Chủ nhật10262014

Last update08:17:54 AM

Phương pháp nghiên cứu lịch sử giúp làm sáng tỏ hoàn cảnh ra đời bài thơ “ Cảnh khuya”

 

Trao đổi về hoàn cảnh ra đời bài thơ “Cảnh khuya” của Bác Hồ

VNTN - Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: “….Lịch sử diễn ra chỉ một lần, nhưng viết lịch sử có thể viết nhiều lần và có nhiều người viết. Vấn đề là phải tôn trọng lịch sử.” Điều này là hoàn toàn đúng và bởi thế khi bàn về những vấn đề lịch sử, lại càng cần sự thận trọng, chính xác. Bởi nếu sai sót, hậu quả sẽ thật khó lường. Do đó, để làm sáng tỏ hoàn cảnh ra đời, thời gian ra đời bài thơ “Cảnh khuya” của Bác Hồ, việc đi sâu tìm hiểu những cứ liệu lịch sử (thay vì những suy luận) sẽ cho phép ta có cái nhìn chính xác và đầy đủ về hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

Trước hết, về việc Bác Hồ đến ATK Định Hóa, Thái Nguyên. Lịch sử ghi rõ: Ngày 20/5/1947, Bác Hồ về tới thôn Khau Tý, xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Đây là dấu mốc quan trọng về thời gian và địa danh khắc ghi sự kiện Bác Hồ đến ATK Định Hóa, Thái Nguyên cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo toàn quốc kháng chiến. Bác Hồ đã ở tại Khau Tý, Điềm Mặc, Định Hóa từ 20/5/1947 đến giữa tháng 10/1947.

Bài thơ “Cảnh khuya” vốn không phải có tên là “Cảnh khuya”. Tên “Cảnh khuya” là do khi biên tập, in ấn, bài thơ được đặt tên là “Cảnh khuya” với 4 câu thơ:

“ Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”.

Đã từ rất lâu rồi, do bài thơ được in trong Sách Giáo khoa chỉ với 4 câu thơ nói trên và nhiều người biết bài thơ chỉ với 4 câu thơ ấy. Vậy nên, từ các sách bình giảng văn học, đến hoạt động dạy học ngữ văn, rồi tất nhiên, sau đó là hình thành trong nếp nghĩ của nhiều thế hệ học trò rằng, bài thơ “Cảnh khuya” của Bác với những thi liệu rất đẹp: tiếng suối, ánh trăng, hoa… phản ánh trăn trở, nghĩ suy của Bác trước sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.

Tuy nhiên, sẽ là đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn để hiểu sâu sắc ý nghĩa của bài thơ “Cảnh khuya” nếu như nghiên cứu đầy đủ bài thơ gồm có 10 câu chứ không phải chỉ có 4 câu thơ đã được in trong sách giáo khoa.

Canh khuya

Ảnh: Minh họa

 

Mười câu của bài thơ Cảnh khuya là:

“Đêm khuya nhân lúc quan hoài

Lên câu thơ thẩn chờ ai họa vần

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

Nước nhà đương gặp lúc gay go

Trăm việc, ngàn công đều phải lo

Giúp đỡ nhờ anh em gắng sức

Sức nhiều, thắng lợi lại càng to”.

Vậy là, với đầy đủ 10 câu thơ của bài thơ, theo lời kể của Luật sư Phan Anh khi ấy là thành viên của Hội đồng Chính phủ, một trong những người được Bác Hồ viết tặng bài thơ này và sau đó cũng có 10 câu thơ họa lại bài thơ của Bác, thì ý nghĩa của bài thơ “Cảnh khuya” không chỉ diễn tả nỗi trăn trở, nghĩ suy của Bác trước vận nước mà ý nghĩa hoàn chỉnh của bài thơ phải là từ sự trăn trở, nghĩ suy cá nhân Bác sẻ chia cảm xúc ấy, nghĩ suy ấy với nhiều người và kêu gọi tinh thần đồng lòng, thi đua ái quốc vì sự nghiệp chung của dân tộc ở thời điểm năm 1947 là: Kháng chiến, kiến quốc.

Bài thơ của Luật sư Phan Anh họa lại bài thơ của Bác và gửi cho Bác cũng gồm 10 câu và là những câu thơ mang tính chất “họa thơ”, là những vế đối hoàn chỉnh:

  “Họa vần xin gửi cho ai

Đường xa sẻ tấm quan hoài nước non

Quanh quanh dòng suối cảnh đường xa

Trời có trăng và núi có hoa

Trăng sáng bao la trời đất nước

Hoa thơm phảng phất vị hương nhà

Nước nhà tuy gặp bước gay go

Lái vững, chèo dai ta chẳng lo

Vượt sóng, thuận buồm ta lựa gió

Thuận chiều ta mở cánh buồm to”.

Về mặt lịch sử, có cơ sở để xác định rõ khoảng thời gian (cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10/1947, trước ngày Pháp tấn công lên Việt Bắc 7/10/1947) là thời điểm Bác Hồ viết bài thơ “Cảnh khuya” và địa danh nơi Bác viết bài thơ mà sau này được đặt tên là “Cảnh khuya” là tại Khau Tý, Điềm Mặc, Định Hóa.

Trước hết, theo tác giả Đồng Khắc Thọ - một người có nhiều năm nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện là Trưởng Ban quản lý Di tích lịch sử và danh thắng ATK Thái Nguyên viết tại Trang 71 cuốn sách Bác Hồ ở ATK, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, bản tái bản xuất bản quý II năm 2013 nêu “ … Tiếp kiến Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại biệt thự số 30 Hoàng Diệu, gần ngay đài liệt sỹ Bắc Sơn, Đại tướng tâm sự: Bác Hồ chủ trì cuộc họp Ban Thường vụ Trung ương Đảng: có Tổng Bí thư Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ và tôi luận bàn, ra chỉ thị phá tan cuộc tấn công của giặc Pháp ( 1947 ) đánh lên căn cứ địa Việt Bắc, dưới tán cây trám, cây đa cổ thụ “bóng lồng hoa” chúng tôi được xem bài thơ “Cảnh khuya” do người mới sáng tác …”. ( Võ Nguyên Giáp, Việt Bắc thu đông 1947, Báo Nhân dân chủ nhật, ngày 14/12/1994 ).

Như vậy, theo căn cứ nêu trên thì Bác Hồ viết bài thơ “Cảnh khuya” tại thời điểm Bác ở Khau Tý, Điềm Mặc, Định Hóa (Từ 20/5/1047 - trung tuần tháng 10/1947). Bởi thời điểm sau đó, Bác Hồ không còn ở Khau Tý nữa.

Căn cứ thứ hai, rất quan trọng về mặt tư liệu lịch sử, đó là cuốn Hồi ức Chiến đấu trong vòng vây của Đại tướng Võ Nguyên Giáp dày 436 trang, do Hữu Mai thể hiện, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Nhà xuất bản Thanh niên xuất bản năm 1995 tại trang 162 nêu rõ ràng về hoàn cảnh ra đời và địa danh nơi ra đời bài thơ Cảnh khuya:

“ … Cuối mùa hè, cơ quan Bộ Tổng chỉ huy rời về Yên Thông, không xa Điềm Mặc nơi Bác ở.

Hồi này, chúng tôi vẫn còn ở chung với đồng bào. Vùng này ruộng ít, dân nghèo. Những ngôi nhà nằm rải rác trên những vạt đất bằng , phía sau là đồi cọ hoặc rừng vầu, phía trước là những mảnh ruộng nhỏ. Xa xa, dãy núi Hồng chạy dài tới Phú Minh. Để giữ bí mật, cơ quan thường di chuyển. Có khi tôi phải làm việc trong một căn buồng chứa nông cụ của đồng bào.

Vào cuối thu, chuẩn bị đối phó với cuộc tiến công lớn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, tư tưởng có phần căng thẳng. Một đêm trăng đẹp ở núi rừng Điềm Mặc, Bác đã viết những câu thơ:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

Ngày 6 tháng Mười, theo chương trình đã định, tôi tranh thủ đi Tuyên Quang và Chiêm Hóa….”

Như vậy, về mặt tư liệu lịch sử thì rõ ràng những ghi chép của chính Đại tướng tại Cuốn sách “Chiến đấu trong vòng vây” đã giải đáp được một cách rõ ràng về hoàn cảnh ra đời và địa danh nơi ra đời bài thơ “Cảnh khuya”.

Hoàn cảnh ra đời: Trước khi Pháp tấn công lên Việt Bắc. Cho đến thời điểm ra đời bài thơ, quân Pháp chưa đặt chân lên vùng chiến khu Việt Bắc. Thời gian cuối thu, có thể là cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10/1947.

Về địa danh: Tại xã Điềm Mặc. Vậy có thể ở nơi nào khác tại Điềm Mặc nếu không phải chính tại Phủ Chủ tịch đầu tiên của Bác ở Chiến Khu Việt Bắc, chính tại Lán Khau Tý, xã Điềm Mặc? Cũng tại Lán Khau Tý cũng đã chứng kiến sự ra đời của tác phẩm lý luận quan trọng của Bác là “Sửa đổi lối làm việc” với bút danh XYZ và cũng chính tại đây Bác đã viết thư gửi về ngày thương binh toàn quốc ngày 27/7/1947.

Từ các căn cứ lịch sử nêu trên, xin được bàn thêm về mặt phương pháp rằng: Khi bàn về một vấn đề lịch sử cần có tư liệu cụ thể, chắc chắn, tránh suy luận. Nếu suy luận từ nội dung câu thơ của bài thơ “Cảnh khuya” để xác định thời gian, hoàn cảnh và thậm chí cả địa danh nơi ra đời bài thơ có thể dẫn đến sự thiếu chính xác. Rõ ràng ta không thể suy luận rằng câu thơ “… Tiếng suối trong như tiếng hát xa…” là do Bác sáng tác khi ở gần suối Khuôn Tát có 9 tầng, có tiếng nước suối, rằng bài thơ “Cảnh khuya” được Bác sáng tác sau chiến thắng Việt Bắc ở Khuôn Tát, Phú Đình, Định Hóa.

Mặt khác, khi Bác Hồ sáng tác bài thơ Cảnh khuya, ta đã dự liệu địch sẽ tấn công trong mùa khô năm 1947 nhưng chưa biết chính xác thời điểm tấn công. Nếu như ngày 6/10/1947, Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuất phát từ Định Hóa đi Chiêm Hóa (Tuyên Quang) thì khi Đại tướng vừa tới Chiêm Hóa nhận được điện khẩn: Ngày 7/10 quân Pháp nhảy dù xuống thị xã Bắc Cạn. Vậy là từ thời điểm ấy, chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947 bắt đầu.

Vậy nên hiểu đầy đủ hoàn cảnh ra đời bài thơ “Cảnh khuya”, đó là thời điểm cuối mùa thu 1947, trước khi xảy ra chiến dịch Việt Bắc, khi ấy cuộc kháng chiến trường kỳ mới trong giai đoạn đầu, tình thế còn rất khó khăn. Trong nỗi niềm nghĩ suy ấy, những câu thơ của Bác không chỉ là sự sẻ chia việc nước với những người cộng sự của mình mà còn là những câu thơ kêu gọi sự nhất trí, đồng lòng, quyết tâm chung tay lo việc nước, một phong cách thi ca đặc trưng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Mặt khác, việc tác giả nêu Bác Hồ sáng tác bài thơ “Cảnh khuya” tại Khuôn Tát, Phú Đình, Định Hóa vào cuối tháng 12/1947 là thiếu cơ sở lịch sử. Bởi ta biết rằng, sau khi Pháp tấn công lên Việt Bắc, mở đầu bằng hành động nhảy dù xuống Bắc Cạn vào hồi 8h15 phút và 10h sáng ngày 7/10/1947 thì sau đó ít ngày Bác rời Khau Tý, Điềm Mặc, Định Hóa. Từ ngày 15/10 đến 17/11/1947 Bác Hồ ở tại Làng Vang, Liên Minh, Võ Nhai. Từ 18/11 - 28/11 Bác Hồ ở Thôn Khuôn Tát, Phú Đình, Định Hóa. Từ 29/11 - 3/12 Bác Hồ ở tại thôn Khuôn Đào, Trung Yên, Sơn Dương (Tuyên Quang). Từ 4/12 - 7/12 Bác Hồ ở tại thôn Khuổi Tấu, Hùng Lợi, huyện Yên Sơn (Tuyên Quang). Từ 8/12 đến cuối tháng 12/1947 Bác Hồ ở tại thôn Bản Ca, xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn. Từ ngày 01/1 - 7/3/1948 Bác Hồ về lại thôn Khuôn Tát, Phú Đình, Định Hóa. Từ 8/3 4/4 Bác Hồ về ở tại đồi Tỉn Keo, xóm Nà Lọm, xã Phú Đình, Định Hóa… Các mốc thời điểm và địa danh Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc nêu trên căn cứ vào ghi chép của Nhà báo lão thành Hoàng Tùng theo lời kể của cán bộ lão thành Tạ Quang Chiến người chiến sỹ bảo vệ Bác Hồ đăng trong đặc san báo Nhân dân hàng tháng, số 44/12 / 2000.

Như vậy, việc tác giả nêu vấn đề Bác Hồ sáng tác bài thơ “Cảnh khuya” trong một đêm trăng cuối tháng 12/1947 tại Khuôn Tát, Phú Đình, Định Hóa sau chiến thắng Việt Bắc là không có cơ sở lịch sử, bởi cuối tháng 12/1947 Bác Hồ ở tại Bản Ca, xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn chứ khi ấy Bác không ở Khuôn Tát, Phú Đình, Định Hóa.

Tóm lại: Khi viết bài thơ “Cảnh khuya” không phải Bác “ung dung tự tại, trong một đêm trăng sáng …” để viết thơ như tác giả Lê Nhâm đã viết, hoặc giả sẽ đúng là phân tích như vậy nếu chỉ đọc và hiểu bài thơ “Cảnh khuya” theo cách hiểu từ trước đến nay chỉ với 4 câu thơ như ta đã biết. Bài thơ “Cảnh khuya” không chỉ đơn thuần là tức cảnh sinh tình như những tao nhân mặc khách xưa, thơ của Bác là thơ kêu gọi thi đua ái quốc, là lời nhắn nhủ, hiệu triệu đoàn kết vì vận mệnh dân tộc lúc bấy giờ. Mặt khác, cũng không phải Bác viết bài thơ “Cảnh khuya” trong một đêm di chuyển từ ATK Định Hóa ra khỏi vòng vây quân thù đang siết chặt trong chiến dịch Việt Bắc Thu Đông năm 1947 như PGS, TS Nguyễn Huy Quát đã nêu. Hoàn cảnh ra đời của bài thơ “Cảnh khuya” của Bác cũng không phải trong một đêm trăng cuối tháng 12/1947 tại Khuôn Tát, Phú Đình, Định Hóa sau chiến thắng Việt Bắc như tác giả Văn Giang đã nêu. Mà chính xác thì bài thơ “Cảnh khuya” được Bác viết vào cuối Thu năm 1947 tại Khau Tý, Điềm Mặc, Định Hóa trước khi xảy ra chiến dịch Việt Bắc.

Thiết nghĩ những kiến giải về hoàn cảnh ra đời, địa danh ra đời bài thơ Cảnh khuya của Bác Hồ từ góc nhìn lịch sử với những cứ liệu lịch sử cụ thể sẽ góp phần làm sáng rõ hơn hoàn cảnh ra đời và thời điểm ra đời bài thơ “Cảnh khuya” một bài thơ đặc sắc được Bác Hồ viết chính tại mảnh đất Thái Nguyên 66 năm về trước. Và vì có các căn cứ lịch sử như vậy, cho nên, đối với hoàn cảnh ra đời, thời gian ra đời bài thơ “Cảnh khuya”, không thể và không nên suy luận, thay vào đó nên nghiên cứu lịch sử hay văn học xét từ phương diện lịch sử là hoàn cảnh, thời điểm ra đời bài thơ của Bác Hồ theo phương pháp khoa học, tránh sự suy luận chủ quan có thể dẫn đến hiểu sai về lịch sử

 

Văn Đồng


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: