Họ nhà Vòn

Truyện ngắn. Đỗ Tiến Thụy

Trát quan tri phủ sức về làng Bụa: Ngày mồng ba tháng Tám ta có quan Tây về thị sát lập đồn. Sự nháo nhác của chức dịch trong làng đã lộ tin cơ mật. Một nhóm trai làng ngựa non háu đá bàn mưu đào hố cắm chông trên đường cái để ám sát quan Tây. Nhưng những cái chông tre non bấy cắm trong cái hố nông cạn như chính lòng căm thù tự phát của họ chỉ làm què được con ngựa bạch quan Tây đang cưỡi. Sự ngây thơ đã bị trả giá. Ngay sáng sớm ngày hôm sau, một tiểu đoàn lính Âu Phi đen trũi đằng đằng như cơn bão lôi đình tràn vào làng Bụa. Tiếng súng nổ ran trời đất. “Đoàng. . . đoàng. . . đoàng!…”, tiếng súng kèm theo những tiếng rú kinh hoàng của dân lành trúng đạn…
Trong nhà Muôn, cảnh chạy loạn rối rắm. Bà mẹ chồng mù lòa cả đời chẳng nghe tiếng súng sợ vãi đái ra quần lập cập chạy trong sân, đụng vào cây cau, quay sang thì đụng vào vại nước, chiếc gậy tre khua khoắng tít mù. Muôn lao ra ngõ, tiếng súng hất ngược vào sân. Chồng Muôn loẻo khoẻo như một con giun mặt tái xanh tái xám ngồi bệt xuống sân lắp bắp như đứa động kinh. Muôn lôi tốc chồng dậy dáo dác nhìn quanh rồi chỉ lên nóc cây rơm cao nghễu. Chồng Muôn líu ríu trèo lên vai Muôn, nửa bò nửa toài như một con sên chậm chạp chui vào đống rơm vùi kín. Muôn cuống cuồng đưa mẹ chồng vào nhà, ấn xuống gầm giường, vừa lúc bọn Tây đã vào đến ngõ. Tiếng xì la xì lô loạn xị cùng bước chân huỳnh huỵch. Con trâu nhà Muôn ngửi thấy mùi lạ xì hắt ra mấy tiếng rồi lồng lộn bứt thừng vọt ra sân, mũi chảy máu ròng ròng, nghểnh đôi sừng nhọn hoắt lên, cặp mắt đỏ ngầu găm chòng chọc vào toán Tây đen khiêu chiến. Nhưng hỡi ôi! Con trâu mộng của làng Bụa không chọi lại được súng đạn. “Đoàng đoàng đoàng!…”. Con trâu rống lên một tiếng thê thảm rồi đổ vật xuống sân, máu tuôn ồng ộc.

Ảnh minh họa

Muôn nằm nín thở ghé mắt nhòm ra. “Đoàng đoàng đoàng!…”, đạn găm thun thút vào tường đất, vào bồ thóc. Gà vịt trong chuồng túa ra, lông bay lả tả, mịt mù bụi khói. Bọn lính hè nhau vồ gà vịt như một lũ rồ. Muôn nhắm mắt thầm khấn cho chúng mau mau cút khỏi. Giặc thôi trò rượt đuổi, bắt đầu sục sạo quanh hàng rào, bụi chuối. Ngôi nhà tranh vách đất tuềnh toàng chỉ có những sinh linh yếu ớt đang ẩn nấp nhưng cũng khiến cho lũ Tây đen nghi ngại. Hoặc chúng cũng biết rằng chẳng có gì xơ múi được trong đó nên chỉ đứng ngoài sân xỉa vào nhà vài loạt đạn rồi xì xồ bảo nhau quay gót. Muôn ém hơi trút nỗi lo ra nhè nhẹ. Ơn trời!
Nhưng không, những tay giết chóc hình như còn thấy thiêu thiếu một cái gì đó trong khung cảnh này nên bất ngờ quay lại. Thằng Tây đen moi túi lấy bật lửa nhằm hướng đống rơm. Máu trong người Muôn phút chốc như ngừng chảy. Muôn vơ vội vạt áo lên mồm cắn chặt. Bản năng ham sống sợ chết của Muôn vẫn còn hoạt động. Nhưng đến khi ngọn lửa lem lém liếm vào đống rơm thì bản năng ấy vụt bay biến. Muôn lao ào ra sân vừa kêu khóc, vừa lăn xả vào cuống cuồng dập ngọn lửa bạo tàn. Ngọn lửa chưa đến hồi cuồng nộ nên đã bị người đàn bà yêu chồng quên cả bản thân mình dập tắt. Tóc rối xõa tung, mặt mày lem luốc tro rơm đen quánh trong những vệt nước mắt trên khuôn mặt hồng lựng lên vì lửa của người đàn bà vừa độ tuổi mười tám mới bén hơi chồng. Bọn Tây đen chết lặng trước vẻ đẹp vừa dịu hiền vừa dữ tợn của người đàn bà A-na-mít một hồi lâu. Những khuôn mặt đen sì có ba vạch sẹo như những con châu chấu ma đờ ra ngây dại. Những cái lưỡi đỏ thè ra liếm những cặp môi dày như đỉa trâu no máu. Giá Muôn cứ đứng lặng im như thế có thể mọi chuyện sẽ khác đi. Chỉ vì sau phút định thần, ý thức được hoàn cảnh hiểm nguy, Muôn đã vùng bỏ chạy. Sự trốn chạy như một thứ kích thích khơi bùng lên ngọn lửa dục cuồng. Thằng chỉ huy to như con trâu mộng tóm gọn Muôn như tóm một con chim sẻ tả tơi sau trận bão, đè vật xuống ngay chum nước dưới cây cau… Hắn rên ò ò như bò rống… Hắn thở hồng hộc như trâu cày trong tiếng kêu cứu tắc nghẹn của Muôn: “Mình ơi… cư… cứu… em!…”. Bọn Tây cất tiếng cười hô hố. Chồng Muôn run rẩy vạch kẽ rơm, nhìn muốn nổ con ngươi mà chỉ có thể cắn tay mình đến vãi máu…
Năm, mười, mười lăm, hai mươi phút… Thằng chỉ huy rã cơn cuồng khấu. Nó ú ớ rên lên những tiếng quái rợn cùng lúc thân hình căng ứ rần rật xoắn vặn rúm ró… Nó há hốc mồm thở và phẩy tay một cái. Mặc cho lũ chấu ma ào vào xâu xé Muôn, nó tồng ngồng lảo đảo bước đến chum nước, vục một gáo dừa và đút cái cục hủy hoại to như chiếc chày giã cua nhớt nhát vào súc sùng sục. Gáo nước sàu bọt trắng! Nó hất toẹt gáo nước vào chum, ngồi bệt xuống sân nhe hàm răng trắng ởn ra cười.
Cả một tiểu đội lính lê dương rệu rã rời nhà Muôn. Chúng lột mũ sắt vục nước ao tù cúi đầu rít ừng ực…
– Tôi có đốn mạt không hở cậu? – Lão Vòn ngước cặp mắt ướt nhoèn lên hỏi tôi. Tôi cắn môi giấu một tiếng thở dài. Trong hoàn cảnh ấy lão Vòn không thể nào khác được. Một kẻ từ bé được bố mẹ nuông chiều vì là con cầu tự, nhìn thấy cái lá vàng rơi đã sợ rúm vó rồi thì làm sao dám đương đầu với súng?
– Không ai dám trách ông đâu. Nếu lúc đó ông nhảy xuống thì bọn Tây bắn ông là cái chắc. Rốt cuộc chẳng cứu được vợ mà thiệt thân vô ích.
Cứ tưởng lão Vòn sẽ nhẹ nhõm phần nào. Nhưng ngược lại, lão nhấp nhếu môi sụt sịt:
– Cậu không biết đâu. Tôi khốn nạn. Tôi khốn nạn thật mà…
Tôi ngẩn người nhìn. Lão này gở chết hay sao mà nói những điều tử tế thế nhỉ? Từ bé đến lớn tôi chưa nói chuyện với lão bao giờ. Lão là ông họ gần của tôi. Từ nhỏ tôi đã không ưa con người này. Không phải chỉ vì hàng rào nhà lão luôn ken khít rịt, đến con gà nhiếp cũng không chui lọt, khiến lũ trẻ chúng tôi chỉ còn cách nuốt nước bọt mà nhìn cây ổi hương nhà lão chi chít quả chín trắng, thơm lựng. Hầu như quanh năm lão không ra khỏi nhà. Tôi không ưa lão bởi mỗi lần giỗ họ, lão là vai trên, được xếp mâm trên với các cụ ông. Nhưng bao giờ lão cũng “Nhà cháu không uống được rượu, mạn phép các cụ cho nhà cháu được ngồi mâm dưới với các bà!”. Chả phải lão nhún nhường đâu. Mâm cỗ những năm đói kém chỏn vỏn vài đĩa thịt mỡ trắng ngàu. Các cụ ông có rượu đưa đà khề khà một chặp đã không còn gì để gắp. Mâm dưới, năm nào cũng thế, các bà bảo nhau chỉ chan toàn nước suýt, để dành thịt mang về cho những đứa con quanh năm thèm mỡ. Các bà dùng đũa gắp từng miếng một chia đều các phần. “Mời ông Vòn nhận trước!”. Lão ngồi săn văn ngắm nghía những mô thịt tin hin như cân bằng mắt, rồi chồm người sang phía bên kia mâm nhận mô thịt có phần nhinh nhỉnh. Lão tung tăng mang gói thịt về bỏ muối kho mặn chát, ăn dần. Lão sống dật dờ như cái bóng trong ngôi nhà kín như vỏ ốc cùng bà vợ dặt dẹo và đứa con cũng loèo khoèo như lão. Thế mà lần này tôi về quê, lão lại khẩn khoản mời tôi đến nhà. Nếu tôi không kịp can thì lão đã bóp cổ con gà mái ri đang nhảy ổ.
– Chỉ có cậu may ra mới giúp được tôi thôi. Nếu không tôi chết cũng không nhắm được mắt đâu, cậu ạ…
Ban đầu tôi cảm thấy khó chịu và miễn cưỡng. Nhưng nghe lão kể tôi bị cuốn vào câu chuyện đời tư của lão. Câu chuyện của năm mươi năm về trước…
***
Mặt trời đứng bóng. Quạ lượn chập chờn trên những luỹ tre tanh máu và khét mùi thuốc súng. Bọn Tây đã rút đi. Xóm làng bắt đầu trỗi lên những âm thanh ai oán. Tiếng hờ khóc của người mẹ chết con. Tiếng rên rỉ của ông già Lân nghễnh ngãng. Khi bọn Tây vào nhà, ông chui vào xó cửa, lấy cái nong chắn bên ngoài. Bọn Tây nhìn thấy chân ông thò ra bèn cất tiếng gọi. Ông ngồi run nhong nhóc không ra. Thằng Tây đá văng cái nong, xách tai ông lên, vung dao. Xoẹt! Ông ôm tai lăn lộn, máu vương vãi khắp nhà… Ngoài sân chùa, tiếng xôn xao nhớn nhác của dân làng quanh giếng cạn, xác một người còng queo dưới đáy. Ông lý trưởng dẫn bọn Tây lục lạo khắp làng nhưng không tìm thấy Việt Minh, sợ quá ông nhảy xuống giếng mong tìm nơi ẩn trốn, nhưng Tây đã chõ súng xuống, đòm! Không ai hay việc xảy ra ở nhà Muôn, cũng không ai để ý Muôn đang nằm chết thiếp như một cái xác trên thềm sân lạnh.
Hắn run như chó phải pháo, vừa tụt khỏi cây rơm vừa khóc tu tu. Đáng lẽ phải ôm ngay lấy vợ mà kêu nhưng hắn lại không làm thế. Hắn phệt xuống sân, khóc và giãy đành đạch như trẻ con bị mất đồ chơi. Khóc chán, hắn lao vào Muôn, vừa đấm đá vừa cào xé. Muôn đau đớn ê chề lê lết kêu van: “Tôi… làm gì… nên… tội?…”. Hắn gào lên, nước mắt nước mũi ròng ròng: “Đồ con đĩ! Ông nhìn thấy hết nhớ!”. Muôn nhắm nghiền mắt chịu trận đòn ghen quái gở. Những cái đấm đá của tay cớm nắng trói gà chẳng nổi không thấm tháp gì so với cái đau nhức nhối đang lan từ hố chậu buốt lên tận óc…
– Tôi khốn nạn thế đấy cậu ạ… Bây giờ nhiều đêm tôi không thể nào chợp mắt. Cứ nhớ đến ngày ấy là vã cả mồ hôi!
Tôi ngồi thần cả người ra. Lão Vòn vô học, ru rú xó quê… Cả một tiểu đội lính lê dương… Tôi đây này, đã bằng nọ bằng kia, từng đi nước này nước khác. Vậy mà hơn chục năm rồi, tôi không thể quên một phút, cái phút vợ tôi, trước khi nhận lời yêu đã ngước cặp mắt tội đồ thú nhận không còn trong trắng nữa. Một cái gì đó to lắm, cao lắm đổ nhào khiến tôi cảm thấy hẫng sụt. Lòng tôi trống huếnh mất bao ngày. Đã bao lần tôi dùng lí trí ép cái cảm giác mất mát, thiệt thòi ấy xuống, nhưng nó như một bóng đen dai dẳng luôn bám riết lấy trí óc tôi. Tôi nói nhỏ với lão Vòn mà như nói với mình:
– Sự việc qua rồi, ông dằn vặt làm gì cho khổ?
Lão Vòn lắc đầu nhè nhẹ, cặp mắt đẫn đờ:
– Cậu không biết đâu. Mẹ con tôi giấu kín chuyện Muôn bị Tây hiếp. Làng xóm không ai biết cả…
– Ông giấu được là tốt, thế thì có gì mà ông phải ân hận?
Lão Vòn bất ngờ ôm mặt khóc hu hu như con trẻ. Nước mắt chảy đẫm kẽ bàn tay xương xẩu…
***
Muôn vật vờ như tàu lá héo. Căn bệnh quái ác từ bọn lính viễn chinh đổ vào người Muôn như một lời khai tử. Rất từ từ, rất ác hiểm, nó ngấm ngầm tàn phá Muôn từ bên trong. Muôn nằm bẹp trên chõng tre, cửa mình dề dề tháo mủ. Ngôi nhà tranh bốc mùi thối khắm đến nỗi Muôn phải lấy vải thô bọc tro bếp lót quần. Lão Vòn bỏ mặc cho bệnh hoạn gặm dần dần thân thể Muôn mà không mời thầy thuốc. Đầu Muôn trọc lóc như trái bưởi. Muôn mê man lảm nhảm bảo tai có con gì kêu u u, có những giọt nước gì buốt lắm cứ rỉ rả nhỏ lạnh, nhỏ lạnh ở đỉnh đầu…
– Lúc ấy tôi mong cho cô Muôn nhanh chết. “Mày chết đi cho ông nhờ! Đồ đĩ rạc đĩ rày!… Mày chết đi! Mày chết đi!”. Tôi rít rẩm trong cổ họng như thế suốt ngày đêm. Muôn đã mấy lần thều thào van tôi cho cô ấy về nhà mẹ đẻ chữa bệnh, nhưng tôi không cho. Đến khi họ nhà cô ấy biết thì bệnh đã nặng lắm rồi. Toàn thân cô ấy xẹp lép như một mớ xương đùm giẻ… Giời ơi! Tại sao tôi lại khốn nạn thế hở giời? – Lão Vòn ngửa cổ kêu lên những tiếng xót xa. Tôi trân trân nhìn lão. Thuở nhỏ tôi nghe loáng thoáng lão Vòn đã bỏ chết một đời vợ trước. Chuyện của các cụ, tôi không mấy để tâm. Đâu ngờ nó lại thế này.
– Đằng nhà cô Muôn nhận con về chạy chữa mà không dám hé răng trách tôi lấy một nhời. Cậu không biết đâu. Ngày xưa, bệnh cô Muôn là căn bệnh điếm nhục đổ vào cả dòng họ. Mẹ con tôi giấu biệt chuyện Muôn bị Tây hiếp là để giấu cái thói ươn hèn nhu nhược của tôi…
– Cũng dễ hiểu thôi. Ai muốn phơi cái xấu của mình ra? – Tôi thông cảm với lão Vòn. Tưởng lão sẽ nguôi ngoai, không ngờ lão khóc méo xệch cả mồm:
– Nhưng tôi lại vu cho Muôn mấy tháng trước đi gặt lúa thuê ngoài Triều Khúc đã lăng loàn trai gái nên mới mắc tim la!
– Tôi thật không ngờ… Ông là đồ…
Tôi muốn tuôn ra muôn ngàn lời rủa xả táp vào bộ mặt nhăn như mớ giẻ kia. Nhưng tôi kìm lại được. Tôi bặm môi quắc mắt nhìn lão. Lão co rúm người lại như con giun bị lật đất phơi ra ánh sáng mặt trời. Tôi rùng mình ghê sợ nhìn lão Vòn như nhìn một con rắn độc. Người ta bảo mỏng môi hay hớt… Môi lão Vòn mỏng dính, dẩu lên thế kia… Chả trách lão dựng chuyện điêu trác hất hình. Lão nghĩ Muôn sớm muộn gì cũng chết nên điều gian dối của lão không thể bị Muôn tố giác.
– Thế ông lấy vợ khác ngay lúc đó à?
Lão Vòn lờ đờ nhìn tôi:
– Không, một năm sau cơ, cậu ạ…
Lão ngồi so lại, đầu gối củ lạc nhô lên quá tai. Khoảng trán vốn đã ngắn choằn giờ càng ngắn hơn bởi những nếp nhăn nhàu nhĩ…
***
Cứ tưởng bệnh Muôn vô phương cứu chữa. May nhờ có ông lang Mường với bài thuốc bí truyền được vời tới khám bệnh cho Muôn. Ông lang gọi riêng bà Diên ra chỗ vắng nói nhỏ: “Bệnh cô nhà ăn sâu quá, cụt hết cả buồng trứng rồi! Gia đình đồng ý tôi sẽ chữa, nhưng cô nhà không thể sinh nở được”. Bà tái mặt nhưng cắn môi gạt nước mắt gật đầu. Còn người còn của, cốt Muôn sống được là may. Nhưng Vòn thì không nghĩ thế. Đàn bà là cái máy đẻ con. Không đẻ đái gì được nữa thì “thay nái”, huống hồ nhà Vòn mấy đời độc đinh… Mẹ con Vòn nguây nguẩy không cho Muôn về lại. Nhà Muôn thì coi con gái đã đi lấy chồng, sống nhà người, chết là ma nhà người, nên thúc ép Muôn đi. Quay qua quẩn lại. Bà mẹ Vòn có vẻ xuôi xuôi. Nhưng Vòn thì mặt rắn câng như gỗ đá. Muôn cắn răng quì lạy chồng, nước mắt đầm đìa mà không lay chuyển được con người trơ tráo, đành khăn gói cúi mặt lầm lũi trở về nhà mẹ đẻ.