Thân phận con người trong thơ Lưu Quang Vũ

VNTN –  1.Trong bài thơ Giấc mộng đêm Lưu Quang Vũ với trí tưởng tượng bay bổng của mình đã mơ được gặp Thi hào Nguyễn Du và nghe tiền nhân căn dặn: “Anh chớ ngại con đường gian khổ nhất/ Đau nỗi đau của mỗi trái tim người/ Để thơ anh mang lửa đến cho đời/ Trên chữ “tài”, chữ “tâm” kia phải “lớn”.

Thực ra, đây chính là những lời tự vấn đầy trăn trở bật lên từ thẳm sâu tiềm thức của Lưu Quang Vũ – một thi sĩ có trái tim vô cùng nhạy cảm và luôn đau đáu, nồng nàn, da diết những yêu thương với cuộc đời và con người.

Suốt một đời cầm bút, sáng tác trên nền tảng tinh thần lấy chữ “tâm” làm điểm tựa cơ bản cho nên dẫu chỉ có mặt trên “cõi tạm” bốn mươi năm ngắn ngủi nhưng Lưu Quang Vũ đã để lại một sự nghiệp văn chương đầy ấn tượng trong đó có sự thành công của thơ ca. Cùng với năm tháng, vẻ đẹp thơ Lưu Quang Vũ cũng như bản lĩnh, nhân cách nghệ sĩ với “một trái tim trung thực” của ông ngày càng tỏa sáng. Âu đó cũng là điều tuân theo quy luật mà không cường quyền, bạo lực và sự phi lý nào có thể phủ nhận: nghệ thuật đích thực bao giờ cũng là viên ngọc phát ánh hào quang trong tro bụi thời gian.

Những vần thơ cất lên từ trái tim chưa bao giờ yên ổn vì tình yêu thương con người của Lưu Quang Vũ như một liên khúc thanh âm phủ đầy nốt lặng, trầm buồn, vang ngân xuyên thấu thời gian, mãi mãi thắp lên trong tâm thức bạn đọc những nỗi buồn, niềm vui, những sẻ chia đau khổ, hạnh phúc cho con người và vì con người – quan tâm đến thân phận con người với tất cả những vui buồn, được mất, hạnh phúc, khổ đau, vinh quang, cay đắng trong kiếp nhân sinh đầy biến đổi và bất an và đó là một trong những hệ giá trị nhân văn sâu sắc nhất khiến thơ Lưu Quang Vũ có sức cuốn hút, say lòng bạn đọc bao thế hệ.

Sinh thời Lưu Quang Vũ mới in được nửa tập thơ, kể từ sau khi nhà thơ đi vào cõi vĩnh hằng cho đến hôm nay, thơ ông đã được xuất bản nhiều lần, tập trung phần lớn ở các tập: Lưu Quang Vũ, Thơ tình, (NXB Văn học, 2002), Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (tuyển thơ, Nxb Hội Nhà văn, H.2010), Di cảo Lưu Quang Vũ, (Lưu Khánh Thơ tuyển soạn, Nxb. Trẻ, H.2018).

Đọc thơ Lưu Quang Vũ có thể nhận thấy ngọn gió mang nỗi đau về thân phận con người thổi xuyên suốt thơ ông – đó là ngọn gió “không ngừng lo âu không ngừng phẫn nộ/ bởi vô biên là khát vọng của con người” (Những đám mây ban sớm).

Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh khốc liệt, do đó cũng như nhiều người cùng thời, Lưu Quang Vũ nếm trải “ngọn gió dữ của rừng già khắc nghiệt”, chứa chất trong lòng muôn nỗi buồn, sự lo âu và những trăn trở, khát vọng. Nhưng khác nhiều người, Lưu Quang Vũ đã dám sống và dám bộc bạch thật lòng mình. Khi Lưu Quang Vũ tự hỏi: Anh chẳng mang cho đời những tiệc vui ảo ảnh/ Nỗi buồn chân thành đời chẳng nhận hay sao? (Anh đã mất chi, anh đã được gì?), hoặc chân thành bộc bạch: Tình yêu trong lòng tôi chẳng ích lợi cho ai/ Còn những gì mọi người cần tôi chẳng thiết (Có những lúc) thì cũng chính là thời khắc nhà thơ thấm thía nỗi đau “bị chối bỏ” của thân phận nghệ sĩ, nhận diện rõ hơn giá trị nhân vị, ý nghĩa sự tồn sinh của mỗi cá nhân, sẵn sàng tâm thế đối diện với sự thật nghiệt ngã của cuộc sống vốn tồn tại nhiều điều phi lý. Và tất cả những điều trên là cơ sở để chúng ta suy ngẫm, luận giải vì sao vấn đề thân phận con người trong thơ Lưu Quang Vũ lại ám ảnh nhiều nỗi buồn đến thế?!

 Đó là nỗi buồn về con người – nạn nhân đau khổ bởi chiến tranh; đó là nỗi buồn vì đổ vỡ niềm tin, con người cô đơn, tuyệt vọng; đó là con người mang tâm trạng “lưu đày” ngay chính trên quê hương xứ sở của mình;là nỗi lo âu về sự hữu hạn, mong manh của kiếp người trong dòng chảy vô thủy vô chung của thời gian

Đằng sau nỗi buồn dằng dặc, đầy khắc khoải trong thơ Lưu Quang Vũ về thân phận con người phải chăng tiềm ẩn lớp lớp thông điệp cần được “đọc”, được tiếp tục khám phá bằng tấm lòng “tri âm”, đồng điệu, để từ đó có thể khẳng định tầm tư tưởng nhân văn sâu sắc cũng như tài năng, nhân cách và bản lĩnh của một nhà thơ – nhà văn hóa lớn của dân tộc ở thế kỷ XX đầy biến động.

 Đọc thơ Lưu Quang Vũ, có thể nhận thấy đối với nhà thơ chiến tranh quả thực “ không phải trò đùa”. Giữa dàn đồng ca hào hùng, lãng mạn tụng ca khí thế của một thời cả nước lên đường: đường ra trận mùa này đẹp lắm (Phạm Tiến Duật), Súng nhỏ súng to chiến trường chật chội/ Tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu (Chính Hữu),  Lưu Quang Vũ riêng mình sớm nhận diện bản chất thực của chiến tranh “giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều/ Rách tan cả những làn sương đẹp phủ” (Gửi một người bạn gái).

Trong tâm thức của Lưu Quang Vũ, cho dù ở đâu và bất cứ ở thời đại nào chiến tranh cũng mang gương mặt lạnh lùng, hắc ám của tên đao phủ, là gieo rắc cái chết thương tâm khắp nơi, là sự đổ máu, và những phá hủy tàn khốc cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Ngay trong tập thơ đầu đời Hương cây đã thấy những mất mát bởi chiến tranh đã chi phối âm hưởng buồn man mác trong nhiều bài thơ (Qua sông Thương, Phố huyện, Phủ Lý tháng hai, Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa, Mùa xoài chín, Chia tay), và dòng cảm thức về thân phận con người trong chiến tranh càng ngày càng đậm nét ở những tập thơ sau này của Lưu Quang Vũ như Viết cho em từ cửa biển, Đất nước đàn bầu, Mắt của trời xanh, Những đám mây ban sớm, Những bông hoa không chết.

Như bức họa về chiến tranh phủ đầy gam màu tối u buồn, trong thơ Lưu Quang Vũ hình ảnh con người và cái chết thê thảm vô nghĩa luôn được tô đậm một cách có chủ ý nghệ thuật. Lưu Quang Vũ đã không cường điệu hóa hiện thực, nhà thơ cảm nhận chiến tranh và cái chết bằng cảm xúc rất thật của mình. Cái chết thương tâm được tái hiện cực thực, tỷ mỉ, chi tiết mang đến cho bạn đọc một ấn tượng khó phai mờ, một cảm giác tê điếng, hãi hùng, đau đớn: những người chết trong đêm thân gãy nát/ óc chảy ròng trên gạch/ những người chết cháy đen miệng há mắt mở trừng/ tay chân vặn vẹo thịt xương/ lòng ruột mắc trên dây điện/ phố Khâm Thiên ầm ầm đổ sụp/ tiếng người la khủng khiếp đêm dài/ mặt trời lên trên bãi thây người/ mặt dập vỡ ngực trần thủng hoác/ những đống tóc gân đầu mình lẫn lộn/ những xác tím bầm lạnh buốt sương đêm (Khâm Thiên);  Người chết vùi thân dưới hố bom.(Đêm đông chí uống rượu với bác Lâm và bác Khánh nói về những cuộc chia tay thời loạn); Xác người trôi trên biển sóng xô tan/ huyệt bom tối ầm ào cơn gió hú (Em – tình yêu những năm đau xót và hy vọng); Bao đầu người bêu trên cọc gỗ (Đất nước đàn bầu); Xác gục giữa bùn lầy/ thái dương rỉ máu (Những đám mây ban sớm);  Xác nguỵ nằm ruồi muỗi bâu đầy/ những đôi mắt bệch màu hoa dại/ những gương mặt trẻ măng xanh tái/ những bàn tay đen đủi chai dầy (Cơn bão); Những đứa trẻ con bị giết/ nằm kín hàng hiên / mùi xác chết u ám cả bầu trời (Sông Hồng – năm mẹ sinh em);  Ta có thằng bạn học/ hy sinh chôn dưới nền nhà (Sông Hồng – lời từ giã của Trung đoàn Thủ đô) ; Hùng chết giữa trời cao/ Trong chiếc Mig bị quân thù bắn cháy/ Dù không mở, bọn mình tìm chẳng thấy/ Xương thịt Hùng lẫn với đất nâu (Giấc mộng đêm)…

Như vậy, trong thức nhận của Lưu Quang Vũ sự lạnh lùng tàn bạo là một thuộc tính của chiến tranh và vì vậy chiến tranh dù bất luận vì lý do gì đều gieo rắc chết chóc đau thương cho nhân loại, không trừ một ai và lứa tuổi nào, cho dẫu đó có là mẹ già hay em nhỏ trong nôi…chiến tranh giáng xuống số phận con người hậu họa khôn lường, vết thương do chiến tranh để lại trong lòng mỗi người khó có thể hàn gắn được.

Trong lúc nhiều nhà thơ cùng thời vì nhiều lý do khác nhau không nói (hoặc không dám nói) đến cái chết trong thơ mình, hoặc có nói đến thì cũng oai hùng hóa về cái chết thì trong thơ Lưu Quang Vũ, ta bắt gặp nhiều lần ông nhắc đến cái chết.  Cái chết trong thơ Lưu Quang Vũ  như một thảm họa mặc định của chiến tranh, cái chết mang đầy nỗi ưu lo về phận người, trong suy niệm của Lưu Quang Vũ, chiến tranh luôn mang lại đau thương vô hạn cho con người mà cái chết là tận cùng nỗi đau thương đó. Khi vấn đề sự sống và cái chết của con người được đặt lên hàng đầu và trở thành một hệ giá trị nhân văn, có giá trị thức tỉnh nhân loại chấm dứt chiến tranh, hướng đến hòa bình vì hạnh phúc của con người thì thiết nghĩ Lưu Quang Vũ rất xứng đáng được tôn vinh là “đại sứ hòa bình” bởi thơ ông khiến bạn đọc ghê sợ chiến tranh và tội ác, thêm trân quý sự sống, trân quý từng phút giây hiện hữu của mỗi con người.

Chiến tranh không chỉ khiến con người phải chết một cách vô nghĩa mà còn đày đọa con người trong biết bao cảnh đời ly tán, loạn lạc, đói nghèo lam lũ. Đi từ những nỗi đau riêng trong sự nghiệm sinh của chính cuộc đời mình, Lưu Quang Vũ đã đến với nỗi đau chung của phận số con người, của cộng đồng thấm đẫm nỗi niềm xót xa, thương cảm…

 Thổi xoã tóc đoàn người chạy giặc/ những dòng người kéo đi xé ruột/ đội chiếu, ôm chăn, đeo làn, vác bọc/ chút gia tài nghèo cực địu trên lưng/ bao gia đình dắt díu chị bồng em/ những quần áo khói bom lấm rách/ những cụ già vịn nhau dò dẫm/ máu ròng ròng trên những chiếc cáng thương(Khâm Thiên); Cả dân tộc cởi trần đứng trên bùn ướt/ Đầu đội mưa bom, tay cầm khẩu súng trường/ Những lòng người chia cắt đến tan hoang/ Những núi rào gai và vỏ đạn/ Đồng bãi hoang liêu, phố phường gạch vụn/ Bao cỏ ngọt bị giày đinh dẫm đạp/ Bao tha ma gò đống ngổn ngang nằm (Những Đám Mây Ban Sớm)…

     Cuộc sống của con người trong và sau chiến tranh ủ rũ thảm hại! Tất cả còn lại chỉ là đống hoang tàn, đổ nát, đầy tử khí. Con người tồn tại vật vờ giữa cõi dương gian mà tối tăm, mù mịt, nghẹt thở như ở chín tầng địa ngục. Có cái gì như uất nghẹn trong lồng ngực…Cảm xúc thẩm mỹ được đẩy lên đến cao trào, ào ạt, triền miên dồn dập đầy ắp hình ảnh pha trộn giữa ảo và thực… Có cảm giác nhà thơ như đắm đuối chìm trong một cơn ác mộng. Thi giới Lưu Quang Vũ là thi giới của tưởng tượng phong phú, điệp điệp lớp lớp hình ảnh sống dậy từ tiềm thức…Từ góc nhìn tích cực, nhân bản của chủ nghĩa hiện sinh có thể thấy thơ Lưu Quang Vũ đã truyền được sang người đọc nỗi đau đớn tột cùng, niềm day dứt khôn nguôi khi ngẫm về chiến tranh và những điều phi lý của nó đổ xuống những kiếp người bé nhỏ, đáng thương… Chúng ta có thể thấy vang lên từ đây câu hỏi khẩn thiết: phải làm sao cho nhân loại thoát khỏi nỗi đau và sự mất mát do chiến tranh gây ra?

 Hàn Mặc Tử từng viết “Người thơ phong vận như thơ ấy”, điều này rất đúng khi xem xét mối quan hệ giữa “thơ” của Lưu Quang Vũ và “phong vận” của thi nhân.  Đọc Lưu Quang Vũ có thể nhận thấy rất rõ thơ đối với ông như một nhu cầu tự thân của thế giới nội tâm. Lưu Quang Vũ làm thơ là để diễn tả tâm trạng và những cảm xúc cao độ mà ông trải nghiệm trong cuộc sống, thơ là phương tiện chủ yếu để “người thơ” bộc bạch nỗi niềm, tình cảm. Dường như có một đại dương tình cảm luôn nồng nàn, sôi sục trong “con người bên trong con người” của Lưu Quang Vũ, chỉ mong được trào ra dữ dội, mong được dâng hiến đến tận cùng. Nhưng hiện thực cuộc sống với muôn mặt tương phản không đơn giản như vậy. Đối diện với nhiều thử thách của cuộc sống, trải nghiệm những vui buồn, hạnh phúc, thất vọng,  khổ đau… Lưu Quang Vũ thức nhận chính mình: Tôi lại là đứa trẻ lang thang/ đi tới bao miền xa lạ / ta đi giữa cỏ hoang và gỗ đá/ giữ trong lòng ngọn thác trắng trào sôi/ một tình yêu không biết nói cùng ai/ đến điên dại đến nghẹn ngào đau đớn/ mặt anh vỡ trong tấm gương thất vọng/ em ơi ngày ấy em đâu?/ hoa cúc xanh tuổi nhỏ chết từ lâu (Em – tình yêu những năm đau xót và hy vọng).

Viết về Lưu Quang Vũ, Lưu Khánh Thơ đã nhận xét: “Bản năng thi sĩ của ông giàu có trong những nỗi buồn, cô đơn, tuyệt vọng” (Lưu Quang Vũ, 2010, Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Nxb.Hội Nhà văn , Hà Nội, tr.7)

Quả đúng là như vậy, dường như nỗi buồn, sự cô đơn đã đánh thức tiềm năng sáng tạo của Lưu Quang Vũ. Trái tim nhạy cảm dễ “vỡ” của thi sĩ đã không thể ngủ yên trước “cuộc sống anh không chấp nhận/ mà thương đến xót xa lòng” (Vẫn thơ tình về người đàn bà không có tên II). Đọc Lưu Quang Vũ có thể thấy thi giới ông tràn ngập nỗi cô đơn – cô đơn như “dự phóng sáng tạo” bật lên từ ám ảnh thẳm sâu vô thức.

Trạng thái cô đơn được Lưu Quang Vũ phác họa sinh động, đa dạng, phong phú, nhiều cung bậc: Tuổi thơ buồn như một mảnh vườn hoang /Nơi ấp ủ con dế mèn cô độc (Đất nước đàn bầu); Sao tôi lại muốn em tin/ Khi chính tôi cũng chẳng tin ai cả/ Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ/ Thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào/ Bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao (…) Tôi là người lính cô đơn ở giữa trung đoàn/ Bao lâu rồi vẫn chỉ có thế thôi/ Nỗi cô đơn hoàn toàn cô đơn khủng khiếp/ Trước và sau trong và ngoài cuộc đời và trang sách…. (Mấy đoạn thơ); Cả cuộc đời là ở sân ga/ Trước chuyến đi vô tận/ Cuộc lên đường tối tăm đơn độc/ Người ta chết có một mình/ Đó là điều buồn nhất (Lời cuối); Chẳng có chi phía trước để mong chờ/ Chỉ còn lại một màu hoa gay gắt/ Cái màu hoa cô độc/ Nở âm thầm trong giá buốt heo may (Những đêm hoa vàng)…

Chiêm nghiệm, suy ngẫm về nỗi cô đơn phận người được thể hiện trong văn chương nhân loại, chúng ta thấy cô đơn không phải là điều đáng sợ, mà nhiều khi còn là điều cần thiết cho cuộc sống con người. Bởi chỉ có trong cô đơn con người mới hiểu đời và hiểu mình hơn và biết phải làm gì cho cuộc sống của mình có ý nghĩa. Cô đơn vì vậy, chính là phép thử về sự hiện hữu của bản thể. Và trong  quan niệm của chủ nghĩa hiện sinh cô đơn là một yếu tính của thân phận con người. Nếu chối bỏ, không thừa nhận sự cô đơn là vô tình tước bỏ những phẩm tính Người trong mỗi Con Người. Do đó, thực chất cô đơn cũng là một phẩm tính tạo nên những dự phóng trong hành trình sáng tạo của người nghệ sĩ. Người nghệ sĩ nếu thiếu sự cô đơn trong sáng tạo khó có thể tạo nên được những tác phẩm văn học mang giá trị nhân văn sâu sắc chiếm lĩnh tâm hồn người đọc. Chiêm nghiệm thơ Lưu Quang Vũ chúng ta thấy vấn đề con người cô đơn không nằm ngoài những giá trị nhân văn trên.

Đề tài về sự cô đơn cũng là một đề tài thường gặp trong thơ của nhiều thi nhân trên thế giới ở mọi thời đại: Lý Bạch, Đỗ Phủ, R.Tagore, V. Hugo, A. Pushkin, M. Lermontov, S. Esenin… Thơ Lưu Quang Vũ không nằm ngoài quỹ đạo của tư duy thơ mang tính phổ quát toàn nhân loại. Do vậy, sự hiện hữu cái Tôi cô đơn bản thể trong thơ Lưu Quang Vũ là giá trị chứng tỏ tư duy thơ của ông đã bắt kịp với dòng chảy của tư duy thơ nhân loại.

Thông thường, khi nỗi cô đơn đã chạm đến bến bờ của tuyệt vọng thì mọi hiện hữu cũng trở thành vô nghĩa;  Song,ở Lưu Quang Vũ,  ngay trong sự tuyệt vọng nhất của thi nhân người đọc vẫn thấy thơ ông tha thiết hướng về tình yêu thương con người và cuộc sống, bởi vì  khi tuyệt vọng được chưng cất thành thơ đồng nghĩa với việc nhà thơ đã bất tử hóa cuộc sống, truyền vào nó một giá trị mỹ cảm, mang lại niềm tin cho con người. Phải chăng nhà thơ muốn gửi đến chúng ta thông điệp cho dù dư vị của nó thế nào cuộc sống vẫn rất xứng đáng để con người yêu quý, nâng niu, trân trọng: Dù tiếng tôi chỉ một người nghe/ Tôi phải đốt lên một cái gì/ Cho sáng rực giữa chênh vênh vực thẳm/ Dẫu bao lần người làm tôi thất vọng/ Tôi vẫn yêu người lắm lắm người ơi/ Tình yêu tôi như một tiếng chuông dài…(Có những lúc) .

 Chính vì vậy, dẫu đơn độc đến tột cùng, thi nhân vẫn kiên cường theo đuổi giấc mơ: Tôi thức suốt trong nỗi buồn của đất/ Tôi nguyên chất tôi đi tìm đôi cánh/ Để cuối cùng gặp được biển khơi/ Mặn xé lòng là muối biển đấy thôi/ Lên ghềnh đá chênh vênh tôi viết/ Những dòng chữ không sóng nào xoá được/ Những dòng chữ như móng tay day dứt/ Trên vỏ dưa xanh thắm của mùa hè/ Cho kẻ không nhà mái lá chở che( Móng tay trên đá); Dù con người là cô đơn/ Các ác là dày đặc/ mỗi bài thơ của chúng ta/ phải như một ô cửa/ mở tới tình yêu (liên tưởng tháng hai). Tinh thần trên cho thấy  bản lĩnh nghệ sĩ cao cường của Lưu Quang Vũ- một bản lĩnh mà nếu không có một sự nghiệm sinh bền bỉ, một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm và một trí tuệ mẫn tiệp thì không bao giờ đạt được.

Có thể nói, trước khi trở thành một nhà viết kịch lừng danh ở những năm 80 của thế kỷ XX, Lưu Quang Vũ đã là một nhà thơ hiện hữu trên thi đàn với một phong cách riêng, độc đáo, giàu cá tính sáng tạo. Không hòa lẫn trong “bầu khí quyển” của thơ ca đương thời, thơ Lưu Quang Vũ từ khi mới xuất hiện đã thể hiện một cách nhìn, cách nghĩ mới, một thi pháp khác lạ về con người và cuộc sống. Vũ trụ thi ca Lưu Quang Vũ là vũ trụ thi ca của một thi giới riêng thấm đẫm vị nhân sinh với những day dứt, băn khoăn, khắc khoải ưu tư phận người. Vì vậy, nó đã chạm đến những vấn đề nhân văn mang tầm phổ quát của nhân loại.

Trước đây, có ý kiến cho rằng thơ Lưu Quang Vũ gieo rắc nỗi buồn đau bi lụy, nhưng với độ lùi thời gian, hôm nay, chiêm nghiệm những vần thơ Lưu Quang Vũ để lại, chúng ta cảm nhận rất rõ sự chia sẻ nỗi buồn đau, tình thương yêu sâu sắc dành cho thân phận con người trong thơ ông như một giá trị tinh thần quý giá luôn đồng hành cùng bạn đọc trên hành trình cuộc sống đầy trắc ẩn. Câu nói của André Maurois: “Nghệ thuật là thứ chống lại định mệnh” luôn có ý nghĩa với trường hợp Lưu Quang Vũ.

Dẫu định mệnh nghiệt ngã với số phận của một thiên tài nhưng sự nghiệp thơ ca đầy ấn tượng của Lưu Quang Vũ đã, đang và sẽ thắp sáng trong tâm cảm nhiều thế hệ bạn đọc ngọn lửa về lòng yêu thương và sự quan tâm đến Con Người từ những điều bình thường nhất, dung dị nhất. Tấm lòng bao dung vị tha, tình yêu con người và cuộc sống của Lưu Quang Vũ sẽ tiếp tục được nối dài thêm đến vô cùng; và điều đó như một sự chia sẻ, tri âm sâu sắc của chúng ta với khát vọng thiết tha của thi sĩ nhắn gửi tới mai sau: Bao bài ca xáo trộn trong tôi/ Có tiếng khóc của con chim gẫy cánh/ Tiếng đau rên của ngôi nhà đổ sập/ Tiếng con thuyền không về được bờ quen/ Tiếng mưa rơi trên ngọn cỏ yếu mềm/ … (Tôi chẳng muốn kỷ niệm về tôi là một điệu hát buồn)./.

 Thái Nguyên, thu 2018

CaoThị Hồng