Ký ức trở lại

VNTN- Bữa đó chúng tôi uống rượu rất nhiều không chỉ bởi ngày mai mình chia tay Thái Nguyên, mà còn vì sự cảm động bởi tình nghĩa quân dân, tình nghĩa của U Mạc và cô con gái yêu kiều cùng vài cô bạn thân rất nhiệt tình cụng ly trao gửi ánh mắt nụ cười, dành cho chúng tôi một thứ tình cảm thân thương vô bờ bến!

           Ấm tình dân quân (Ảnh minh họa, nguồn: vov.vn)

Vào những năm cuối của thập niên 80 tôi cũng như bao chàng trai tuổi vừa đôi tám ở khắp mọi miền lên đường tòng quân. Vượt qua ba tháng huấn luyện gian khổ, chúng tôi lần lượt được điều động đi đến các đơn vị theo mệnh lệnh của cấp trên. Định mệnh, tôi và mười mấy anh em lính thị xã Bắc Giang đến với nhau trong một buổi chiều sâm sẩm tối năm đó, sau bữa cơm chiều đạm bạc của người lính huấn luyện gồm một miếng thịt nửa nạc nữa mỡ thái mỏng dính, vài ba cọng rau muống luộc chấm “nước mắm Đại Dương”, bát canh “Toàn Quốc” được chúng tôi húp vội vã. Nói đến bữa cơm của lính cái thời huấn luyện vẫn có câu ca “Cơm ăn thoải mái hai lưng bát/ Thịt gắp mỏi tay một miếng bì”- Giờ mọi thứ đó đã trở thành kỷ niệm!

Mọi người được gọi lên tập trung trước sân của tiểu đoàn huấn luyện mang theo toàn bộ quân tư trang cá nhân đã được phát từ lúc mới nhập ngũ. Lúc đó không ai biết rằng mình sắp sửa được điều động đi đến một đơn vị mới.

“Tất cả nghiêm!” – Vị chính trị viên phó tiểu đoàn dập chân cái rộp và hô vang, tiếp đó quán triệt tinh thần sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ của người lính. Lúc đó chúng tôi mới vỡ lẽ và biết rằng mình chuẩn bị phải hành quân gấp mà không biết sẽ đi đến đâu. Một đoàn xe tải quân sự trùm kín vải bạt bịt bùng đã chờ sẵn chúng tôi. Từng tốp lính trật tự lặng lẽ trèo lên xe theo lệnh của chỉ huy tiểu đoàn. Tôi được xướng tên và trèo lên chiếc xe quân sự Gát 69 của Nga cùng với số anh em khoảng gần 20 người. Trong lòng chúng tôi ai cũng thấy hồi hộp vì biết rằng mình chuẩn bị hành quân xa, mà thực sự không ai biết nơi mình sẽ đến vì đó luôn là bí mật quân sự.

Đoàn xe quân sự gầm gào chở chúng tôi lắc lư vượt qua những ổ gà, ổ trâu, ngồi trên xe chúng tôi cảm nhận được từng đám bụi đỏ từ phía những chiếc xe chạy phía trước đang trút lại đằng sau vùi lấp bao trùm chiếc xe mà chúng tôi đang ngồi. Thời đó đi trên đường trường toàn là các con đường đất đỏ không được duy tu bảo trì nên ổ gà, ổ trâu nhiều vô số, đi như vậy trong suốt cả hành trình thật là một cực hình!

Chúng tôi cứ đi như thế cho tới đêm khuya, cuối cùng qua một con suối – là chúng tôi cảm nhận thế vì nghe thấy tiếng nước chẩy rì rào róc rách chứ thực ra cũng không ai nhìn thấy gì. Chiếc xe đang đi đột ngột dừng lại, một mệnh lệnh ngắn gọn phát ra:

– Các đồng chí đã đến nơi. Tất cả xuống xe!

Mọi người lục tục xuống xe và rất ngỡ ngàng khi thấy mình đang ở trong một thung lũng lớn bốn bề có núi vây ở xung quanh, bên trong thung lũng là những ngôi nhà lợp mái fibro xi măng và cả những căn nhà trần bên trên nóc có những cột ăng ten chĩa thẳng lên trời. Một người đeo cấp hàm Đại úy hô vang lệnh cho chúng tôi đứng vào hai hàng dọc và thông báo cho chúng tôi biết là tất cả đã đến đơn vị mới. Lúc đó mới vỡ lẽ là chúng tôi đang ở Thái Nguyên và đơn vị đóng quân là D79, đơn vị nằm trên địa bàn xã Ao Đậu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Bắc Thái.

Rồi chúng tôi cũng quen dần với đơn vị mới sau những bỡ ngỡ ban đầu. Cuộc sống đời lính tuy rằng kham khổ nhưng ấm áp tình cảm đồng chí, đồng đội. Bức thư nhà cũng đem ra đọc chung, điếu thuốc chia đôi, cùng vui cùng buồn, cùng thưởng thức một điếu thuốc lá một chén chè thơm. Mọi thứ đều được cánh lính trẻ đem ra sẻ chia cho nhau. Khỏi phải nói những năm cuối của thập niên tám mươi mọi thứ vật chất khó khăn thiếu thốn đến nhường nào, hẳn những người trải qua thời kỳ đó đều còn nhớ rõ!

 Những vị chỉ huy đáng kính như Tiểu đoàn trưởng Trần Hay, Phó Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Cương người Hà Bắc mà chúng tôi vẫn thân mật gọi là bố. Những anh, chị sĩ quan chuyên nghiệp rất thân thiện với cánh lính trẻ chúng tôi thời đó như anh Khoa “lùn”, anh Thắng “bố bản” C1. Anh Long “cầy”, chị Hoa D bộ, chị Nga Hảo y tá… – ôi chao kỷ niệm đẹp nhiều kể không bao giờ hết được.

Thấm thoắt đã bước sang năm thứ hai đời lính, từ những bỡ ngỡ xa lạ ban đầu nơi đất khách quê người, dần dần chúng tôi cảm nhận cuộc sống của người dân nơi đây và thấy thân thương đến lạ. Nhiệm vụ của lính chúng tôi là thu tin tức của địch (TQ) để nắm bắt các hành động của địch, báo cáo cấp trên biết trước nhằm kịp thời đối phó. Chúng tôi trực chiến theo ca kíp, mỗi ca 3 tiếng các kíp trực luân phiên nhau.

Vào các ngày Thứ Bẩy, Chủ nhật chúng tôi thường đi ra bản chơi, bản ở đây là những hộ dân sống xung quanh đơn vị, gồm dân bản địa và người Kinh di cư đến sinh sống bằng nghề trồng chè. Nói đến chè Thái hẳn ai cũng đã từng nghe biết và thưởng thức, nó có màu xanh vàng sóng sánh, có vị chát ngọt thơm thơm đặc trưng, khi ta thưởng thức uống vào ban đầu có vị chát nhưng sau đó lại có vị ngọt, chúng tôi gọi là trà được nước hoặc là trà “Suýt tắc tích” vì khi pha chúng tôi cho nhiều chè đến mức kênh cả nắp ấm.

Các cô gái bản thì rất là chịu khó đun nước để pha trà mời các anh lính mỗi lúc các anh tới chơi nhà. Đặc biệt lính thị xã chúng tôi hay ra quán nước nhà U Mạc, quán nước nhà U Mạc nằm trên con đườg đi ra chợ Đồng Bẩm. Chúng tôi hay ra U chơi,  một phần vì sự hồn hậu mến khách của U, một phần thì quán nước chè của U ngon có tiếng, còn phần nữa không kém phần quan trọng là U có cô con gái vừa đến tuổi mới lớn đẹp yêu kiều diễm lệ. Tình nghĩa quân dân cứ vô tư trong sáng như vậy và thời gian thì cứ trôi đi.

Thấm thoắt thì cũng đã ba năm ba tháng bốn ngày chúng tôi trải qua đời quân ngũ ở D79 – tính tới ngày chúng tôi nhận quyết định ra quân.

Ngày ra quân bịn rịn bồi hồi. Chúng tôi ào đi chia tay các vị sĩ quan chỉ huy đáng kính, các anh, chị sĩ quan chuyên nghiệp, các đồng đội lớp lính sau. Và một kỷ niệm mãi mãi không bao giờ quên là đám lính Bắc Giang chúng tôi được U Mạc cùng cô con gái yêu tổ chức bữa cơm chia tay. Bữa đó chúng tôi uống rượu rất nhiều không chỉ bởi ngày mai mình chia tay Thái Nguyên, mà còn vì sự cảm động bởi tình nghĩa quân dân, tình nghĩa của U Mạc và cô con gái yêu kiều cùng vài cô bạn thân rất nhiệt tình cụng ly trao gửi ánh mắt nụ cười, dành cho chúng tôi một thứ tình cảm thân thương vô bờ bến!

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, chúng tôi ai bây giờ cũng đã tuổi trung niên, thỉnh thoảng họp hội đồng ngũ, mọi người lại thi nhau nhắc lại những kỷ niệm thời xưa ấy. Và trong ký ức của mọi người, Thái Nguyên lại hiện ra với những đồi chè ngút ngát, những địa danh Khe Mo, cầu Linh Nham, chùa Hang – Đồng Bẩm, rồi cầu Gia Bẩy, đường tròn thành phố,.. cùng những người dân hồn hậu dễ mến, những cô gái bản yêu kiều, xinh đẹp lạ thường.

Thời xa xưa ấy cứ đầy ăm ắp những kỷ niệm đẹp của đời lính không khi nào có thể lạt phai.

Bắc Giang, ngày 01/10/2021.

Đại Đình