Bán con gái

VNTN – Nhà văn Thái Lan Samruam Singh có tên thật là Surasighsamruam Shimbhanao (1949 – 1996). Ông viết nhiều truyện ngắn từ giữa thập niên 1970, là thập kỷ có nhiều thay đổi về chính trị và xã hội ở Thái Lan. Ông là một nhà hoạt động nhằm cải thiện đời sống của thành phần nhân dân bị thiệt thòi, Samruam Singh viết những truyện ngắn miêu tả sự khổ đau nhọc nhằn của dân quê Thái dưới áp lực của sự thay đổi gấp gáp về kinh tế và xã hội. Đó là những bức tranh minh họa cuộc sống của những người dân làng bình thường.
Ông là một trong những nhà văn hàng đầu của Thái Lan. Năm 1979 tạp chí Lok Nangsyy trao cho ông giải thưởng Cho Karaket với truyện ngắn “The Necklace – Chuỗi vòng cổ”.


Truyện ngắn. Samruam Singh
Dịch giả: Võ Hoàng Minh

Sau khi nhận lời với Yai Phloy, Lung Maa không biết phải nói với con gái thế nào. Tim ông đau nhói, biết rằng những lời Yai Phloy thốt ra hôm ấy là những lời nói láo trắng trợn. Nhưng ông sẽ phải làm gì? Dù sao đi nữa, ông sẽ phải để con gái đi với Yai Phloy. Thế thì lý do gì mà bất bình với bà ta, muốn bà nói ra sự thật? Có phải ông sẽ tự làm mất danh dự khi thẳng thắn thừa nhận với mọi người rằng ông nghèo túng đến mức phải bán con gái. Tốt hơn là cứ để Yai Phloy tiếp tục sự lừa gạt đầy thuyết phục của bà ta. Dù có sai chăng nữa, lúc ấy ông có thể la lối rằng ông bị Yai Phloy lừa. Dù sao, một người đàn ông mang tiếng bị gạt vẫn tốt hơn mang tiếng đã bán con gái đi làm đĩ. Những lời có cánh của Yai Phloy lan tỏa khắp nơi. Ai mà nghe được hẳn sẽ bị hấp dẫn. Yai Phloy khởi sự bằng cách trình bày thật chi tiết vì sao ngày nay hành vi của bọn trẻ càng ngày càng tệ, đặc biệt là trẻ con thành phố, và đặc biệt là ở Bangkok. Sở dĩ như vậy là vì cha mẹ chúng quá bận bịu công việc, phấn đấu cho tương lai, đến mức họ không có thời gian ở nhà với con cái. Thay vì vậy, trẻ con bị bỏ bê cho tới khi chúng gặp rắc rối. Thuê người chăm sóc con cái là cực kỳ khó. Một số người đã thuê những gia nhân mà ngay khi gia chủ không để mắt tới, liền bỏ trốn sau khi lấy mọi thứ trong nhà. Còn việc gia nhân lấy cắp chút ít thì xảy ra ở nhiều nơi. Vấn đề chính là loại gia nhân đó không tin cậy được. Ngay khi chúng chỉ mệt chút ít, hay bị phê bình hoặc rầy la chút xíu, chúng bỏ về nhà ngay. Hậu quả là nhiều người giàu có ở Bangkok đã nhờ Yai Phloy tìm cho họ những cô gái có thể nhờ cậy để làm gia nhân. Họ trả lương hậu hĩnh và, hơn nữa, còn trả tiền trước. Bao nhiêu cô thì bà cũng có thể sắp xếp chỗ làm. Mặc dù Yai Phloy không phải là người cùng làng, Lung Maa đã biết Yai Phloy từ hồi bà còn con gái. Hồi ấy, vẻ đẹp của bà nổi tiếng khắp vùng. Nhưng trước khi trai làng kịp tranh nhau chiếm hữu bà, Yai Phloy đã bỏ đi Bangkok với một người quảng cáo thuốc. Lâu lắm về sau này, khi bà về làng thì nổi tiếng là đã trở thành người Bangkok hoàn toàn, kiêu kỳ và kiểu cách. Bà tỏ ra là một quý bà giàu có. Yai Phloy về làng rồi lại đi Bangkok đều đều. Về những cô gái đi Bangkok với bà, một số trở về nghèo hơn trước. Và một số thì mất tiêu luôn.

Lung Maa biết rõ loại công việc mà những cô gái đi với Yai Phloy làm ở Bangkok, nhờ một hôm ông đi tiêm thuốc ở trung tâm y tế huyện. Hôm ấy, ông bác sĩ duy nhất ở đó thận trọng kể với ông rằng hai, ba cô gái đi Bangkok với Yai Phloy đã trở về bị những ca bệnh lậu trầm trọng, trầm trọng đến mức ông phải gửi họ lên tuyến tỉnh điều trị. Lung Maa thở dài sườn sượt khi nghĩ đến cô con gái sắp trở thành một người thêm vào đội ngũ những cô gái không may. Ông muốn nói chuyện với con gái để cho con hiểu và để nó đỡ rắc rối càng nhiều càng tốt. Nhưng ông không biết nói gì. Paa Saeng, người bạn đời của ông, đang nằm trong bệnh viện thành phố vì đau ruột. Bà đang chờ tiền để trả tiền máu và phẫu thuật cần thiết để cứu mạng bà. Dù bà sống thì cũng chỉ tiếp tục sự đau đớn và chịu đựng. Ông không còn vay mượn tiền ai được nữa. Hiện thời nợ của ông tổng cộng đã lên tới khoảng 10.000 baht(1). Ông đã mang nợ gần mười năm. Trong từng ấy năm, mọi gắng gỏi của ông chỉ đủ để làm cho khoản tiền lãi chậm thành lãi kép. Có một năm, giá tỏi đặc biệt cao, và đó là lý do làm cho ông lâm vào hoàn cảnh hiện nay. Năm đó những nhà buôn đến tận làng, mua với giá từ 14 đến 15 baht một ký lô tỏi. Điều đó có nghĩa là, chỉ lần này, Lung Maa đủ tiền để nghĩ đến việc xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn. Vì thế ông đã vay 10.000 baht. Với khoản tiền đó và tiền ông đã tiết kiệm trước đây, ông đã mua ba rai(2) ruộng. Ông sẵn sàng trả lãi suất 150 thang(3) lúa mỗi năm. Ông đã dự tính sẽ dùng toàn bộ vụ lúa thu hoạch từ ruộng mới mua để trả lãi và dùng tiền lúa mùa khô để trả nợ gốc.
Nhưng ông bị xui xẻo. Năm kế đó, giá tỏi rớt xuống còn từ 30 đến 50 satang(4) một ký lô, bất chấp nỗ lực nhân nhượng của ông là mang tỏi đến tận kho của nhà buôn, bất chấp thực tế tỏi giống ông đã mua rất đắt, gần 50 baht một ký lô. Ông nghĩ người ta nhập tỏi từ Trung Quốc. Năm đó khởi đầu chu kỳ tuột dốc của ông. Cho dù ông vất vả cố gắng trong những mùa sau, tiền lời kiếm được chỉ đủ để nuôi gia đình. Một năm, giá lúa rớt xuống 5 baht một thang, buộc ông phải gán lô đất mới cho người chủ nợ. Nhưng ông vẫn còn mắc khoản nợ lớn hơn trị giá lô đất ông đã thừa hưởng của cha mẹ. Nợ của ông cứ tăng đều. Bây giờ ông nai lưng làm việc với bốn rai đất mà không được gì, vì lúa ruộng hóa thành tiền lãi trả nợ. Hy vọng một ngày nào ông hết nợ đã tàn lụi. Trong khi nghĩ về quá khứ, mắt ông rướm lệ đắng cay vì số phận của mình, trào ra khi nghĩ đến tương lai. Trong ba ngày nữa, con gái của ông bị ép vào địa ngục ở Bangkok khi đang còn sống. Hai hay ba tuần tới, một lần nữa ông lại gặp tiếng thở dài đau khổ của người chủ nợ nhẫn tâm đến thu 200 thang lúa. Năm nay trời không đủ nước, vì vậy ông không chắc sẽ có đủ lúa để trả lãi hay không, và nếu vậy sẽ không còn gì nữa. Khổ đau xé lòng khi ông nhớ lại những lời của người chủ nợ, âm âm trong trí ông: “Maa à, món tiền ông nợ tôi bây giờ giá trị đã hơn miếng đất ông thừa hưởng rồi. Tôi làm gì bây giờ đây? Nếu cứ tiếp tục như thế này, tôi sợ rằng sẽ phải nhờ tịch biên nhà và đất của ông. Năm tới con tôi đi nước ngoài, vì vậy tôi sẽ tốn kém nhiều. Lúc đó làm ơn trả hết cho tôi, chứ không chỉ trả lãi”. Bây giờ thì con gái của ông đã đi với Yai Phloy. Ông đã cố không khóc. Ông đã nói lời chia tay với đứa con gái đã vâng lời Yai Phloy không chút thắc mắc. Nếu nó gặp phải chuyện gì, nó sẽ viết thư cho ông biết. Ông an ủi con gái bằng cách nói nếu ông có dịp, thì sẽ đến thăm nó. Về những gì ông dự tính nói với nó, thì không một lời nào được thốt ra.Số tiền trả trước 2.500 baht của Yai Phloy ông đã nhận chỉ đủ để trả chi phí bệnh viện cho Paa Saeng. Khi Paa Saeng về nhà và biết rằng con gái bà đã đi với Yai Phloy, bà xỉu ngay. Khi bà tỉnh lại, bà cứ khóc mãi. Bà không nói cũng không nhìn mặt Lung Maa, bỏ mặc năm đứa con đang đứng vây quanh bà. Lung Maa không biết nói gì, vì thế ông lặng lẽ làm những sợi dây lạt để bó lúa.
Khuya đêm đó, khi các con đã ngủ hết, giọng của Paa Saeng thổn thức, thì thầm: “Phii Maa, anh không biết Yai Phloy bắt con gái mình làm gì sao?”.
“Mẹ nó à, tôi biết, nhưng cần phải vậy. Bà cũng như tôi biết rằng mình không có cách nào khác. Khi em ở trong bệnh viện, nếu mình không có tiền để trả chi phí thuốc men, máu, nước biển, và những chi phí khác, bác sĩ sẽ không điều trị cho em. Họ không cho chúng ta vào khu dành cho người cơ cực. Em có giận tôi không?”
“Không, em không giận. Nhưng em buồn. Từ hồi sinh đến giờ, không có gì đau khổ như vậy”.
“Em có biết rõ Yai Phloy không?”
“Ôi người ở chợ biết bà ấy quá rõ. Bả đã đưa nhiều đứa con gái của họ đi bán rồi. Có đứa bả được trả 500 baht, một số đứa thì từ 2 đến 300 baht. Bả bán tất cả. Chính bả là gái mãi dâm mà, từ hồi bả còn trẻ kìa. Khi không còn có thể bán mình, bả bắt đầu bán con gái trẻ. Ba mẹ bả hồi đó mắc nợ nhiều. Giờ thì họ có vẻ khá hơn, nhưng vẫn còn nợ”.
“Tôi lo lắng cho con gái mình. Tôi cảm thấy ân hận. Từ hồi nó đi, tôi không ngủ được”.
“Phii Maa, chuyện đã lỡ rồi chẳng làm gì được nữa, thôi mình cho qua đi. Mình sẽ giúp nhau chia sẻ gánh nặng sai lầm. Cứ xem nó đã đi lấy chồng, chỉ có điều chẳng phải là chồng thật… Đến khi nó kiếm được tiền để giúp đỡ cha mẹ, tôi tự hỏi bao nhiêu người chồng nó đã lấy…”.

(1) Baht: bạt, đơn vị tiền Thái Lan.
(2) Rai: đơn vị đo diện tích, bằng 1.600m2 (40m x 40m).
(3) Thang: giạ lúa, năm 1977, một giạ lúa bán được 45 – 50 baht.
(4) Satang: 100 satang = 1 baht.