“7 viên ngọc quốc bảo” – di sản thế giới ở Việt Nam

VNTN – Đến xuân Đinh Dậu 2017, nền văn hóa nghệ thuật truyền thống Việt Nam vinh dự góp “7 viên ngọc quốc bảo” vào kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại: Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Ca Trù, Hát Xoan Phú Thọ, Đờn ca tài tử Nam Bộ, Ví – Giặm Nghệ Tĩnh. Vinh dự và tự hào, nhưng cũng là những băn khoăn chưa khi nào nhẹ lòng với suy nghĩ làm sao bảo tồn, phát triển, quảng bá đúng tầm vị trí “di sản” không chỉ ở Việt Nam mà còn với bè bạn quốc tế. 


7 viên ngọc “quốc bảo” di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại đã làm cho thế giới biết đến một Việt Nam không chỉ có những phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, bốn mùa hoa thơm trái ngọt, những phong tục tập quán mang sắc thái đa dạng phong phú…, mà còn có những giai điệu say đắm đến kỳ ảo. Điều đặc biệt, những giai điệu này lại là “sứ giả” của mùa xuân, mùa của lễ hội, là mối giao duyên giữa con người với thần linh trong phong tục văn hóa truyền thống Việt Nam.
UNESCO đã công nhận Nhã nhạc cung đình Huế (2003), Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên (2005) là “Kiệt tác di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại”. Năm 2009, Quan họ Bắc Ninh, năm 2013: Đờn ca tài tử Nam Bộ, năm 2014: Ví – Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO công nhận là “Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại”. Năm 2009: Ca Trù, năm 2011: Hát Xoan Phú Thọ của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào “Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại”.

Ca Trù là di sản đang ngấp nghé bị tước danh hiệu          Ảnh: Việt Văn


Lấp lánh 7 viên ngọc quốc bảo 

Theo sử sách, Nhã nhạc cung đình Huế bắt nguồn từ Nhã nhạc Việt Nam, có từ thời Lý (1010 – 1225) nhưng phát triển mạnh và bài bản nhất là vào thời nhà Nguyễn (1802 – 1945). Nhã nhạc là loại hình âm nhạc cung đình nên lời lẽ tao nhã, điệu thức cao sang, quý phái, biểu tượng cho vương quyền về sự trường tồn, hưng thịnh của triều đại. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai… Theo người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Vào những ngày hội, từng vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền bí.
Dân ca Quan họ Bắc Ninh là thể loại phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam, là hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân Kinh Bắc, đặc biệt khi xuân về. Ca Trù thịnh hành từ thế kỷ 15, còn gọi là hát cửa đình, hát nhà trò (hát ở đình, đền, miếu), hát cửa quyền (trong cung phủ), hát nhà tơ (hát ở dinh quan, tư gia các gia đình quyền quý), hát ả đào, hát cô đầu (hát ở các ca quán), là đỉnh cao giữa thơ và âm nhạc. Hát Xoan Phú Thọ là tiếng hát dâng thần linh, cầu chúc, khấn nguyện thần linh ban phúc cho dân làng… là loại hình dân ca lễ nghi phong tục với hình thức nghệ thuật đa yếu tố: có nhạc, hát, múa; thường được biểu diễn vào dịp đầu xuân.
Đờn ca tài tử Nam Bộ là thú chơi tao nhã nơi quê hương, làng xóm của người dân Nam Bộ sau ngày làm việc, sau vụ mùa, lễ, giỗ, Tết… Được hình thành từ thế kỷ thứ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian, là loại hình diễn tấu có ban nhạc và người ca là bạn bè chòm xóm, thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ. Ví- Giặm Nghệ Tĩnh là một loại hình nghệ thuật trình diễn dân ca chiếm vị trí quan trọng và phổ biến trong đời sống văn hóa cộng đồng của người dân tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, được hát trong hầu hết mọi hoạt động đời thường, từ ru con, dệt vải đến trồng lúa…

Tự hào vinh danh và trăn trở bảo tồn

Trong các “quốc bảo” di sản văn hóa phi vật thể nhân loại mà Việt Nam đang nắm giữ, thì duy nhất có Nhã nhạc cung đình Huế được xem là thành công trong việc vinh danh – bảo tồn, tính đến năm 2017 đã được 14 năm vinh danh “di sản” nhân loại. Theo báo cáo của UNESCO, cơ bản hồi sinh và phát huy giá trị trong đời sống đương đại. 14 năm qua, các nghệ nhân lớn tuổi đã giúp các nhạc công trẻ nâng cao nhận thức về di sản, trao truyền cho thế hệ trẻ những ngón nghề và cả kỹ năng biểu diễn. Các buổi biểu diễn Nhã nhạc đều thu hút đông khách nghe – xem, như một món tiệc sang trọng đãi khách bốn phương văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên việc bảo tồn vẫn đang là thách thức, khi chưa phải là chọn lựa yêu thích ngay cả với những sinh viên âm nhạc ở Huế…
Với Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, giai điệu nối thần linh với con người đã làm người nghe ngây ngất bởi âm thanh đầy mê hoặc, nhưng cũng có những mối trăn trở lớn. Khoác tấm áo “di sản”, nó đã vượt ra ngoài “không gian” thần linh thuần gốc, mất đi tính “nguyên bản”, mà nhờ vào đó nó mới được vinh danh. Xưa cồng chiêng chỉ dùng trong nghi lễ, ngày nay cồng chiêng Tây Nguyên ngày càng được đưa vào sử dụng như những hoạt động văn hóa nghệ thuật phổ biến, bình dân.
Quan họ Bắc Ninh có may mắn là luôn được bảo tồn ngay cả khi chưa được vinh danh “di sản”, đã làm “đại sứ” văn hóa để thu phục trái tim bao du khách và bạn bè quốc tế. Hội Lim hàng năm được duy trì khá đều đặn như một sợi dây tình nối Quan họ với mùa xuân, với đời sống văn hóa. Nhưng cũng có nhiều nỗi lo. Cho đến hiện tại, Quan họ cũng chỉ có khoảng hơn 300 bài được ký âm và đưa ra giới thiệu, còn cả kho băng ghi âm hàng ngàn bài Quan họ cổ do các nghệ nhân hát vẫn còn lưu giữ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch 2 tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang.
Ca TrùHát Xoan khi được vinh danh trở thành “Quốc bảo” và “Di sản” nhân loại, không còn bị lãng quên. Mừng nhưng lo, khi cả hai đều nằm trong danh mục “Di sản Văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp”, đặc biệt là Ca Trù. Theo lộ trình, năm 2014 Việt Nam phải báo cáo với UNESCO việc “cứu” Ca Trù ra khỏi tình trạng “khẩn cấp”, nếu không sẽ bị rút danh hiệu, nhưng tới năm 2016 thì Ca Trù vẫn đang bị đe dọa rút tên di sản. Cho đến nay, nổi bật nhất trong bảo tồn Ca Trù chỉ là tổ chức các liên hoan mang tính địa phương như Hà Nội, Hưng Yên… Các văn bản Ca Trù cũng chỉ trong phạm vi “nội bộ”, ít được phổ biến, những sản phẩm nghe – nhìn cũng hiếm, không được đầu tư. Cả nước hiện chỉ còn hơn 10 nghệ nhân Ca Trù ngoài 80 tuổi. Lớp nghệ nhân mới hầu như ít được tiếp cận với chuẩn Ca Trù cổ… Còn Hát Xoan, cũng đang trong lộ trình 5 năm “cứu” ra khỏi tình trạng “khẩn cấp” tính từ tháng 11/2011. Việc bảo tồn Hát Xoan có khá hơn, đến năm 2015 đã đào tạo được 62 nghệ nhân kế cận có khả năng truyền dạy; 31 bài cơ bản của 3 chặng Hát Xoan do các nghệ nhân cao tuổi nắm giữ đã được tư liệu hóa và truyền dạy hầu như đầy đủ cho lớp nghệ nhân kế cận; Hiện có 28 Câu lạc bộ Hát Xoan với số hội viên lên tới trên 1.100 người; 19 di tích liên quan tới Hát Xoan trong số 30 di tích đã được khôi phục bảo tồn, nhưng hiện tại hát Xoan lại không được giới trẻ “mặn mà” tiếp cận.
Đờn ca tài tử Nam Bộ đã đáp ứng được các tiêu chí của UNESCO: Được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giáo dục chính thức và không chính thức tại khắp 21 tỉnh phía Nam; Được tái tạo thông qua trao đổi văn hóa với các dân tộc khác nhau, thể hiện sự hòa hợp và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc… Nhưng hiện tại chỉ được “thuộc lòng” theo 20 bản tổ và đờn ca đúng nhịp, đúng hơi. Còn việc tìm hiểu, truyền bá, nhân rộng cái hay, độc đáo của dòng nhạc tài tử Nam Bộ như một loại nhạc “thính phòng gia đình”, nhằm giữ gìn, phát huy vốn di sản văn hóa dân tộc thì gần như chưa có gì.
Ví – Giặm Nghệ Tĩnh do tồn tại với hình thức truyền khẩu, công tác bảo tồn dân ca gặp khó khăn. Thời gian qua hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã nỗ lực nhưng vẫn chưa có sự sưu tầm đầy đủ, bài bản về các lời hát, điệu hát cổ, nhất là ở những nghệ nhân lớn tuổi. Chưa có những hình thức lưu trữ, tư liệu hoá bằng hình ảnh, âm thanh.

Cần thiết khai thác vốn cổ âm nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên         Nguồn: Internet

Để bảo tồn xứng với danh hiệu

Điều lo ngại và cần quan tâm nhất vẫn là 6 “di sản”, trong đó Ca Trù đang ngấp nghé bị tước danh hiệu.
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, việc bảo tồn nên kết hợp với nhiều ngành, nhiều cơ quan, từ việc tránh nạn “chảy máu” cồng chiêng ra khỏi Tây Nguyên, đến việc giáo dục cho lớp trẻ biết yêu quý, trân trọng, có tinh thần bảo vệ vốn văn hóa cổ của dân tộc mình. Ngoài ra các cấp từ địa phương đến Trung ương, các nhà văn hóa học, dân tộc học cũng nên nghiên cứu, khai thác vốn cổ âm nhạc cồng chiêng, sử thi Tây Nguyên, trả lại không gian đích thực của nó, là rừng núi Tây Nguyên, chứ không phải là các sân khấu lớn, biến cồng chiêng Tây Nguyên thành một thứ nhạc cụ biểu diễn vô hồn và trống rỗng.
Với Quan họCa Trù, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá di sản, sưu tầm, phục dựng các hình thức hát và truyền dạy hát ca tại cộng đồng; đầu tư hỗ trợ mua sắm trang thiết bị và hỗ trợ phục dựng, tôn tạo các thiết chế văn hóa liên quan đến di sản. Riêng Ca Trù đang trong giai đoạn “khẩn cấp” đe dọa rút danh hiệu, trước mắt cần có chính sách để các tỉnh có Ca Trù thực hiện phục hồi, bảo vệ; tổ chức nhiều hoạt động, liên hoan trao đổi kinh nghiệm, giúp các nghệ nhân được trình diễn trước công chúng; tổ chức các lớp truyền dạy, đào tạo bài bản, chuyên nghiệp và chuẩn xác hơn. Ngoài ra, cần gấp rút khai thác vốn Ca Trù cổ từ các “báu vật nhân văn sống”, cho việc bảo tồn và phát triển Ca Trù trong tương lai. Với hát Xoan chúng ta cũng nên hướng làm sao để “nhập” vào giới trẻ, chủ nhân của di sản trong tương lai.
Đờn ca tài tử Nam Bộ, ngay từ bây giờ, cần được định hướng phát triển cụ thể cho từng Câu lạc bộ đờn ca tài tử của địa phương. Bên cạnh đó, việc quảng bá, giới thiệu loại hình này trên các phương tiện truyền thông cần được quan tâm hơn, đi sâu vào cuộc sống, nhận thức của người dân. Ví – Giặm Nghệ Tĩnh cũng cần được đầu tư để khôi phục các điệu hát cổ, không gian văn hóa, môi trường diễn xướng. Nghiên cứu, thể nghiệm sân khấu hóa dân ca, trên cơ sở bảo tồn nguyên vẹn các giá trị của di sản.
Không chỉ có các di sản như trên, mà Việt Nam còn đang trình UNESCO một số loại hình nghệ thuật khác để được vinh danh trong tương lai. Vì thế việc bảo tồn, phát triển, quảng bá các “di sản” này không thể chỉ tự thân “di sản” mà đòi hỏi tất cả chúng ta cùng trách nhiệm chung tay, xem như chính báu vật của cá nhân mình. Không gì hơn cần có nhiều cuộc vận động, tạo điều kiện để giới trẻ tìm hiểu, tham gia vào công tác bảo tồn giá trị văn hóa quý giá này.

 

Hoài Hương

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây