“Nàng công chúa” vừa tỉnh giấc

69

Ký. Minh Hằng

VNTN – Gần 1 giờ chiều, bụng tôi đói meo, nhưng Phó Chủ tịch UBND kiêm Giám đốc Trung tâm Học tập cộng đồng Thị trấn Sông Cầu (Đồng Hỷ) Vũ Thị Thương Huyền vẫn xăm xăm dẫn chúng tôi lên vị trí cao nhất vùng để “khoe” quê cô. Quả thật, đứng ở chỗ này, như người đẹp được phô diễn toàn bộ dung nhan, khung cảnh “nửa đồng nửa núi” hiện ra mê hồn. Không mênh mông như chè Bảo Lộc (Lâm Đồng), không tầng lớp cổ kính núi đá tai mèo sắc nhọn như vùng chè Mường Do (Sơn La), vùng chè Sông Cầu bình dị đồi bát úp tròn xoe, kề nối như những cặp má căng đầy, mơn mởn sắc xanh yên bình.

Vùng chè Sông Cầu, Đồng Hỷ


Quê hương huyền tích

Tôi trở lại Thị trấn Sông Cầu hơi muộn, tận khi nghe tin ở đây mở lớp học về Văn hóa Trà và mời hẳn một người rất danh tiếng về trà của Việt Nam đến truyền giảng. Cái sự “chịu chơi” này không phải nơi nào cũng làm được. Nhưng có tham dự lớp học, tôi thấy hóa ra đầu tư ấy lại thành quá rẻ. Bởi gần 50 con người có mặt hôm đó đã được chỉ dẫn để nắm bắt được hồn cốt của cánh trà. Họ sẽ là những hạt nhân làm nên điều cốt lõi nhất của một vùng đất, một sản phẩm, đó là Văn hóa. Rồi đây, ấm trà Sông Cầu sẽ khác, người làm chè Sông Cầu sẽ khác. Sản phẩm trà không chỉ tính bằng số lượng mà còn hàm chứa tinh túy không gì đo đếm được.
Ngược thời gian trở về 60 năm trước, khi ấy nơi này là Nông trường Chè Sông Cầu. Công nhân nông trường lĩnh lương để chăm sóc, sản xuất chè theo kế hoạch đã ký kết với Nhà nước, họ không bận tâm lo nghĩ đầu ra, đầu vào. Cây chè đang kỳ sung sức cứ thế trổ búp dâng người. Nhưng rồi thời thế đổi thay, đơn hàng ngày càng ít dần. Nông trường Chè (sau này là Công ty Chè Sông Cầu) mất dần vị thế. 10 năm gần đây, Công ty Chè ngừng hoạt động. Công nhân nông trường trở thành nông dân, tự mình xoay xỏa trồng hái, tiêu thụ sản phẩm trên đồi chè được giao. Vùng chè Sông Cầu nổi danh ngày nào mơn mởn thanh xuân, chính thức bước vào “tuổi già” thất thế trước các giống chè cành thời thượng. Chè làm ra bán đổ bán tháo. Chè ngon bị chè dở lấn át. Người Sông Cầu sạm suội vì chè nhưng không được quyết định giá bán. Những “ông bà” chè 50 – 60 tuổi gốc rễ mốc mác tua tủa, kiên trung bám đất hút chất nuôi người một thời, bị bứng mang đi, nhường chỗ cho chè lai “thời thượng”, như những già làng buộc phải ly hương khi vẫn còn yêu lắm nơi mình sinh ra.
Nhìn cảnh ấy, người vùng chè buồn vô cùng. Uống nước chè từ trong bụng mẹ, vịn gốc chè tập đứng, níu cây chè tập đi, chị Vũ Thị Thanh Hảo, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã chè Thịnh An từng được bố chỉ cho xem hố bom sâu hoẳm ở đồi chè cạnh nhà, nghe mẹ kể những ngày giặc Mỹ đánh phá (1972), công nhân nông trường cũng là những dân quân bảo vệ nhà máy, họ đào hầm dưới gốc chè, vừa sản xuất vừa chiến đấu. Có nữ công nhân sắp đến ngày sinh đi hái chè bị bom giết cả hai mẹ con. Có chàng trai mồ côi xung phong đi bộ đội với lời nhắn nhủ: “Nếu tôi chết xin báo tin về Nông trường chè Sông Cầu”. Với Hảo, mỗi gốc chè là chứng tích một thời đáng nhớ. “Nhìn những cây chè trung du bị đánh gốc chở đi, những thân chè bị đốn chặt phơi khô làm củi, em muốn khóc chị ạ, những “bác” chè ấy còn rất nhiều lợi ích và chứa biết bao kỷ niệm. Giá như Sông Cầu có một vùng bảo tồn cây chè trung du thì hay biết mấy?” – Hảo nghẹn lời tâm sự.
Trước bài toán “Tồn tại hay không tồn tại?”, người làm chè Sông Cầu loay hoay tìm lối thoát. Rõ là vùng đất huyền tích, có núi có sông, phong cảnh hữu tình; rõ là chất đất chất cây làm ra búp chè nức tiếng ngọt hậu dư hương… Vậy mà, nói đến chè Sông Cầu nhiều người trong tỉnh còn không biết, mong gì đến “mang chuông đi đấm xứ người?”.
Rồi một thời điểm rất quan trọng đến với nơi này, đó là Liên hoan Trà Quốc tế Thái Nguyên lần thứ Nhất (2011). Chè Sông Cầu lần đầu xuất hiện tại Liên hoan dưới danh nghĩa sản phẩm của Làng nghề và đoạt giải Búp chè Vàng. Đây là dấu mốc khó quên trong hành trình người làm chè tự quẫy đạp để “chui” khỏi cái “kén” bao cấp bấy nay. Có ra ngoài mới thấy, làm chè nay đã khác trước nhiều, không thể “đóng cửa” trong nhà làm theo lề thói cũ. Trung tâm Học tập cộng đồng Thị trấn đã tổ chức nhiều chuyến xe chở những người ham học hỏi vào xã Tân Cương (TP. Thái Nguyên) học làm chè chất lượng cao. Điều họ hiểu ra đầu tiên là: phải “khó tính”với chính mình thì sản phẩm mới hòng chinh phục được thị trường khó tính. Người Sông Cầu bắt đầu trang bị hệ thống máy móc, thiết kế bao bì, quảng bá sản phẩm, tìm thị trường. Họ trở thành những nông dân kiêm doanh nhân kiểu mới.
Những cái tên như Đức Trọng, Tuấn Thoa, Tân Tiến, Hải Huyền, Thiệp Quỳnh (xóm 9), Thúy Bẩy (xóm 5)… nổi lên như những nhân tố mới của vùng chè.
Sự chuyển mình mang tính “đột phá” nữa là từ khi 150 hộ dân ở đây được tham gia Dự án “Mô hình sản xuất chè an toàn nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” của tỉnh. Mục tiêu của Dự án là trong 3 năm triển khai (2017 – 2019) sẽ xây dựng được mô hình liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ chè an toàn trên 50ha chè của Thị trấn Sông Cầu.
Hóa ra cây chè bấy nay bị “đói ăn” chị ạ – Vũ Thị Thương Huyền ngậm ngùi – Khi Dự án vào, chè được “ăn no, đủ chất” búp trổ tua tủa, năng suất tăng thêm 30%, giá trị sản lượng đạt 250 triệu đồng/ha (trước chỉ có 106 triệu đồng).
Lên thăm đồi chè xóm 9, tôi hiểu Dự án dù đã kết thúc, nhưng sự thay đổi đã “ngấm” vào người lao động. Đang thời kỳ ngủ đông nhưng vùng chè vẫn rất xinh đẹp bởi vạt hoa đào trồng xen bắt đầu nở và những rạch hoa mẫu đơn đỏ tươi trong gió bấc.
– Mẫu đơn sẽ trổ nhiều hoa nếu được tỉa cắt thường xuyên. Thế nên ngày rằm, mùng một các nhà quanh đây thắp hương bằng hoa mẫu đơn. Nhiều nhà mỗi tháng thêm vài trăm nghìn tiền bán hoa tươi. Đây được gọi là hiệu quả kép, bởi vùng chè sẽ thu hút khách du lịch và cây đào, cây mẫu đơn cũng cho thu nhập thường xuyên chị ạ – Huyền phấn khởi cho biết như vậy.

Những bông hoa chè tươi rói

Lên vùng chè, tôi ngây ngất ngắm hoa chè. Nấp trong lá thẹn thùng hay dịu dàng tung cánh trắng, hoa chè gợi tôi nhớ những câu thơ này của nhà thơ Ma Trường Nguyên:
Có loài hoa trắng trong/Nhụy vàng thơm từ tốn/Tự nở giữa mùa đông/Không chờ xuân đến đón (*).
Như vô vàn bông hoa khuất lấp trong tán chè sum suê, mỗi người tôi gặp nơi đây là một “bông hoa chè” bình dị mà làm nên xuân sắc cho vùng đất này.
Như Lại Ngọc Hà (sinh 1987), cư dân xóm Tân Tiến dù chục năm qua đã lập nghiệp ở Hà Nội nhưng trái tim vẫn “đặt” ở Sông Cầu. Em tâm sự: “Mảnh đất này đã cưu mang và giúp em trưởng thành, đây thực sự là quê hương thứ hai đầy ân nghĩa”. Vì thế mà nghe tin Thị trấn mở lớp học về văn hóa trà và nghệ thuật pha trà, Hà mặc áo dài rất trang trọng đến lớp nghe giảng như một học sinh ngoan. “Em háo hức đón chờ buổi học này. Em nghĩ rằng không chỉ em đâu mà mỗi người dân Sông Cầu sẽ hiểu về trà và có ứng xử khác đi sau lớp học này”. Về Hà Nội, Hà triển khai mở đại lý bán trà Sông Cầu. Cô cũng là người hỗ trợ kiến thức bán hàng và quảng bá hình ảnh trà Việt.
Tôi còn gặp những “bông hoa chè” thơm ngát khác như Nguyễn Thị Hồng Hạnh (sinh năm 1988) nung nấu ý tưởng xây dựng khu bảo tồn, trải nghiệm du lịch trên nương chè của gia đình. “Em sẽ dựng lên một căn nhà gỗ, trồng hoa leo hai bên cổng, sẽ đặt chum vại đồ xưa, chỗ bếp lò, chỗ chảo gang… để đón khách tham quan và giới thiệu cho họ biết về cuộc sống của người làm chè”. Như là Hoàng Vinh, mua gần 200 cây hoa mẫu đơn Mỹ về trồng quanh nương chè cho đẹp, rồi từ đó nhân giống giâm cành cho vùng mẫu đơn khoe sắc. Như là Vũ Thị Thanh Hảo, người được tỉnh cử đi quảng bá sản phẩm trà hầu hết các chương trình xúc tiến thương mại trong và ngoài nước. “Mỗi chuyến đi có thêm bạn hàng, thêm người biết đến trà Thái Nguyên, em thấy hạnh phúc chị ạ”. Như anh Nguyễn Hữu Huynh luôn tự tay hái chè vì không muốn người khác “vặt” búp, làm “đau” chè của mình. Như bà Nguyễn Thanh Xuân, 76 tuổi vẫn say sưa học pha trà, mời trà. Như Đức Trọng luôn lan tỏa tình yêu quê đến mọi người bằng những video clip phát trên yotube. Và còn rất nhiều “bông hoa chè” khác đang lặng lẽ tỏa hương, làm nên nét duyên riêng cho vùng chè Sông Cầu.

Chị Vũ Thị Thương Huyền (bên trái) cùng tác giả

Nghĩ lớn cho tương lai lớn

Ngồi với nhau bên chén trà ngọt hậu, dịu hương, Huyền thủ thỉ kể cho tôi nghe những đổi thay ở mỗi con người nơi này:
-Họ đã không còn làm cho xong việc. Chị tính xem, trước, mỗi nhà có vài nghìn mét vuông chè, phải hái nhanh không chè ban, phải sao nhanh không chè ải. Nhà nào cặm cụi làm của nhà ấy. Chè tươi chỉ bán được 10 – 12.000đ/kg, chè thành phẩm cũng nháo nhào mang chợ. Nay thì khác, nhìn nương chè, búp chè, người ta biết chỗ này sẽ bán được bao nhiêu tiền. Trong vùng chè không ai sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ. Môi trường lành, sạch, lên đồi chè thoải mái hít thở, đến con gà bới cỏ kiếm ăn cũng không bị khô chân. Người trong vùng đã hình thành ý thức bảo vệ môi trường sống của mình. Ai vi phạm sẽ bị tẩy chay, bị tách khỏi cộng đồng nếu không điều chỉnh hành vi kịp thời.
Hơn nữa, người nông dân đã bắt đầu dám đầu tư, vì họ hiểu giá trị của đầu tư. Chè nguyên liệu ngon được các cơ sở sản xuất bao tiêu, ổn định giá gần 30.000đ/kg đầu vụ cũng như cuối vụ. Các bao chè thành phẩm được thu mua cũng ghi tên từng nhà, sau 5-7 ngày giở ra kiểm định lại. Chè của ai làm ẩu, có mùi “lạ” là bị trả ngay; chè của ai cánh đẹp, chất ngon được mua giá cao hơn. Người vùng chè còn nghĩ đến giá trị kép. Đó là vùng sinh thái an toàn, là du lịch trải nghiệm, là nghỉ dưỡng homestay. Dòng suối mơ mộng bao quanh, ngôi nhà hoa leo nổi bật giữa nền chè xanh, triền đồi thoai thoải điểm xuyết hoa đào, hoa mẫu đơn đỏ rực… sẽ là “phim trường” khổng lồ cho các cuộc dã ngoại, chụp ảnh cưới. Và hơn nhất, người nông dân Sông Cầu đã nghĩ đến giá trị cốt lõi, tinh túy, đưa cánh trà lên đỉnh cao, đó là Văn hóa Trà.
Một trong những người yêu quê say đắm và nghĩ lớn cho vùng chè chính là Phó Chủ tịch UBND Thị trấn Vũ Thị Thương Huyền. Dẫn tôi vào thăm khu nhà cũ hơn 1ha của gia đình, Huyền say sưa bộc bạch ý tưởng biến nơi đây thành khu Bảo tàng Chè. Hai bên đường vào là hàng nhãn, bưởi, quất hồng bì, xoài… 30 đến 50 tuổi. Trong vườn có cây mít gốc 3 người ôm, các cây cổ thụ thân cành xúm xít dây leo. Gia đình chuyển ra mặt đường ở 30 năm rồi, nhà vườn bỏ không, Huyền đã có tính toán riêng:
– Con đường này em định lát gạch mui rùa Bát Tràng. Căn nhà này làm nơi trưng bày hiện vật, chỗ kia em đặt chảo sao chè, ngoài vườn sẽ dựng nhà bát giác tiếp khách.
Ngắm khu vườn hoang sơ, tôi thấy ý tưởng của Huyền thật táo bạo. Đâu chỉ dựng lên là có khách ổn định, phát triển bền vững, mà còn kết nối tour, tuyến, đặt tên mình trong bản đồ du lịch… Dường như tất cả những điều đó được Huyền nghĩ đến.
– Em đang đề nghị huyện cho giữ lại cái hang đá vôi phía trước mặt chị em mình kia. Hang ấy là di tích lịch sử, là nơi che chắn cho hàng nghìn người Đồng Hỷ tránh bom đạn Mỹ. Cái hang đó sẽ là một điểm du lịch trong tour du lịch vùng chè Sông Cầu. Em cũng đang kêu gọi mọi người đặt tên cho những đồi chè. Hiện nay chúng em vẫn gọi nôm na theo tên xóm, nhưng khi làm du lịch sẽ phải nghĩ đến câu chuyện cho từng đồi chè, từng điểm du lịch, từng sản phẩm. Vùng đất Sông Cầu này không thiếu chuyện hay để kể. Chỉ có điều chúng ta chưa lắng sâu để nghe và hiểu nó mà thôi.

Những thành quả của HTX chè Thịnh An

Giờ thì tôi thành ra mê vùng đất này rồi. Yêu “nàng công chúa” đẹp tinh khôi không còn ngủ vùi trong rừng vắng. Yêu những con người Sông Cầu như nụ hoa chè khiêm nhường mà cứng cỏi:
Biết nở trước bạn bè/Nhận về mình giá buốt/Bông hoa chè tinh khiết/Mở cửa mùa hoa thơm (*).

………………………………………………..
(*) Bài Hoa sớm của nhà thơ Ma Trường Nguyên.