Thăm làng Vân Dương

VNTN – Làng Vân Dương thuộc xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 20km. Nơi đây vốn thanh bình, êm ả. Vào đầu thu nắng vàng trong veo màu mật, đồng lúa đang thì con gái xanh mơn mởn, đây là thời điểm tốt nhất để trải nghiệm, tham quan làng.


1. Điểm tham quan thứ nhất là địa bàn xóm Ngoài với các khu đình, chùa, đền Đông làng Vân Dương. Khu di tích này nằm ở trung tâm của làng. Giữa khu rừng còn khá nhiều cây cối thâm u, tĩnh mĩnh. Đình Vân Dương kỳ thật xưa kia to lớn nhất vùng, phải tiêu thổ kháng chiến thời chống Pháp. Hiện nay đình được thu nhỏ giống như ngôi đền nhưng vô cùng cổ kính, có một gian hai dĩ, bốn mái đao cong và hậu cung. Phải nói hiếm có di tích nào có được đầy đủ tài liệu hiện vật như đình Vân Dương với: bộ lộ bố (đồ khí trượng thờ), kiệu cổ dùng để rước trong hội làng ngày 25 tháng 10, án gian cổ được chạm khắc cầu kỳ tứ linh, tứ quý, đồ thờ, hoành phi, câu đối, đặc biệt 6 đạo sắc phong do các vua triều nhà Nguyễn phong cho làng thờ vị thần Cao Sơn Quý Minh (Dương Tự Minh).
Cái độc đáo của phong tục, tập quán nơi đây có lệ “ông 59”. Hằng năm, đến hẹn lại lên, xuân thu nhị kỳ làng tổ chức lễ hội đền, đình có chọn ra ông 59. Tức là năm nay ông nào đến tuổi 59 gia đình song toàn, không có tang, tư cách đạo đức, làng tín nhiệm để “cất giữ sắc phong”. Đến ngày 25 tháng 10 hội làng rước sắc phong ra đình làm lễ bàn giao. Có thể nói, đây là một trong những phong tục, tập quán còn ít thấy trong văn hóa ở các làng quê Việt. Chùa làng Vân Dương nằm sau đình. Ngôi chùa của làng quê bình yên thờ Phật với tất cả sự từ bi hỷ xả và là chốn sinh hoạt của nhân dân địa phương.
Đến với xóm Ngoài, chúng ta không thể không đến địa điểm đồi Cò, có ngôi miếu Thổ kỳ của xóm với nhiều cây đa cổ thụ che rợp bóng mát. Chứng kiến khu đồi với nhiều cây xanh ta lại nghĩ đó là những dấu vết của rừng xưa. Cái lạ là những đàn cò trắng cứ đua nhau về đây làm tổ. Cò sống tự nhiên, từng đôi làm tổ ở trên ngọn các cây đa. Tiếng ríu rít kêu gọi nhau kéo đến. Người địa phương bảo: Miếu thiêng cò đậu. Từ xưa đến giờ cò làm tổ ở đây không ai săn bắn, giết thịt. Đi dưới gốc đa mà chúng không hề sợ. Đúng là vậy, phía dưới các cây đa có hai ngôi miếu thờ thổ địa của nhân dân.
2. Điểm thứ hai du khách không thể bỏ qua đó là xóm Giếng. Mộc mạc, thân thuộc là đặc trưng văn hóa nơi đây. Trong xóm có một cái giếng từ lâu đời, nước trong và nhiều, dâng cao hơn cả mặt ao. Nay giếng vẫn được bảo tồn và được ví như mắt rồng của làng nên còn gọi là “long tỉnh” (giếng rồng), cho nhân dân nguồn nước mát thiêng. Vừa qua, dân xóm Giếng làm con đường khang trang bằng bê tông gọi là đường Giếng ngọc. Tại phía tây xóm Giếng có đồi Thu Hà xưa toàn trồng thông – loại cây cổ thụ, lá kim xanh mướt, mang đặc trưng cốt cách của người quân tử. Nay đồi Thu Hà vẫn trồng thông. Tại đây, có ngôi đền Mẫu cổ kính, chắc vì cảnh đẹp, địa linh, sinh nhân kiệt. Ngày 1/1/1964, Bác Hồ – vị lãnh tụ vô vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam đã đặt chân đến đây. Khi ấy, vào khoảng gần 10 giờ rưỡi sáng, sau khi về thăm nhân dân và Khu công nghiệp Gang thép Thái Nguyên, Bác Hồ cùng đoàn công tác qua khu ga Lương Sơn, rồi đi tắt qua con đường tới địa bàn xóm Giếng làng Vân Dương.

Bác Hồ ngồi nghỉ trưa dưới gốc thông làng Vân Dương. Ảnh tư liệu.

Mục đích của Người muốn thăm cán bộ công nhân đang làm nhiệm vụ ươm cây giống phục vụ trồng cây gây rừng ở khu Vườn Ươm (ngành nông nghiệp tỉnh lúc ấy đang có cơ sở ươm giống cây lâm nghiệp), vị trí gần với đền Mẫu. Trước khi thăm Vườn Ươm, Bác Hồ đã vào đền Mẫu thắp hương. Sau đó, Bác ra ngồi nghỉ dưới gốc cây thông to. Phóng viên ảnh của Thông tấn xã Việt Nam đi cùng đoàn đã chụp được tấm ảnh Bác Hồ ngồi tại gốc thông. Hình ảnh Bác mặc bộ quần áo kaki trắng, chân đi đôi dép cao su, vầng trán rộng mênh mông như nhà thơ Tố Hữu từng viết: “Bác Hồ đó, ung dung châm lửa hút/ Trán mêng mông thanh thản một vùng trời”. Từ ngày Bác Hồ mất (2/9/1969), nhân dân địa phương đã lấy ngày sinh nhật Bác (19/5) hằng năm là ngày lễ hội của đền để tưởng nhớ Bác. Đây là lễ hội tưởng niệm Bác Hồ duy nhất trong tỉnh được tổ chức tại một ngôi làng. Đền Mẫu nay đã trở thành Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Nơi ghi dấu Bác về thăm đã được dựng bia tôn tạo, giáo dục truyền thống cho các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ. Đền Mẫu là một trong ba di tích lịch sử của làng Vân Dương được UBND tỉnh xếp hạng, đó là chùa Vân Dương, đền Đông, đền Tây (tức đền Mẫu) từ năm 2010.
3. Vào xóm Giếng quý khách tới thăm ngôi nhà cổ của gia đình ông Dương Văn Lượt, một trong những công trình kiến trúc nghệ thuật dân gian còn ít thấy, có giá trị nghiên cứu về mặt kiến trúc và điêu khắc gỗ và văn hóa dân tộc. Tuy đã trải qua ngót gần một trăm năm nhưng gỗ của ngôi nhà vẫn còn đen bóng.
Ngôi nhà cổ là một trong những ngôi nhà còn lại rất ít ở địa phương, xưa kia thuộc làng Vân Dương Thượng, tổng Mạt Hương, huyện Tư Nông, phủ Phú Bình, nay thuộc xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên. Chủ nhân ngôi nhà cổ xưa là cụ Thơ ký, Hộ lại tên là cụ Dương Văn Đang là cha đẻ của ông Dương Văn Lượt. Và ông Lượt là người thừa kế ngôi nhà cổ hiện nay.
Qua khảo sát, ngôi nhà được xây dựng theo kiểu nhà đại khoa. Nhà có 5 gian được làm toàn bằng gỗ lim, 3 gian chính và 2 gian buồng. Ngôi nhà có chiều dài 13m, lòng nhà rộng 6,5m, có 4 hàng chân cột, 8 cột cái, 10 cột quân và 6 cột hiên. Chu vi mỗi cột cái khoảng 25cm, các chân cột đều được kê đá tảng. Ngôi nhà có 6 bộ vì làm theo kiểu “kẻ truyền, con chồng”, trên đó còn giữ được cả thước thợ (sào nhà). Tổng diện tích ngôi nhà rộng 84,5m2. Về cơ bản, kiến trúc gỗ của ngôi nhà vẫn giữ được như ban đầu: hai bức thuận ngăn cách giữa 3 gian vẫn còn được đóng bằng gỗ, bàn thờ Thổ công ở góc phải nhà vẫn được thờ theo chiều dọc ngôi nhà. Trên cây nóc (thượng lương) của ngôi nhà còn ghi hàng chữ gồm có 42 chữ Hán Nôm – năm khởi dựng ngôi nhà: đặt trụ thương lương ngôi nhà vào giờ tốt ngày 26 tháng 8 triều vua Bảo Đại năm thứ 13 (1938) – tức là cách ngày nay 83 năm.

Sắc phong Cao Sơn Quý Minh thượng đẳng thần, đình Vân Dương (1903)

Ngôi nhà được người xưa thiết kế bộ khung, bộ vì theo lối truyền thống, tổng số 24 cột. Câu đầu phải và trái được làm bằng một cây gỗ lim chắc khỏe, trên đó chạm trổ rất cầu kỳ. Giữa câu đầu tạo hình một “lá điệp” ghi dòng chữ Hán Nôm gồm 9 chữ mỗi bên, nội dung lấy trong Kinh dịch, Lá số tử vi soi lòng chính trực, cầu mong niềm vui vẻ, gặp nhiều điều tốt đẹp. Các cột đều là những cây gỗ lim dựng thành hàng, thứ tự từ ngoài vào: cột hiên, cột quân, cột cái. Ba gian chính các bộ vì được chạm kênh bong, trang trí rất nhiều hoa văn, họa tiết chủ yếu như đề tài: tứ linh, tứ quý, hoa văn lá lật. Các vì nách có nhiều con rường chồng, người nghệ nhân dân gian tạo ra một bức tranh sống động chạm bong hình rồng, lá lật, chạm nổi chữ Thọ, có chỗ chạm tứ quý: thông, trúc, cúc, mai hoặc đào, mai, cúc, tùng. Ngăn cách giữa nhà ngoài với buồng được bưng ván, soi gờ chỉ. Trên các khung cửa cũng được soi nổi gờ chỉ. Lối vào buồng có cửa ở vị trí ngoài sát cột hiên gọi là hiên nhà. Ngôi nhà xung quanh được xây kín bằng gạch chỉ trát vữa đầu nhà xây theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi. Bộ cửa ngôi nhà vẫn bảo tồn được nguyên bản cửa bức bàn, gian giữa theo kiểu thượng song, hạ bản. Từ bậc thềm xuống sân gạch có 5 bậc lát gạch bát. Gian giữa ngôi nhà được bài trí trang nghiêm. Giữa ngôi nhà trước đây có đầy đủ như: án gian, giường hành, ban thờ tổ tiên bày các đồ thờ cúng như: bát hương sứ cổ, đỉnh trầm, tam sơn, lọ hoa, cây đèn, mâm bồng, độc bình, 20 chiếc bát cổ vẽ hình “Bát tiên” (8 ông tiên), giá ảnh thờ có bức ảnh chân dung ông Dương Văn Cang là ông nội của ông Dương Văn Lượt… Hướng ngôi nhà quay hướng nam phía trước là chiếc sân lát gạch vuông Bát Tràng rộng 150m2 dùng để làm chỗ phơi phóng thóc lúa khi thu hoạch hoặc tổ chức lễ khi nhà có việc… Trước sân có vườn, hai bên là công trình phụ như: nhà bếp, giếng nước, nhà vệ sinh, chuồng lợn, chuồng gà, chuồng trâu, bò. Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, biết bao biến đổi của xã hội, ngôi nhà gìn giữ được cho đến ngày nay với dáng vẻ gần như nguyên vẹn kết cấu, kiến trúc nghệ thuật ban đầu.

Ngôi nhà cổ gia đình ông Dương Văn Lượt

Về Vân Dương là về với vùng quê, với nông thôn đặc trưng Việt Nam, với làng quê sau lũy tre bình yên. Các điểm tham quan mang bản sắc văn hóa của vùng nông thôn nhưng giàu tính nhân văn và các di tích lịch sử có giá trị. Những di sản văn hóa đó cần được bảo tồn và gìn giữ, nó chính là nét đẹp trong dựng xây cuộc sống mới ở nông thôn, phát huy vốn văn hóa bản sắc dân tộc, đặc biệt tuyên truyền về các phong tục tập quán tốt đẹp, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Nguyễn Vân Yên