Thứ sáu10312014

Last update03:38:46 PM

Đôi diều cần trao đổi lại về hoàn cảnh ra đời của bài Cảnh khuya

 

VNTN - Trên Văn nghệ Thái Nguyên (VNTN) gần đây, từ 1 tháng 8 đến 10 -10 - 2013 có đăng rải rác một số bài trao đổi về hoàn cảnh ra đời bài thơ Cảnh khuya (1947) của Hồ Chí Minh. Đó là các bài của Văn Giang (số 22, ngày 1-8), Bùi Nhật Lai (số 20, ngày 20-8), Văn Đồng (số 26, ngày 10-9) và Lê Nhâm, Văn Giang (số 29, ngày 10-10). Trong bài này, tôi xin có đôi lời về một số chi tiết liên quan đến bài báo của mình, nhan đề “Đọc hiểu thơ trữ tình trong mối quan hệ với hoàn cảnh cảm hứng của tác giả” (VNTN, 20-10-2012). Đồng thời, tôi cũng muốn nói thêm về hoàn cảnh và nơi ra đời bài thơ Cảnh khuya mà nhiều người đang quan tâm, bàn luận.

1.Trước hết, xin cám ơn hai tác giả Văn Giang và Bùi Nhật Lai, ở hai bài đăng trên VNTN, số 22 và 24 trong tháng 8-2013 đã góp ý kiến về một vài chi tiết chưa chính xác ở bài báo của tôi. Chi tiết quân Pháp nhẩy dù xuống Chợ Chu là nhầm lẫn, vì trong bài nghiên cứu khác, khi thuật lại lời kể của luật sư Phan Anh với tiêu đề: “Bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc và Cảnh khuya được ra đời ở đâu (1), tôi đã viết : “ Cuối năm 1947, thực dân Pháp tập trung binh lực nhẩy dù Bắc Cạn, Chợ Mới” Còn về chi tiết cảnh “trời tối, mưa trơn, gió bấc hun hút” trong đêm Bác Hồ di chuyển cơ quan đến Võ Nhai (15-10-1947), tương ứng với mấy ngày cuối tháng 8 âm lịch năm ấy, không có trăng, như Văn Giang và Bùi Nhật Lai dẫn chứng, lập luận là có sức thuyết phục.

2. Bài Cảnh khuya của Hồ Chí Minh đã từ lâu được in trong các tập Thơ Hồ Chí Minh và ở sách giáo khoa phổ thông, chỉ có 4 câu như mọi người đã biết. Từ năm 1990, khi cuốn Tìm hiểu thơ ca chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Vũ Châu Quán - Nguyễn Huy Quát viết), Nxb Văn hóa dân tộc ấn hành, sau đó Nxb Thanh niên (tái bản) thì Cảnh khuya gồm 10 câu mới được công bố trên sách báo. Trong bài đăng trên VNTN 1-8-2013, tác giả Văn Giang cho rằng, bài Cảnh khuya “với sự toàn vẹn của nó” là 10 câu và ông viết ra đầy đủ 10 câu ấy, nhưng không chỉ rõ đã lấy từ nguồn tài liệu nào, tức là chưa “nói có sách, mách có chứng”.

Để hiểu rõ hoàn cảnh ra đời một số bài thơ của Hồ Chí Minh, đầu năm 1988 chúng tôi đã đến hỏi chuyện luật sư Phan Anh tại ngôi nhà số 14 phố Tôn Đản, Hà Nội (khi ông đang giữ chức Phó chủ tịch Hội đồng hoà bình thế giới). Hôm ấy, bà Nguyễn Hồng Chỉnh cũng có mặt trong căn phòng chồng bà tiếp chuyện chúng tôi. Luật sư Phan Anh cho biết: ông còn giữ cuốn nhật ký ghi lại những ngày được sống, làm việc với Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc. Luật sư Phan Anh kể: khi Pháp bắt đầu tấn công lên chiến khu (7-10-1947) và nhất là khi được tin chúng nhẩy dù xuống một số nơi trong An Toàn Khu, thì Hồ Chủ tịch quyết định chuyển nơi ở và làm việc từ Điềm Mặc, Định Hóa đến làng Vang, Liên Minh, Võ Nhai, rồi trụ lại đó từ 15-10 đến 17-11-1947. Luật sư nhớ lại, khi ở Võ Nhai, vào lúc gay go nhất của cuộc kháng chiến (tháng 11 năm 1947), ông nhận được thư của Bác Hồ, trong đó có bài thơ: Đêm khuya nhân lúc quan hoài / Lên câu thơ thẩn chờ ai hoạ vần / Tiếng suối trong như tiếng hát xa / Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa / Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ / Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà / Nước nhà đang gặp lúc gay go / Trăm việc ngàn công đều phải lo / Giúp đỡ nhờ anh em gắng sức / Sức nhiều thắng lợi lại càng to.

Mấy hôm sau, luật sư Phan Anh làm bài thơ họa lại gửi lên Hồ Chủ tịch:

Họa vần xin gửi cho ai / Đường xa sẻ tấm quan hoài nước non / Quanh quanh dòng suối cảnh đường xa / Trời có trăng và núi có hoa / Trăng sáng bao la trời đất nước / Hoa thơm phảng phất vị hương nhà / Nước nhà tuy gặp bước gay go / Lái vững chèo dai ta chẳng lo / Vượt sóng, dựng buồm, ta lựa gió / Thuận chiều, ta mở cánh buồm to. (2)

Tháng 5 -1990, khi tập sách Tìm hiểu thơ ca chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh được xuất bản, trong đó có bài do luật sư Phan Anh kể, chỉ sau một tháng ông đã là người thiên cổ (Luật sư mất ngày 28-6-1990). Nhiều năm sau, trên báo Văn nghệ, 6-1-2007 ( Hội Nhà văn Việt Nam ) có đăng bài Tìm hiểu xuất xứ hai bài thơ của Bác do Trần Hành viết. Theo tác giả bài báo, xuất xứ bài Cảnh khuya của Hồ Chí Minh được dựa vào cuốn “ Hồi kí Phan Anh” do vợ ông là bà Nguyễn Hồng Chỉnh công bố, sau khi luật sư qua đời. Trần Hành viết: “Thu đông năm 1947, trên đường từ xã Xuất Tác sang xã Nhất Thể để di chuyển cơ quan, tránh địch vây lùng, lúc đó địch bám sát ta gần nhất thì anh (tức Phan Anh Trần Hành chú) nhận được bài thơ của Bác. Đó là vào tháng 11 năm 1947 ”. Bài thơ do Trần Hành dẫn ra cũng giống như bài mà luật sư Phan Anh đã đọc cho chúng tôi ghi trực tiếp tại nhà ông vào đầu năm 1988. Cuốn “ Nhật kí chiến khu” mà luật sư dựa vào đó kể cho chúng tôi về hoàn cảnh cùng nơi ra đời bài thơ Cảnh khuya và cuốn “Hồi kí Phan Anh” do người thân của ông công bố, tuy ở hai thời điểm trước, sau khoảng hơn chục năm, nhưng nội dung vẫn giống nhau: Luật sư Phan Anh nhận được bài Cảnh khuya của Hồ Chủ tịch trọn vẹn 10 câu và đã họa lại với tinh thần “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” khi đang tránh sự bao vây của quân Pháp vào tháng 11 năm 1947 tại Liên Minh, Võ Nhai, Thái Nguyên.

Canh khuya

 

Trong các bài báo với nội dung “trao đổi” đã đăng trên VNTN gần đây thì thời gian và nơi ra đời bài Cảnh khuya của Hồ Chí Minh có hai loại ý kiến khác nhau.

Loại ý kiến thứ nhất có tác giả Văn Đồng và Lê Nhâm, với cùng nhận định: Cảnh khuya được Hồ Chí Minh sáng tác khi Người sống, làm việc ở đồi Khau Tý, xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa trong thời gian từ 20-5-1947 đến trước khi nổ ra chiến dịch Việt Bắc, 7-10-1947. Lấy dẫn chứng từ cuốn sách của Đồng Khắc Thọ, Văn Đồng cho rằng: “Bác Hồ viết bài Cảnh khuya tại thời điểm Bác ở đồi Khau Tý, Điềm Mặc, Định Hóa (20-5-1947 - trung tuần tháng 10-1947). Bởi thời điểm sau đó, Bác không còn ở Khau Tý nữa”. ở đoạn khác trong bài báo của mình, Văn Đồng lại viết: “Bài thơ ra đời trước khi Pháp tấn công lên Việt Bắc, có thể là cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10-1947. Về địa danh: tại xã Điềm Mặc, có thể là lán Khau Tý, xã Điềm Mặc?” Đọc kĩ bài báo của Văn Đồng, nhất là đoạn trích trên đây, tôi nghĩ rằng, cả về ý tứ và cách lập luận của ông đều chưa có sức thuyết phục. Cảnh khuya được ra đời vào cuối tháng 9, đầu tháng 10, trước khi giặc Pháp tấn công lên Việt Băc thì tình huống trực tiếp: “Nước nhà đang gặp lúc gay go / Trăm việc ngàn công đều phải lo” đã xẩy ra một cách cấp bách chưa, đã khiến cho tác giả suy nghĩ căng thẳng tới mức “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” hay chưa? Xin hỏi tác giả Văn Đồng: Khi Thường vụ TƯ Đảng “luận bàn và ra chỉ thị phá tan cuộc tấn công của giặc Pháp (1947)” thì quân Pháp đã tấn công chưa? Nếu chưa, thì phải viết là Chỉ thị nói về việc chuẩn bị chống cuộc tấn công của quân Pháp lên Việt Bắc mới chính xác! Và trong tình huống như thế mà mọi người đã được xem bài Cảnh khuya thì liệu có chắc chắn không, nhất là khi ta có một tư liệu khác: luật sư Phan Anh nhận được bài thơ này gồm 10 câu khi ông cùng cơ quan của Hồ Chủ tịch đang tránh giặc ở Liên Minh, Võ Nhai vào tháng 11-1947? Lập luận của Văn Đồng cũng làm cho Văn Giang băn khoăn chưa tự lí giải được nên ông viết: “dưới bóng cây trám, cây đa cổ thụ “bóng lồng hoa”, chúng tôi (ý nói Đại tướng...) được xem bài thơ “Cảnh khuya” do Người sáng tác, liệu có chính xác”? (VNTN, 10-10- 2013).

Tác giả Văn Đồng lại viết tiếp: “sẽ là đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn để hiểu sâu sắc ý nghĩa của bài thơ “Cảnh khuya” nếu như nghiên cứu đầy đủ bài thơ gồm 10 câu chứ không phải chỉ có 4 câu thơ đã in trong sách giáo khoa”. Mười câu thơ được dẫn trong bài báo của Văn Đồng cũng không ghi xuất xứ từ tài liệu nào. Lại xin hỏi: nếu biết rõ Cảnh khuya có 10 câu và người nhận được 10 câu ấy từ Hồ Chủ tịch là luật sư Phan Anh, rồi ông đã họa lại để chia sẻ nỗi lo việc nước với tác giả của nó, trong thời gian cùng với cơ quan Chính phủ kháng chiến tránh sự bao vây của Pháp ở Liên Minh, Võ Nhai vào lúc gay go nhất (11- 1947) thì ông nghĩ sao?      

Lê Nhâm có hai bài đăng trên VNTN với ý kiến nhất quán: Cảnh khuya được ra đời ở đồi Khau Tý, xã Điềm Mặc, Định Hóa, với chứng cứ được dẫn ra từ các tài liệu lịch sử địa phương. ở bài “Ngày Bác về Khau Tý” đã công bố từ hai năm trước (VNTN, 20-5-2011), ông viết: “Trong lúc khẩn trương bộn bề công việc, lo lắng việc dân, việc nước, Bác vẫn lạc quan, ung dung tự tại, dưới làn cây cổ thụ trong một đêm trăng sáng “bóng lồng hoa”, Người đã tức cảnh làm bài thơ nổi tiếng tại đồi Khau Tý này: Tiếng suối trong như tiếng hát xa / Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa / Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ / Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Nếu hiểu rằng: khi cuộc kháng chiến đang gặp bước gay go, lại phải lo trăm công ngàn việc mà “Bác vẫn lạc quan, ung dung tự tại, dưới làn cây cổ thụ trong một đêm trăng sáng “bóng lồng hoa”, Người đã tức cảnh làm bài thơ nổi tiếng ở đồi Khau Tý này” thì liệu có khiên cưỡng chăng? Cảnh khuya không phải là một bài thơ “tức cảnh” như Lê Nhâm quan niệm. ở đây, cái chính là tác giả thể hiện nỗi lo việc nước và muốn chia sẻ nỗi lo ấy với mọi người. Cảnh thiên nhiên tươi đẹp thật, nhưng nhà thơ - chiến sĩ Hồ Chí Minh không thể thư thái mà thưởng ngoạn một cách “ ung dung, tự tại” bình thường. Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà là tâm sự mà tác giả muốn thể hiện qua bài thơ trữ tình này.

Loại ý kiến thứ hai là của tác giả Văn Giang. Sau khi phân tích, lập luận bằng nhiều lẽ, cả ở góc độ lịch sử và văn học, thông qua các từ ngữ, hình ảnh ở bài Cảnh khuya, Văn Giang viết: “ Nếu không đưa ra được những dẫn chứng sát thực, cụ thể hơn để nói rằng Bác sáng tác bài “Cảnh khuya” ở đồi Khau Tý, thì tôi cho rằng Hồ Chí Minh sáng tác bài “Cảnh khuya” tại Khuôn Tát, xã Phú Đình vào cuối tháng 12 năm 1947, với những chứng cứ sau đây:

“ Một là, căn cứ vào câu đầu của bài thơ “Đêm khuya nhân lúc quan hoài”, ta có thể hiểu nhân lúc thư thái, phấn chấn trong một đêm trăng sáng ở Khuôn Tát, Hồ Chí Minh nghe thấy tiếng reo từ thác 9 tầng vọng tới như tiếng hát xa. Nhà thơ lại liên tưởng, nhớ lại một chặng đường cách mạng vừa trải qua. Để lãnh đạo kháng chiến, Bác đã từng trải qua nhiều vùng núi rừng Việt Bắc như Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên. Đến đâu cũng thấy những cảnh nên thơ: tiếng suối reo, “trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”. Đây là tổng hòa cảnh đẹp thiên nhiên ở chiến khu Việt Bắc, chứ không phải chỉ ở một nơi cụ thể nào. Nhưng nó lại được xuất thần ở Khuôn Tát vào một đêm trăng sáng, nơi có cây đa cổ thụ giữa đại ngàn. Chính cái đêm ấy, Bác đến dự buổi liên hoan văn nghệ mừng chiến thắng, biểu dương thành tích phục vụ chỉ đạo, chỉ huy, góp phần vào chiến thắng chung của các dân tộc Việt Bắc cùng cả nước. Và, cảnh đẹp thiên nhiên hòa quyện nội tâm của thi sĩ Hồ Chí Minh mà bài thơ Cảnh khuya tuyệt tác được ra đời, tại Khuôn Tát nơi Bác chuyển từ Võ Nhai về”.

“Hai là, phải chăng niềm vui thắng lợi lớn đấy, nhưng trước mắt còn bộn bề công việc nên mới có những câu thơ tiếp theo : “ Nước nhà đang gặp lúc gay go/Trăm việc ngàn công đều phải lo/Giúp đỡ nhờ anh em gắng sức/ Sức nhiều thắng lợi lại càng to”. Chính câu kết của bài thơ Cảnh khuya đã giúp tôi khẳng định xuất xứ của bài thơ phải ở vào thời điểm sau chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947 (cuối tháng 12). Nhà thơ nói “thắng lợi lại càng to”, có nghĩa là đã có thắng lợi rồi (quân Pháp đã rút khỏi Việt Bắc rồi), nhưng Bác kêu gọi (có thể kêu gọi cả bè bạn quốc tế) một cách khéo léo: “Giúp đỡ nhờ anh em gắng sức/ Sức nhiều thắng lợi lại càng to” (Bài báo đã dẫn, 20-8-2013).

Hai căn cứ trên đây được luận giải chủ yếu bằng cảm nhận chủ quan của tác giả, được suy diễn từ những lời thơ, ý thơ trong Cảnh khuya 10 câu. Từ ý kiến của Văn Giang, Văn Đồng cho rằng, “Khi: bàn về một vấn đề lịch sử cần có tư liệu cụ thể, chắc chắn, tránh suy luận”. Chẳng hạn như, “Ta không thể suy luận rằng câu thơ “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” là do Bác sáng tác ở gần suối Khuôn Tát có 9 tầng, có tiếng nước suối, rằng bài thơ “Cảnh khuya” được Bác sáng tác sau chiến thắng Việt Bắc ở Khuôn Tát, Phú Đình, Định Hóa”. Theo Văn Đồng, ý kiến của Văn Giang “là không có cơ sở lịch sử, bởi cuối tháng 12 - 1947, Bác Hồ ở tại Bản Ca, xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, Bắc Cạn chứ khi ấy Bác không ở Khuôn Tát, Phú Đình, Định Hóa”.

Văn Giang dựa vào văn bản bài thơ để làm căn cứ cho lập luận của mình, trong đó cũng có ý chưa chính xác. Ví dụ, tác giả viết: “Đêm khuya nhân lúc quan hoài”, ta có thể hiểu nhân lúc thư thái, phấn chấn trong một đêm trăng sáng ở Khuôn Tát”. Theo chúng tôi, từ ngữ đáng chú ý ở câu thơ này là hai chữ “quan hoài” (quan tâm đến điều gì đó). Trong đêm khuya vắng vẻ ở rừng núi chiến khu cuối năm 1947, tác giả muốn thổ lộ tâm sự của mình là đang quan tâm lo lắng đến việc nước, chứ không phải là “lúc thư thái phấn chấn trong một đêm trăng sáng ở Khuôn Tát” như Văn Giang suy luận. Đến câu kết: “Giúp đỡ nhờ anh em gắng sức/ Sức nhiều thắng lợi lại càng to” mà cho là “Bác kêu gọi (có thể kêu gọi cả bạn bè quốc tế) một cách khéo léo” thì quả là người cảm thụ đã đi xa văn bản và văn cảnh bài thơ rồi!

Theo lý thuyết tiếp nhận văn học, việc nghiên cứu, cảm thụ hay đọc hiểu một tác phẩm thơ văn ở mức đầy đủ, sâu sắc thì cần phải có cách tiếp cận đồng bộ. Yêu cầu của cách tiếp cận này là phải xem xét tác phẩm từ nhiều góc độ, nhiều yếu tố góp phần làm nên giá trị nội dung và thuật của nó. Thứ nhất, tiếp cận theo hướng lịch sử phát sinh, tức là dựa vào bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh cảm hứng và một số yếu tố khác có liên quan đến sự ra đời của tác phẩm. Đây là cách cần thiết nhưng không phải duy nhất và quan trọng nhất; Thứ hai: Tiếp cận văn bản là cách trực tiếp đọc, cảm thụ, phân tích ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm. Đây là cách tiếp cận chính và được đề cao, vì văn bản được coi là thông điệp chính thức, quan trọng nhất của nhà văn. Tuy nhiên, không thể bỏ qua cách tiếp cận Thứ ba: hướng vào sự đáp ứng của người đọc, vì người đọc thuộc các thế hệ khác nhau, ở các thời đại khác nhau thì nhu cầu cảm thụ cùng một tác phẩm cũng khác nhau. Vận dụng tổng hợp, hài hòa, đồng bộ ba cách tiếp cận nói trên sẽ tạo nên sự đánh giá thỏa đáng, chân xác cho tác phẩm văn học, nhất là đối với các tác phẩm quá khứ. Vì vậy, khi tìm hiểu bài Cảnh khuya của Hồ Chí Minh, thiết nghĩ không nên quá thiên về hoàn cảnh lịch sử mà nó được ra đời và cũng không nên tranh cãi nhiều về nơi ra đời của nó, vì sáng tác văn thơ là một hoạt động trí tuệ, tình cảm đặc thù của người nghệ sĩ, khó có thể xác định rõ ràng lời văn, ý thơ của tác giả được bắt đầu nảy sinh ở nơi nào, nếu chính họ không tự nói ra.

 

Ý kiến của tôi trong bài này mới thể hiện được một vài điều cơ bản cần trao đổi lại về hoàn cảnh và nơi ra đời của bài Cảnh khuya. Rất mong đươc sự đồng cảm, chia sẻ và góp ý thêm của bạn đọc gần xa!

Chú thích: (1). “Nghiên cứu văn học và đổi mới PPDH Văn”, Nxb Đại học Thaí Nguyên, 2011, tr. 155; (2).”Thơ ca chiến khu của Chủ tịch HCM”, Nxb Thanh niên, 2000, tr. 372, 373.

 

Nguyễn Huy Quát


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: