Tết Vía trâu của người Tày

VNTN – Ở Cao Bằng quê tôi, hầu như mỗi tháng lịch âm có một ngày Tết. Tháng Giêng có Tết Nguyên đán là to nhất. Tết anh cả. Hầu như ai cũng biết rồi. Tháng hai Tết Thanh minh. Tháng ba Tết Tảo mộ. Tháng tư Tết Hạ chí. Tháng năm Tết Đoan ngọ. Tháng sáu Tết “Khoăn woài” – Vía trâu… Trong những cái Tết vừa kể trên, Tết Vía trâu để lại trong tôi nhiều kỷ niệm nhất.

Tết Khoăn woài slo lọc (Vía trâu) diễn ra ngày 6 tháng 6 âm lịch. Có nơi còn gọi là Tết Rửa cày bừa. Người và trâu bò được nghỉ ngơi. Cày bừa treo lên vách. Cuốc, xẻng, dao phát cỏ được lau sạch bùn đất, bôi mỡ bò chống rỉ, gác lên gác bếp. Chuẩn bị sang năm cho vụ mùa sau.

Con trâu, con vật gần gũi và linh thiêng của người Tày

Vào dịp này, cánh đồng lúa đã bắt đầu bén rễ. Lúa như những đứa trẻ sơ sinh hãy còn loe hoe tóc. Tã ốm lỏng lẻo hở cả rốn ra ngoài. Chúng giơ tay giơ chân lên trời, lúc nào cũng đạp nọc nạch tung tình rối rít. Gốc lúa nhả ra chữ ô chữ ô ấm áp, tạo thành những âm tiết giản đơn mà thiêng liêng ở đoạn đầu cuộc đời. Sao có người lại bảo đây chính là tiếng ếch ộp gọi bạn tình. Thảo nào gió cứ lay nhảy sung sướng thổi trên mặt ruộng. Gió mang theo mùi bùn non. Bùn non sánh như sữa đặc.

Chẳng biết lúa ngủ vào lúc nào. Ngày cũng như đêm. Ai đi ngang qua cánh đồng cũng đều nghe tiếng cây lúa non chóp chép. Lúa non bú ruộng. Cả cánh đồng bay lên, dâng lên mùi bùn non. Bùn đợm sương nắng. Váng bùn lèo phèo nổi lên mặt ruộng thành những quầng bao quanh gốc lúa.

Tết Vía trâu được dân làng tổ chức đúng vào ngày mồng sáu tháng Sáu âm lịch hàng năm. Người ta không chuẩn bị bánh trái đồ ăn linh đình như cỗ Tết Nguyên đán hay Rằm tháng bảy. Nhưng cũng đủ rượu nếp cẩm, bún thang, xôi vò, thịt ngan béo, thịt lợn quay. Điều đặc biệt là nhà nào cũng chuẩn bị một con “cáy tắc” (gà giò) dành hẳn cho lũ trẻ chăn trâu. Con cáy tắc chỉ to bằng hai nắm tay, luộc chín vừa đủ cho một người ăn.

Con cáy tắc được chính đứa bé chăn trâu chăm bẵm từ khi nhỏ bằng cục bông vàng. Ngày nào chú bé cũng dẫn cục bông vàng đi đào giun. Con cáy tắc cứ lon ton chạy theo người. Vì nó là con độc, nên chóng to béo hơn bọn cùng đàn.
Hồi xưa tôi cũng nuôi một con cáy tắc. Nhưng nó lớn chậm béo muộn. Đến Tết Vía trâu cũng được mổ. Tôi xách cơm nắm cùng con cáy tắc đi chăn trâu. Theo bạn bè, tôi cũng đuổi đàn trâu vào lũng Pác Nạo. Lũng Pác Nạo nằm lọt thỏm giữa những dãy núi đá vôi. Núi đứng vững chãi chọc lên trời cao vời vợi. Ho một tiếng núi trả lời mười tiếng. Gọi một câu núi nọ truyền núi kia đi miết đến tận nơi mặt trời lặn. Chờ mãi. Chiều mới xuống được nửa núi. Tôi vội vàng hò chúng bạn mang cáy tắc ra bãi cỏ bằng đánh chén. Đứa nào cũng một con gà mái tơ béo ngậy. Riêng cái Cắt thì không. Nhà nó có con vịt con gà nhỏ bằng nắm tay, bố nó cũng mang ra chợ Co Xàu đổi lấy vài xèng (li) thuốc phiện. Hồi đó chúng tôi đâu có biết thương bạn nhà nghèo. Khi chúng tôi ngồi ăn. Cái Cắt ngồi một mình sau lùm lá. Nó khóc lén. Nước mắt loang đầm đìa trên khuôn mặt trăng tròn. Phải nói rằng hồi đấy Cắt khá xinh và hát lượn nghe rất vang. Sau này người làng kể Cắt đi văn công tỉnh hay Khu tự trị Việt Bắc gì đó. Thi thoảng Cắt có đi xe riêng trở về làng.
Nhớ ngày ấy, từ sáng sớm cha tôi đã gọi cả nhà dậy làm bún. Làm bún là công đoạn vất vả nhất. Tốn công tốn sức nặng nhọc nhất. Từ khâu xay bột sống, giã bột chín, đến lúc cho vào khuôn ép thành những sợi đều tự tay mình làm. Nên bún làng tôi thô và dễ gãy. Sợi bún to như con giun. Những con giun trắng bóc đồng loạt xuất hiện. Chúng bị nhấn chìm xuống chảo nước đang sôi. Một lúc sau bún chín. Bún nổi lên từng đám. Những sợi bún trắng tinh thơm ngon. Chúng được người ta múc lên và rải đều trên lá chuối.

Trời ạ! Cả một trời là bún. Bún thì xanh biếc còn lá chuối thì trắng tinh.

Sàn nhà nào cũng bún xanh lá chuối trắng. Trắng xanh đang thi thóp thở. Khắp các ngõ ngách làng tôi đầy phè tiếng cười.

Nhà nhà gọi nhau bưng mâm lễ ra ruộng cúng hồn lúa. Phải cúng hồn lúa đồng loạt. Nếu kẻ trước người sau thì cả đồng lúa xông vào xơi hết cỗ của người được tiếng là nhanh nhảu. Cánh đồng người rồng rắn đi trên bờ ruộng. Ai cũng đội trên đầu mâm cỗ. Trên mâm bao giờ cũng có một con gà luộc. Một đĩa xôi vò. Một be rượu gạo. Hai bát bún thang. Họ thắp hương và lầm rầm khấn.

Nhưng tại sao lại gọi Tết Vía trâu? Mà không phải là Tết Hồn lúa? Từ xa xưa Người Việt có câu “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Người Tày Nùng có câu: “Tuô mò dò pỏ khỏ” Tạm dịch: Con bò giúp gỡ cảnh nghèo. Không có nó, con người vẫn có thể dùng sức của chính mình kéo cày làm đất. Nhưng quá cực nhọc vất vả mà không mấy năng suất.

Cả làng cả tổng ai cũng gọi trâu ơi. Gọi trâu như gọi người. Tôi nhớ hồi còn nhỏ, người già kể rằng từ cổ xưa con trâu và những con vật khác biết nói tiếng người. Nhưng lâu rồi. Không hiểu sao trâu tự làm mất tiếng. Trâu chỉ biết cười thôi. Nó nhớ đồng bọn. Nó ngửi mùi nước đái là trâu cười. Mỗi khi trâu cười, tôi thấy vui lây cả rừng cây con suối. Hình như trâu cười làm cho đất đai phì nhiêu thêm. Cỏ xanh tươi tốt hơn. Và lòng người thì thật là… hoàn toàn nhẹ nhõm. Khổ như trâu mà còn được cười!

Cỗ trong ngày “Tết” Vía trâu của bà con vùng cao  (Ảnh sưu tầm Internet)

Con trâu là một phần tài sản không nhỏ trong mỗi gia đình của người nông dân. Nó từng được kê khai trong lý lịch cán bộ một thời. “… Nhà tôi có một nửa sào ruộng và một nửa con bò…” Có nghĩa rằng tôi xuất thân thuộc thành phần bần nông! Thành phần cơ bản! Ắt sẽ được cấp trên chú ý và cho đi đào tạo lớp cán bộ chính quyền, đoàn thể ngắn hạn.

 Còn những ai mà gia đình có đến bốn năm con trâu, bảy tám con nghé cộng thêm vài đám ruộng, dẫu có học giỏi bằng giời thì vẫn nghỉ khỏe. Họ thuộc thành phần phú nông địa chủ! Phú nông với địa chủ nghe mà buồn cười. Cả nhà chỉ có vài đám ruộng. Lúa mọc như cỏ đuôi chó. Đi hai bước chân là hết đất. Nhưng vào cái thời ấy dính tý “thành phần” là cấm ho hen. Đừng hòng sủi tăm. Có mà mơ thoát ly ra khỏi làng! Người ta cứ nhằm những ai cứng đầu cứng cổ hay có ý kiến thẳng thừng với xã. Hoặc ai là người lành hiền, cả năm cả đời không dám nói to.

Nhắc lại câu chuyện ấu trĩ cách đây bốn, năm chục năm cho vui. Để thấy giá trị của con trâu con bò một thời. Nó là máu và nước mắt của người nông dân thực sự.

Người dân quê tôi vẫn duy trì Tết Vía trâu hằng năm. Loại trừ yếu tố phi khoa học, Tết Vía trâu gợi cho con người lòng biết ơn sâu sắc. Tất thảy những ai đã giúp mình thoát khỏi cơn đói khát, thoát khỏi nỗi buồn phiền… đều phải biết ơn. Lòng biết ơn trong xã hội người Tày Nùng vẫn ăm ắp. Ăm ắp như nước suối nguồn không bao giờ khô cạn.

Y Phương

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây