Trò phi dao

Truyện ngắn. Heinrich Boell (Đức)
Dịch giả: Phạm Đức Hùng

Jupp cầm con dao ở phía đầu nhọn của lưỡi và để cho nó đu đưa một cách cẩu thả, đó là một con dao dài dùng để cắt bánh mì, được mài sắc, và tôi nhận thấy nó rất sắc. Bất ngờ cậu ta tung con dao lên cao, trong khi lưỡi dao sáng loáng lấp lánh trong một luồng ánh sáng mặt trời cuối ngày như một con cá vàng, con dao chạm vào trần nhà, sự lộn vòng của nó bị chặn lại, và nó lao vút, thẳng xuống đầu của Jupp; nhanh như chớp Jupp đã đặt một khúc gỗ lên đầu của mình; con dao cắm phập vào khúc gỗ, sau đó nghiêng qua nghiêng lại. Jupp bỏ khúc gỗ xuống, rút con dao ra và phi nó với một vẻ mặt cau có, giận dữ vào cánh cửa, nơi mà nó lại rung lên khi cắm vào, trước khi nó hết đu đưa một cách từ từ và rơi xuống đất…
Thật ghê tởm!”, Jupp khẽ nói. “Em đã bắt đầu với một giả thiết hiển nhiên rằng thiên hạ thích nhìn nhất những con số nào đó khi họ đã trả tiền tại quầy thu ngân, nếu như sức khỏe hoặc cuộc đời của người diễn viên ở trong vòng nguy hiểm – giống như trong rạp xiếc La Mã – ít nhất họ cũng muốn biết là máu có thể chảy, anh hiểu chưa?”.
Cậu ta nhặt con dao lên và vung tay vừa phải phi nó vào bậu cửa sổ, mạnh đến nỗi các tấm kính kêu lạch cạch và sắp rơi ra khỏi lớp nhựa mát-tít đã bị bở ra. Cú phi dao này – mạnh và chính xác – làm tôi nhớ lại những giờ phút đen tối của quá khứ, khi mà cậu ta đã để cho con dao nhíp của mình leo lên leo xuống những cái cột hầm. “Nhưng em muốn làm tất cả”, cậu ta nói tiếp, “để tạo ra sự hứng thú cho các ông chủ. Em định cắt hai tai của mình đi, nhưng đáng tiếc là không có người nào có thể dán chúng lại cho em; và sống mà không có tai – thì khi đó em thà ở lại trong tù còn hơn. Anh hãy đi theo em”. Cậu ta mở toang cánh cửa, để tôi đi trước, và chúng tôi đi ra gian cầu thang, nơi chỉ còn những mảng giấy dán tường bám chặt vào những vị trí mà người ta không thể bóc chúng ra được vì sự dính chặt của keo dán, để mang chúng đi nhóm lò. Sau đó chúng tôi đi qua một phòng tắm tồi tàn và bước ra một nơi gần giống như sân gác, nền bê tông của nó lỗ chỗ, mọc đầy rêu. Jupp chỉ tay vào không khí.

Ảnh minh họa

Dĩ nhiên là con dao cắm xuống càng mạnh khi nó càng bay cao. Nhưng em cần một vật cản ở phía trên, nơi con dao bật lại, mất đi đà bay lên của nó, để nó lao vút một cách rất nhanh và thẳng đứng xuống cái đầu vô dụng của em. Anh hãy nhìn xem”. Cậu ta chỉ tay lên phía trên, nơi có bộ khung dầm bằng thép đỡ một cái ban công sắp sập xuống nhô ra khoảng không.
Em đã luyện tập ở đây. Trong cả một năm trời. Anh hãy quan sát”. Cậu ta tung mạnh con dao lên cao, nó bay lên với một quán tính và sự cân đối tuyệt vời, nó có vẻ bay lên một cách dễ dàng và nhẹ nhàng như một con chim, sau đó đụng phải một trong những cái dầm thép, lao vút xuống với một tốc độ nhanh như chớp và cắm phập vào khúc gỗ. Đương nhiên cú lao xuống của con dao phải rất mạnh. Jupp không tỏ vẻ gì. Con dao đã cắm sâu vào khúc gỗ một vài phân.
Điều đó thật là tuyệt vời, đồ quỷ sứ”, tôi hét lên, “điều đó đúng là rất tuyệt vời, chắc chắn họ phải thừa nhận điều đó, rõ ràng đó là một con số!
Jupp thản nhiên rút con dao ra khỏi khúc gỗ, nắm lấy nó ở đằng chuôi và chém vào không khí.
Dĩ nhiên họ thừa nhận điều đó, buổi tối họ trả cho em mười hai mác(1), và em được phép biểu diễn một chút bằng dao với hai con số lớn hơn. Nhưng con số thì quá đơn giản. Một người đàn ông, một con dao, một khúc gỗ, anh hiểu chưa? Em cần phải có một người đàn bà ăn mặc hở hang, để em phi những con dao sát sàn sạt vào người ả. Sau đó họ sẽ hoan hỉ. Nhưng anh hãy tìm cho em một người đàn bà như thế!
Cậu ta đi trước và chúng tôi quay trở lại căn phòng của cậu. Cậu ta cẩn thận đặt con dao lên trên bàn, đặt khúc gỗ cạnh con dao và xoa hai tay vào nhau. Sau đó chúng tôi ngồi xuống cái hòm bên cạnh bếp lò và im lặng. Tôi lấy bánh mì ở trong túi ra và hỏi: “Chú có ăn không?”.
Có chứ. Nhưng bây giờ em đi pha cà phê đã. Sau đó anh hãy đi cùng em và xem em biểu diễn
Cậu ta cho củi vào lò, đặt chiếc nồi lên lò để đun nước. “Điều đó thật bất công”, cậu ta nói, “em nghĩ, trông em quá nghiêm trang, có thể còn hơi giống một thượng sĩ, đúng không?”.
Vô lí, rõ ràng là chú chưa bao giờ là một thượng sĩ. Khi họ vỗ tay chú có mỉm cười không?
Đương nhiên rồi – và em cúi chào họ
Tôi không thể làm được điều đó. Tôi không thể mỉm cười trên một nghĩa địa
Đó là một nhược điểm lớn, đúng là người ta cần phải mỉm cười trên một nghĩa địa
Tôi không hiểu chú định nói gì
Vì thực tế họ không chết. Không ai chết, anh hiểu chưa?
Tôi hiểu rồi, nhưng tôi không tin điều đó
Chính anh vẫn còn hơi hướng của một trung úy. Anh thừa biết, nếu em biểu diễn như thế thì thời gian biểu diễn sẽ kéo dài hơn, điều đó thì đương nhiên rồi. Chúa ơi! Em sẽ rất vui, nếu điều đó mang lại cho họ niềm vui. Họ đã quá mệt mỏi, và em muốn mang lại cho họ một chút niềm vui, để họ trả tiền cho em. Có thể sẽ có một người, một người duy nhất, đi về nhà và không quên em. Có thể anh ta sẽ nói: ‘Quỷ tha ma bắt hắn đi! Cái gã tung dao ấy, hắn không sợ, còn tôi thì lần nào xem hắn biểu diễn cũng thấy sợ.’ Bởi vì tất cả bọn họ lần nào xem em biểu diễn cũng thấy sợ. Họ kéo theo nỗi sợ hãi như kéo theo một bóng đêm nặng nề, còn em thì thấy vui, nếu họ quên điều đó đi và cười một chút. Đó không phải là lí do để mỉm cười sao?
Tôi im lặng và mong cho nước chóng sôi. Jupp pha cà phê trong cái ca bằng tôn màu nâu, sau đó chúng tôi thay nhau uống cà phê ở trong đó và ăn bánh mì của tôi mang đến. Bên ngoài trời đã bắt đầu tối dần, trong phòng cũng trở nên tối và lạnh hơn.
Thực ra dạo này anh đang làm gì?
Chẳng có công việc gì cố định cả… tôi phải kiếm sống một cách chật vật.
Cũng vất vả đấy nhỉ.
Ừ – để có được bánh mì tôi đã phải tìm và đập hàng trăm hòn đá. Làm công nhân thời vụ.
Hừm… anh có còn muốn xem một trong những trò nguy hiểm của em nữa không?
Cậu ta đứng dậy, vì tôi gật đầu, bật đèn và đi về phía tường, đẩy bức rèm dày như một tấm thảm sang một bên; hình vẽ một người đàn ông được vẽ bằng than nguệch ngoạc hiện ra trên bức tường được quét sơn màu hơi đỏ, ở chỗ vồng lên một cách kì dị giống như một cái bướu, nơi mà phải là cái đầu, có lẽ cần phải vẽ thêm một cái mũ. Khi nhìn gần hơn tôi nhận ra rằng hình người đàn ông được vẽ lên một cánh cửa được che đi một cách khéo léo. Tôi chăm chú quan sát, khi giờ đây Jupp kéo ra một cái va li màu nâu xinh xắn ở dưới cái giường tồi tàn của mình, đặt nó lên bàn. Trước khi cậu ta mở nó ra, cậu ta đi lại chỗ tôi và đặt bốn tóp thuốc lá xuống trước mặt tôi. “Anh hãy cuốn thành hai điếu nhỏ”, cậu ta nói.
Tôi ngồi ra chỗ khác để tôi có thể nhìn thấy cậu ta và đồng thời để nhận được nhiều hơn hơi ấm dễ chịu của bếp lò. Trong khi tôi cẩn thận bóc những mẩu thuốc hút dở ra, tôi dùng mảnh giấy gói bánh mì để đựng những sợi thuốc lá, thì Jupp đã mở được ổ khóa của chiếc va li và lấy ra một cái bao nom rất lạ, đó là một trong những cái bao vải được khâu bằng nhiều túi nhỏ mà các bà mẹ của chúng ta thường bảo quản những bộ dao ăn được tặng làm của hồi môn ở trong đó. Cậu ta nhanh chóng cởi dây buộc, trải cái bọc đã được cuộn lại ra bàn, và một tá dao với những cái chuôi bằng sừng lộ ra, những con dao mà các bà mẹ của chúng ta khi còn nhảy điệu van-xơ(2) vẫn gọi là “bộ dao ăn của thợ săn(3)”. Tôi chia đều dúm thuốc lá thu được từ bốn tóp thuốc lá ra hai mảnh giấy mỏng và cuộn thành hai điếu thuốc.
Thuốc lá đây”, tôi nói.
Cám ơn”, Jupp nói, “anh cũng hút đi”. Sau đó cậu ta cho tôi xem toàn bộ cái bao.
Đó là thứ duy nhất mà em còn giữ được từ tài sản của bố mẹ em. Hầu như tất cả mọi thứ đã bị thiêu cháy, bị chôn vùi trong đống đổ nát, những thứ còn lại thì đã bị đánh cắp. Khi em ra tù với bộ quần áo rách rưới, hôi hám trên người, em hoàn toàn chẳng có gì – cho đến một ngày một bà già quý phái, người quen của mẹ em, đã tìm thấy em và mang đến cho em chiếc va li nhỏ nhắn, xinh đẹp này. Ít ngày trước khi mẹ em bị bom giết hại, mẹ em đã mang chiếc va li này đến nhà bà ấy gửi cho an toàn, và nó đã được giữ gìn. Thật kì lạ, phải không anh? Nhưng chúng ta cũng biết rằng người ta thường cố giữ lấy những đồ vật kì cục nhất khi nỗi sợ hãi về cái chết đã xâm chiếm họ. Họ không bao giờ giữ lại thứ thiết yếu. Chính vì thế mà hồi đó em đã có được những thứ ở trong chiếc va li nhỏ này: cái ca bằng tôn màu nâu, mười hai cái dĩa, mười hai con dao, mười hai cái thìa và con dao dài dùng để cắt bánh mì. Em đã bán đi toàn bộ số thìa và dĩa, nhờ đó em sống được một năm và luyện tập với những con dao, mười ba con dao. Anh hãy quan sát…
Tôi đưa cho cậu ta chiếc đóm giấy mà tôi đã châm thuốc. Jupp dính điếu thuốc vào môi dưới của mình, buộc sợi dây của cái bao vào một cái cúc của áo Jắc két ở trên vai và để cho cái bao trải xuống cánh tay của mình như một món đồ trang sức lạ lùng. Cậu ta rút rất nhanh những con dao ra khỏi bao, và trước khi tôi hiểu được những động tác của cậu ta, thì nhanh như chớp cậu ta đã phi tất cả mười hai con dao vào hình vẽ giống người đàn ông ở trên cánh cửa trông như những hình người rung lên bần bật ở phía đối diện với chúng tôi từ mọi góc độ có thể nhìn thấy ngay trước khi cuộc chiến tranh kết thúc như là những dấu hiệu báo trước sự sụp đổ của tất cả các cột dán áp phích. Hai con dao cắm ở sát phía trên đầu hình người đàn ông, bên trên mỗi vai là hai con, và dọc theo bên cạnh mỗi cánh tay đang buông xuống là ba con…
Tuyệt vời!”, tôi hét lên, “Thật tuyệt vời! Rõ ràng đó lại là một con số, có thêm một chút nhạc đệm nữa thì mĩ mãn”.
Chỉ còn thiếu người đàn ông bằng xương bằng thịt, và nếu là đàn bà thì càng tốt. Thế mới chán chứ”, cậu ta rút những con dao ra khỏi cánh cửa và cẩn thận đút chúng vào bao. “Đúng là không có ai. Bọn đàn bà thì quá nhát, còn bọn đàn ông thì lại đòi giá quá cao. Dĩ nhiên em hiểu được điều đó, vì đó là một màn trình diễn nguy hiểm”.
Ngay lập tức cậu ta lại phi những con dao một cách rất nhanh để toàn bộ hình người đàn ông màu đen được chia thành hai nửa một cách chính xác với một sự đối xứng hoàn hảo. Con dao thứ mười ba, con dao to, cắm vào chỗ phải là trái tim của người đàn ông như một mũi tên chí mạng.
Jupp cố rít một hơi nữa và ném tóp thuốc đã cháy gần hết vào phía sau bếp lò.
Nào”, cậu ta nói, “chúng ta đi thôi!”. Cậu ta thò đầu ra ngoài cửa sổ, lẩm bẩm cái gì đó về “cơn mưa đáng nguyền rủa”, sau đó cậu ta nói: “Chỉ còn một vài phút nữa là đến tám giờ, tám rưỡi là đến lượt em biểu diễn”.
Trong khi cậu ta cất những con dao vào trong chiếc vali da nhỏ thì tôi nhìn ra ngoài cửa sổ. Những ngôi biệt thự bị hủy hoại có vẻ như đang rên rỉ khe khẽ trong mưa, và tôi nghe thấy tiếng leng keng của tàu điện ở đằng sau rặng bạch dương hình như đang đu đưa. Nhưng tôi không thể phát hiện ra một cái đồng hồ ở bất cứ chỗ nào.
Chú xem giờ bằng cái gì vậy?
“Bằng linh cảm – điều đó có được nhờ sự luyện tập của em”
Tôi ngây ra nhìn cậu ta. Trước tiên cậu ta giúp tôi mặc áo măng tô và sau đó mặc áo gió của mình. Vai của tôi hơi bị bại, nên tôi không thể duỗi hai cánh tay ra hết cỡ được, chỉ vừa đủ để đập đá. Chúng tôi đội mũ trùm đầu và bước ra hành lang tối tăm, lúc này tôi cảm thấy vui vì ít ra tôi cũng nghe thấy ở đâu đó trong tòa nhà những giọng nói, những tiếng cười và tiếng nói chuyện rì rầm.
Khi đi xuống cầu thang Jupp nói: “Em đã cố gắng khám phá những quy luật lạ lùng nào đó. Như thế này”. Cậu ta đặt chiếc va li xuống một chiếu nghỉ và dang cánh tay ra hai bên ngang vai, như được miêu tả ở trong một vài bức tranh cổ đại về Ikarus(4), như thể cậu ta chuẩn bị nhảy để bay lên. Trên khuôn mặt tỉnh khô của cậu ta lộ ra một chút mơ mộng lạnh lùng kì quái, một chút hơi điên rồ và hơi lạnh lùng, huyền bí, làm tôi cực kỳ sợ hãi. “Như thế này”, cậu ta khẽ nói, “chỉ cần dang tay ra là em cảm thấy hai tay của em cứ dài ra mãi như thế nào và chúng với lên ra sao tới một nơi mà các quy luật khác đang tồn tại, chúng thọc qua một lớp vỏ, và ở trên đó có những sự kích thích lạ lùng, thú vị mà em túm lấy, túm lấy một cách dễ dàng… sau đó em giật mạnh những quy luật, nắm lấy chúng, hơi thèm khát, hơi tham lam, và mang chúng đi!”. Hai bàn tay của cậu ta nắm lại, và cậu ta co chúng vào rất sát người. “Đi nào”, cậu ta nói, mặt của cậu ta lại tỉnh khô. Tôi luống cuống đi theo cậu ta…
Bên ngoài, trời mưa nhỏ, liên tục và lạnh. Chúng tôi kéo cổ áo lên và co ro, run lên vì lạnh. Sương đêm cuồn cuộn qua các con phố đã bị nhuộm màu bằng bóng tối xanh nhạt của màn đêm. Ở trong một số tầng hầm của những ngôi biệt thự bị phá hủy có ánh nến leo lét, bên dưới khối màu đen nhô lên của một đống đổ nát khổng lồ. Con đường dần dần trở thành một lối đi lầy lội, hai bên có những túp lều tối tăm trong màn đêm đã trở nên dày đặc có vẻ như đang bơi trong những khu vườn tan hoang như những chiến thuyền Trung Hoa ngày xưa đang uy hiếp trên một nhánh sông nông. Sau đó chúng tôi đi qua đường tàu điện, biến mất trong những lối đi hẹp của ngoại ô, nơi một vài ngôi nhà còn sót lại giữa những đống gạch vụn và rác rưởi khổng lồ, bẩn thỉu, cho đến khi chúng tôi đột nhiên bắt gặp một con đường rất nhộn nhịp; chúng tôi bị cuốn theo dòng người một đoạn dài và sau đó rẽ vào một ngõ hẻm tối tăm, nơi có chiếc biển quảng cáo bằng đèn neon rực rỡ của nhà hát Bảy cối xay đang phản chiếu xuống mặt đường nhựa lấp lánh.
Cửa chính dẫn vào nhà hát tạp kỹ trống không. Buổi biểu diễn đã bắt đầu từ lâu, và chúng tôi nghe thấy tiếng ồn ào khe khẽ của khán giả vọng ra qua bức rèm cửa thưa, màu đỏ.
Jupp cười, chỉ tay vào một bức ảnh ở trên các tờ quảng cáo, nơi treo ảnh của cậu ta được chụp khi cậu ta mặc một bộ quần áo cao bồi và đứng giữa hai cô vũ công đang mỉm cười ngọt ngào, ngực của các cô ấy căng phồng sau lớp vải kim tuyến lấp lánh. Ở bên dưới có dòng chữ “Người đàn ông và những con dao”.
Đi nào”, Jupp lại nói, và trước khi tôi sực nhớ ra thì tôi đã bị lôi mạnh vào một cửa vào hẹp, khó nhận ra được. Chúng tôi leo lên một cầu thang hẹp, hình xoắn ốc, chỉ được chiếu sáng lờ mờ, nơi mà mùi mồ hôi và son phấn báo cho tôi biết chúng tôi đang ở gần sân khấu. Jupp đi trước tôi, và cậu ta bất ngờ dừng lại ở một khúc quanh của cầu thang, túm lấy vai tôi, sau khi cậu ta đã lại đặt chiếc va li xuống, khẽ hỏi tôi:
Anh dũng cảm chứ?
Từ lâu tôi đã chờ đợi câu hỏi này, cho nên giờ đây sự bất ngờ của nó làm tôi sợ hãi. Tôi không muốn trông mình quá dũng cảm khi tôi trả lời:
Tôi chỉ liều mạng thôi.”
“Đó là lòng dũng cảm thực thụ”, cậu ta reo lên cùng với tiếng cười bị nén lại. “Còn bây giờ thì sao?”
Tôi im lặng, bỗng nhiên một tràng cười dữ dội vọng đến chỗ chúng tôi như một dòng thác mạnh xô chúng tôi ra khỏi chiếc cầu thang nhỏ hẹp, dữ dội đến nỗi tôi hoảng sợ và bất giác tôi cảm thấy sởn cả gai ốc.
“Tôi sợ”, tôi nói khẽ.
“Em cũng thế. Anh không tin tưởng vào em à?”
“Có chứ… nhưng… đi nào”, tôi nói bằng giọng khàn khàn, đẩy cậu ta tiến lên phía trước và nói thêm: “Thôi thì ra sao thì ra”.
Chúng tôi đi vào một hành lang hẹp, ở bên phải và bên trái của nó được ngăn thành rất nhiều căn buồng nhỏ bằng gỗ dán, chưa hoàn thành; một vài người ăn mặc sặc sỡ lăng xăng chạy đi chạy lại, và qua một khe hở ở giữa những bức phông trông có vẻ thảm hại ở phía sau sân khấu tôi nhìn thấy một anh hề ở trên sân khấu đang há cái miệng rộng ngoác của mình ra; tiếng cười dữ dội của khán giả lại vọng đến chỗ chúng tôi, nhưng Jupp kéo tôi vào một cái cửa và đóng lại. Tôi nhìn quanh. Căn phòng rất hẹp và gần như trống không. Một chiếc gương treo ở trên tường, bộ quần áo cao bồi của Jupp được treo ở một cái đinh trơ trọi, và một bộ bài cũ nằm trên một cái ghế đẩu trông có vẻ ọp ẹp. Jupp rất vội. Cậu ta cởi chiếc áo măng tô ướt ra cho tôi, ném phịch bộ quần áo cao bồi xuống ghế, treo áo măng tô của tôi lên, sau đó treo chiếc áo gió của cậu ta. Nhìn với qua bức tường của căn phòng tôi thấy chiếc đồng hồ điện treo ở một chiếc cột kiểu Doric(5) được sơn màu đỏ đang chỉ tám giờ hai mươi nhăm phút.
Năm phút”, cậu ta lẩm bẩm trong khi cậu ta mặc bộ quần áo cao bồi vào.
Chúng ta có cần thử không?
Đúng lúc ấy có ai đó gõ vào cửa phòng và gọi: “Chuẩn bị ra diễn nhé!”.
Jupp cài cúc áo jắc két và đội chiếc mũ miền Tây Hoa Kỳ vào. Tôi cười to kêu lên: “Chú chỉ muốn thử treo cổ kẻ bị kết án tử hình thôi, đúng không?”.
Jupp xách va li lên và kéo tôi ra ngoài. Một người đàn ông hói đầu đứng ở bên ngoài quan sát những cử chỉ cuối cùng của anh hề ở trên sân khấu. Jupp nói thầm vào tai ông ta điều gì đó mà tôi không hiểu, người đàn ông hoảng sợ ngước nhìn lên, nhìn tôi, nhìn Jupp và lắc đầu lia lịa. Jupp lại nói thầm với ông ta. Tất cả đối với tôi đều không quan trọng. Phải chăng họ muốn ăn sống nuốt tươi tôi? Tôi có một cái vai bị liệt, đã hút một điếu thuốc nhỏ, ngày mai tôi phải đập bảy mươi nhăm hòn đá để nhận được ba phần tư chiếc bánh mì. Nhưng ngày mai… Tràng vỗ tay như muốn thổi bay các bức phông ở phía cuối sân khấu. Qua khe hở tôi nhìn thấy anh hề đi lảo đảo về phía chúng tôi với khuôn mặt mệt mỏi, méo xệch, dừng lại ở đó một vài giây với một bộ mặt nhăn nhó và sau đó đi trở lại ra sân khấu, nơi mà anh ta cúi chào với một nụ cười nhã nhặn. Ban nhạc chơi một khúc nhạc theo tiếng hoan hô của khán giả. Jupp vẫn nói thầm với người đàn ông hói đầu. Anh hề đi ra ba lần và cả ba lần anh ta đều bước ra sân khấu để mỉm cười cúi chào! Sau đó ban nhạc bắt đầu chơi một hành khúc, và Jupp, tay xách chiếc va li nhỏ của mình, đi ra sân khấu bằng những bước chân mạnh bạo. Tiếng vỗ tay lẹt đẹt chào đón cậu ta. Tôi quan sát bằng đôi mắt mệt mỏi Jupp đính những quân bài vào những cái đinh rõ ràng là đã được chuẩn bị sẵn và sau đó cậu ta phi liên tiếp từng con dao một vào chính giữa những quân bài. Tiếng vỗ tay trở nên sôi nổi hơn, nhưng không phấn khích. Tiếp theo cậu ta thực hiện màn xảo thuật bằng con dao to dùng để cắt bánh mì và khúc gỗ trong hồi trống nhỏ, và qua sự dửng dưng của tất cả mọi người tôi cảm thấy rằng phần biểu diễn thực sự hơi nghèo nàn. Một vài cô gái ăn mặc hở hang đang đứng xem ở phía bên kia của sân khấu… Sau đó người đàn ông hói đầu bất ngờ túm lấy tôi, kéo tôi ra sân khấu, chào Jupp bằng một cái vẫy tay lịch sự và nói bằng một giọng giả cảnh sát: “Chào anh Borgalewski(6)”.
“Xin chào ông Erdmenger”, Jupp cũng nói bằng giọng nghiêm trang như thế.
Tôi đưa đến đây cho anh một tên trộm ngựa, một tên lưu manh thực thụ, kẻ mà anh chỉ phải gãi ngứa một chút bằng những con dao sạch sẽ của mình, trước khi hắn bị treo cổ… một tên lưu manh…”. Tôi thấy giọng nói của ông ta lố bịch, lạnh lùng, giả tạo như những bông hoa giấy và đồ son phấn rẻ tiền nhất. Tôi ném một cái nhìn xuống khán phòng, và từ lúc đó, trước con quái vật có vô số cái đầu đang động đậy, háu ăn, hồi hộp chờ đợi, ngồi ở đó trong bóng tối như chuẩn bị nhảy lên, thì tôi không còn tâm trí nào nữa.
Tôi hoàn toàn thờ ơ với tất cả, ánh sáng chói lọi của những chiếc đèn chiếu làm tôi lóa cả mắt, và trong bộ complê sờn rách cùng với đôi giầy thảm hại có lẽ trông tôi rất giống một tên trộm ngựa.
“Ồ, ông cứ để hắn ở đây cho tôi, ông Erdmenger, nhất định tôi sẽ trừng trị hắn.”
“Tốt, anh hãy trừng phạt hắn và đừng tiết kiệm những con dao của mình.”
Jupp túm lấy cổ áo của tôi trong khi ông Erdmenger cười nhạo rời khỏi sân khấu bằng những sải chân rộng. Một sợi dây thừng được ném ra sân khấu từ đâu đó, và sau đó Jupp trói tôi vào chân của một cái cột kiểu Doric, một cánh cửa sau của sân khấu được sơn màu xanh dựa vào phía sau nó. Tôi cảm thấy điều gì đó như một niềm thích thú của sự thờ ơ. Từ phía bên phải của khán phòng tôi nghe thấy tiếng ồn ào quá mức, náo động của khán giả đang căng thẳng chờ đợi, và tôi cảm thấy rằng Jupp đã có lí khi cậu ta nói về sự yêu thích đổ máu của họ. Sự khao khát của họ bùng lên trong bầu không khí vui vẻ, có phần nhạt nhẽo, và bằng hồi trống dồn dập giàu cảm xúc, bằng niềm vui nhẹ nhàng của mình ban nhạc đang làm tăng thêm cảm giác về một tấn bi hài kịch rùng rợn, trong đó máu thật sẽ chảy, máu ở trên sân khấu đã được trả tiền… Tôi trừng trừng nhìn thẳng và thả lỏng người để cho mình tụt xuống dưới vì sự trói chặt của sợi dây thừng đã giữ tôi một cách chắc chắn. Ban nhạc chơi mỗi lúc một nhỏ hơn trong khi Jupp lạnh lùng rút những con dao ra khỏi các quân bài và đút chúng vào bao, mặc dù cậu ta nhìn tôi từ đầu tới chân bằng cái nhìn vội vàng. Sau đó, khi cậu ta đã cất tất cả các con dao đi, cậu ta quay người về phía khán giả, và đồng thời giọng nói của cậu ta thay đổi hẳn, khi mà giờ đây cậu ta nói: “Thưa quý vị! Tôi sẽ quây chặt gã này lại cho các vị bằng những con dao, nhưng quý vị cần biết rằng tôi không phi bằng những con dao cùn...”. Tiếp theo cậu ta rút một sợi dây thừng nhỏ ra khỏi túi quần, rút lần lượt các con dao ra khỏi bao trong sự im lặng khủng khiếp, cứa chúng vào sợi dây, cắt nó ra thành mười hai đoạn; sau đó cậu ta đút từng con dao một trở lại bao.
Trong khi đó tôi nhìn qua cậu ấy ra xa, nhìn qua các bức phông ở trên sân khấu ra xa, và nhìn qua khỏi những cô gái ăn mặc hở hang ra xa như thể nhìn vào một cuộc đời khác…
Sự hồi hộp của khán giả kích động bầu không khí. Jupp đi đến chỗ tôi, giả vờ buộc chặt sợi dây thừng lại một lần nữa và nói thầm với tôi bằng giọng dịu dàng: “Anh đừng động đậy, hãy tin tưởng vào em, ông anh yêu quý...”.
Sự kéo dài thời gian vừa rồi của cậu ta gần như đã làm cho sự hồi hộp lắng xuống, có nguy cơ làm cho khán giả mất đi sự hứng thú, nhưng cậu ta bất ngờ dang tay ra, để cho hai bàn tay của mình vẫy vẫy như những con chim đang bay chậm, và trên gương mặt của cậu ta biểu lộ sự tập trung tinh thần bí hiểm mà tôi đã lấy làm lạ khi chúng tôi dừng lại ở trên cầu thang. Đồng thời có vẻ như cậu ta cũng đang mê hoặc khán giả bằng cử chỉ đó của ảo thuật gia. Tôi hình dung ra mình nghe thấy một tiếng rên rỉ kì quái, rùng rợn, và tôi hiểu rằng đó là một tín hiệu báo trước dành cho tôi.
Tôi thu lại cái nhìn của mình từ nơi xa xăm vô tận, nhìn Jupp, người mà lúc này đang đứng đối diện thẳng với tôi, đến nỗi mắt của chúng tôi nằm trên một đường thẳng; sau đó cậu ta giơ tay lên, từ từ cầm lấy cái bao, và tôi lại hiểu rằng đó là một dấu hiệu dành cho tôi. Tôi không động đậy, hoàn toàn không động đậy và nhắm mắt lại…
Đó là một cảm giác đặc biệt; có thể nó kéo dài hai giây, có thể hai mươi tiếng, điều đó tôi không biết. Trong khi tôi nghe thấy tiếng rít nhẹ của các con dao và cảm thấy luồng gió ngắn ngủi, dữ dội, khi chúng cắm sát người tôi vào cánh cửa sau của sân khấu, tôi tưởng tượng mình đang đi trên một thanh gỗ hẹp qua một vực thẳm vô tận. Tôi đi một cách rất chắc chắn và đương nhiên tôi cảm thấy tất cả những nỗi khủng khiếp của sự nguy hiểm… tôi sợ nhưng hoàn toàn vững tin mình không ngã; tôi không đếm, và dĩ nhiên tôi mở mắt ra trong khoảnh khắc con dao cuối cùng cắm sát bàn tay phải của tôi vào cánh cửa…
Một tràng vỗ tay như sấm làm tôi hoàn toàn bừng tỉnh; tôi mở tròn mắt và nhìn vào khuôn mặt tái mét của Jupp, người mà đã nhảy bổ tới tôi và bây giờ đang cởi sợi dây thừng ra cho tôi bằng đôi bàn tay run run. Sau đó cậu ta kéo tôi ra giữa sân khấu, về phía trước gần khán giả; cậu ta cúi chào, và tôi cúi chào; cậu ta lấy ngón tay chỉ vào tôi và tôi chỉ vào cậu ấy trong tràng vỗ tay đang rộ lên; tiếp theo cậu ta mỉm cười với tôi, tôi mỉm cười với cậu ấy, và chúng tôi cùng nhau mỉm cười cúi chào trước khán giả.
Cả hai chúng tôi không nói một lời nào ở trong phòng thay đồ. Jupp quẳng bộ bài bị đâm thủng lên trên ghế, cầm lấy chiếc áo măng tô của tôi đang treo ở chiếc đinh và giúp tôi mặc nó. Sau đó cậu ta treo bộ quần áo cao bồi của mình vào chiếc đinh, mặc áo gió vào, và chúng tôi đội mũ trùm đầu. Khi tôi mở cửa thì người đàn ông lùn, hói đầu vội vã đến gặp chúng tôi và kêu lên: “Cát sê tăng lên bốn mươi mác!” Ông ta đưa cho Jupp một vài tờ tiền giấy. Lúc đó tôi hiểu, bây giờ Jupp đã là sếp của tôi, tôi mỉm cười, cậu ta nhìn tôi và cũng mỉm cười.
Jupp nắm cánh tay tôi, và chúng tôi đi bên nhau xuống cầu thang hẹp được chiếu sáng lờ mờ, trên đó phảng phất mùi son phấn cũ. Khi chúng tôi ra đến cửa chính Jupp cười và nói: “Bây giờ chúng ta đi mua thuốc lá và bánh mỳ…”.
Nhưng mãi một tiếng sau tôi mới hiểu rằng giờ đây tôi đã có một nghề thực thụ, một nghề mà tôi chỉ cần đứng và mơ mộng một chút trong vòng mười hai hoặc hai mươi giây. Tôi đã là người đứng để người ta phi dao…

—————————
(1) Đơn vị tiền tệ cũ của Đức.
(2) Ý nói thời còn trẻ.
(3) Đây là bộ dao ăn thường được những người quý tộc thời xưa mang theo khi đi săn. Nó gồm một con dao to đùng để mổ bụng con thú săn được, một con dao nhỏ hơn và một cái dĩa dùng để ăn thịt.
(4) Là con trai của Daidalos trong thần thoại Hy Lạp.
(5) Thuộc về kiểu đơn giản nhất trong năm kiểu kiến trúc Hy Lạp cổ đại.
(6) Tên họ của Jupp.