh còn nhớ như in lần cả nhà ông “chết hụt” vào năm 1983. Hôm ấy mưa to, sau khi đốt lửa sưởi cho đỡ rét, cả nhà say sưa chìm vào giấc ngủ. Nửa đêm, quả đồi phía sau nhà không biết có phải ngậm nước mưa đã đủ không mà ở độ cao tầm ngọn tre bỗng tách một phần ra. Vết nứt theo ông Kinh áng chừng rộng đến 2m, đẩy cả một tảng đất to ép sát bức tường bếp, cách chỗ mẹ con ông ngủ chỉ mấy bước chân. Mẹ ông – bà Triệu Thị Tàu hiện vẫn ở trong ngôi nhà tại vị trí cũ đó. Ngoài ra, trong xóm còn 3 gia đình khác hiện cũng nơm nớp nỗi lo đất sạt trượt xuống nhà bởi nguy cơ đã hiện hữu. Cùng với đó là nỗi lo lũ ống, lũ quét có thể xảy ra đe dọa sự an nguy của cả xóm.

Hầu hết người dân chủ động thực phẩm trong mỗi bữa ăn (Ốc núi, một trong những thực phẩm quen thuộc của người dân trong xóm)

Qua nhà ông Kinh một đoạn, là điểm trường Mầm non và Tiểu học được xây dựng trên một quả đồi tương đối cao, đảm bảo không bị ngập nước trong những ngày mưa lớn. Và, tất nhiên, con đường đến trường duy nhất của học sinh cũng là lội dọc dòng suối. Người dân ở đây cho biết, thông thường nước xâm xấp gióng chân học sinh lớp bé. Trời mưa nước suối có thể cao ngang đầu gối. Mưa to nữa thì nhà cô lập với nhà, mọi hoạt động của người dân trong xóm chỉ diễn ra trong phạm vi gia đình.

Để tới được điểm trường, học sinh trong độ tuổi mầm non và Tiểu học ở xóm không có cách nào khác là lội suối. Vào những ngày mưa to, nước dâng cao các em phải nghỉ học.

Đang ngắm nghía khu vui chơi đặt ngoài sân của điểm trường, tôi bỗng nghe tiếng xe máy rú ga ầm ĩ và một tiếng “roành” kèm theo tiếng chó sủa loạn xạ. Chúng tôi vội chạy xuống xem có chuyện gì, thì ra là người đi thu mua chó. Chắc do không quen đường, chở hàng cồng kềnh, lòng suối lại mấp mô nên người đã không làm chủ được tay lái, đổ xe ngã sõng soài. Mấy chú chó trong lồng chạm nước hoảng loạn sủa.
Phụ giúp dựng được chiếc xe và lồng hàng lên, chằng ngay ngắn lại, tôi tiếp tục đi về phía cuối xóm. Lúc lúc, tôi lại gặp người đi xe máy đèo hàng. Người đi xát gạo, người đi nghiền ngô, người mua hàng hóa dưới phố huyện về… Dù đã thuộc đường như trong lòng bàn tay, song nhiều đoạn, họ vẫn phải dùng 2 chân rà rà trên mặt nước để giữ thăng bằng cho xe giống như 2 mái chèo của vận động viên đua thuyền vậy. Thế nhưng, chuyện bị đổ xe, ướt hàng vẫn xảy ra như cơm bữa.
Đi đến gần cuối dòng suối, tôi rẽ vào thăm nhà Bí thư Chi bộ Đặng Nho Minh. Anh Minh vừa đi phát bãi về, mồ hôi nhễ nhại. Có khách, anh rửa vội chân tay ra bàn pha nước rồi vồn vã hỏi tôi: Đi vào đây có vất vả lắm không? Rồi anh thông tin, con suối chạy dọc trong xóm có chiều dài khoảng 2km. Ruộng canh tác của người dân cách khá xa nơi ở, người dân phải di chuyển bằng xe máy khi đi làm đồng. Đây cũng là trở ngại lớn nhất trong việc phát triển kinh tế của người dân.
Anh Minh trăn trở: Cả xã có trên 200ha đất rừng nhưng hầu hết là rừng phòng hộ, diện tích có thể canh tác được hiện nay không đáng là bao. Ngoài ra, tính bình quân, mỗi hộ gia đình có thêm 3 – 4 sào cấy lúa. Thóc, gạo nhiều nhất cũng chỉ đủ tự cung, tự cấp của mỗi gia đình. Trồng cây gì được bán, hay nuôi được con trâu, con bò, con lợn, thậm chí con chó… bao giờ cũng phải bán thấp hơn giá thị trường, vì đường đi không có nên ít người muốn vào mua.
– Bà con trong xóm có chăn nuôi được nhiều gia súc, gia cầm không anh?
Trả lời câu hỏi này của tôi, không ngờ tâm tư của anh Minh còn nặng trĩu hơn: Diện tích đất chăn thả không có mấy nên cả xóm chỉ có khoảng chưa đến bốn chục con cả trâu, lẫn bò. Lợn, gà cũng ít, nhà có, nhà không. Ít thế mà dòng suối này cũng đã ô nhiễm lắm rồi. Bao nhiêu chất thải từ sinh hoạt đến chăn nuôi đều xả hết xuống suối…
Nan giải lắm! Nhiều người cũng nghĩ đến hay đầu tư làm ăn gì đó nhưng thiếu vốn. Có ngôi nhà là tài sản lớn nhất nhưng cũng không thể mang ra làm tài sản thế chấp ngân hàng vay vốn được vì tất cả các hộ gia đình đều chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do đây là đất rừng cấm. Nói chung cuộc sống của bà con còn nhiều khó khăn quá!
Cái khó khăn mà anh Minh nhắc tới phần nào được thể hiện qua số lượng hộ nghèo và cận nghèo của xóm. Cả xóm có hơn 80 hộ dân, 1/3 trong đó là hộ nghèo và 1/3 là hộ cận nghèo. Nhiều gia đình trong số đó được xác định không thể thoát nghèo với điều kiện lao động, sản xuất như hiện tại.
Cuộc sống khó khăn cộng với đường đi khó nên mấy năm nay trong xóm không có học sinh bỏ học giữa chừng đã là thành tích đáng mừng. Tuy nhiên, tỷ lệ học sinh học xong lớp 12 tiếp tục đi học lên các trường chuyên nghiệp hoặc dạy nghề lại vô cùng ít ỏi. Một, hai năm trước cả xóm còn có khoảng hơn chục người đi làm công nhân ở các khu, cụm công nghiệp trong và ngoài tỉnh, nhưng hiện tại, hầu hết đều đã nghỉ việc trở về xóm.
Để câu chuyện bớt trầm, tôi hỏi lái anh Minh sang công tác sinh hoạt Đảng của chi bộ Tân Kim. Không ngờ, mạch buồn về những câu chuyện ở xóm lại tiếp tục. Anh Minh nhấp chén nước rồi thở dài: Chi bộ tôi phụ trách hiện giờ có 8 đảng viên, nhưng từ năm 2014 trở lại đây chưa kết nạp thêm được thêmđảng viên mới nào. Nguồn quần chúng ưu tú đã ít, nhưng ngay cả khi tìm được nguồn rồi, động viên và cho đi học lớp nhận thức về Đảng rồi về họ vẫn không muốn được kết nạp…
Vừa nói chuyện với Bí thư Chi bộ Đặng Nho Minh tôi vừa hình dung. Nếu ví xóm Tân Kim như một bức tranh thì hiện tại các mảng màu trên bức tranh ấy đều đang được vẽ bằng gam màu trầm. Điều ấy khiến người xem nó dễ cảm thấy một nỗi buồn man mác.
Mang theo nỗi buồn của anh Minh, tôi lại ngược theo lòng suối trở ra. Vừa đi vừa đếm, trên đoạn đường 2km ấy có 4 quán bán hàng tạp hóa. Gọi là quán vậy nhưng chủ yếu cũng chỉ có vài gói mì tôm, một vài túi kẹo, bánh là quà ăn vặt của trẻ con. Quán nhiều nữa thì có bán thêm mắm, muối, bật lửa, thuốc lào… Tôi ghé vào một quán xem chừng to nhất xóm. Chủ quán là anh Triệu Văn Lai vô cùng mến khách và thân thiện cho biết: Bán hàng túc tắc cho vui vài thứ hàng khô thôi, người dân mấy khi có tiền mặt đâu. Ở đây chợ xa, đi lại khó khăn nên hầu hết người dân chủ động về thực phẩm. Nhiều gia đình thay phiên nhau thịt lợn ăn đụng. Vài nhà chung nhau thịt một con cất tủ lạnh ăn dần. Khi nào hết lại luân phiên sang nhà khác, chỉ có rau xanh là phải mua thường xuyên vì không phải nhà nào cũng có đất để trồng rau.
Từ lúc nói chuyện với Bí thư Chi bộ Đặng Nho Minh và qua câu chuyện với anh Triệu Văn Lai tôi cứ thầm thắc mắc, vậy sinh hoạt hàng ngày rồi các khoản chi phí khác người dân phải làm sao?
Tôi gặp một phụ nữ có thân hình bé nhỏ, lưng chị đang đeo một bao tải gì đó chắc nặng lắm nên có cảm giác như toàn bộ cột sống của chị cố gồng cong về phía sau theo hình chữ C. Đúng lúc ấy, chị từ từ đặt được cái đáy của bao tải chạm đất và cứ thế ngồi bệt xuống, cái dây đeo bao không rời khỏi vai. Tôi lại gần hỏi chuyện, được biết chị tên là Triệu Thị Duyên, người xóm Tân Kim. Bao tải chị đeo sau lưng là đựng măng chị vừa lấy trong rừng về. Mỗi bao chị đang gùi thế kia nặng khoảng 30kg.

Chị Triệu Thị Duyên lựa cho đáy bao hàng “ngồi” vào mô đất cao, rồi cứ thế phệt xuống đất trò chuyện cùng chúng tôi

Chị Duyên kể chuyện: Hầu như, sáng nào chị cũng vào rừng tìm măng. Ở xóm đông người đi lấy măng như chị lắm! Măng sau khi lấy về sẽ tập kết ở ngay đầu đường, đoạn rẽ vào xóm. Người của xóm bên sẽ sang thu mua. Mỗi buổi đi rừng như thế, những bao măng nặng tầm 27 – 30kg có giá từ 150.000 đến 300.000 đồng tùy giá bán ở từng thời điểm. Có điều, càng ngày bà con càng phải đi xa mới có thể lấy được nhiều măng. Đi rừng vất vả, gùi măng nặng trên cả đoạn đường dài nên phải ai có sức khỏe tốt lắm mới có thể đi được 2 lượt/ngày. Còn như chị Duyên, mỗi ngày chỉ có thể đi một chuyến… Đây trở thành nguồn thu chính của nhiều gia đình. Rừng ưu ái nên cho măng vầu từ khoảng tháng 1 đến tháng 3, tiếp đó lại cho măng lứa từ độ tháng 4 đến tháng 8 âm lịch.
Trở về từ chuyến đi ấy, tôi cứ bâng khuâng, pha chút chạnh lòng. Mong muốn có được điều kiện sống tốt hơn là nhu cầu tối thiểu và chính đáng của tất cả mọi người. Ở nơi đường xấu thì mong được tốt hơn, đường nhỏ thì mong đường được mở rộng hơn. Còn với người dân ở Tân Kim, bao đời nay, bà con vẫn chỉ mơ một giấc mơ “được đi trên đường cạn”.

Kim Ngân.