Từ giải Nobel Văn học 2020, nghĩ về thơ Việt Nam đương đại

37

VNTN – Giải Nobel Văn học năm 2020 được trao cho nữ thi sĩ Louise Gluck dường như thắp dậy niềm tin cũng như sự hào hứng cho các nhà thơ không chỉ ở Việt Nam. Đó là tín hiệu đáng mừng khi thơ ca vẫn được ghi nhận một cách trang trọng. Trong đánh giá của Viện Hàn lâm Thụy Điển, Louise Gluck là “một phong cách thi ca đặc biệt, với vẻ đẹp khiêm nhường, đã làm cho sự tồn tại của mỗi cá nhân mang một giá trị phổ quát”. Dĩ nhiên, để vượt qua rất nhiều ứng cử viên nặng ký khác, nữ thi sĩ người Mỹ hẳn còn có những đóng góp quan trọng khác về thi ca. Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh đến một yếu tố, mà từ nhận định của Hội đồng trao giải Nobel, chúng ta thấy dường như lại đang thiếu vắng trong nền thi ca Việt Nam. Đó là “sự tồn tại của mỗi cá nhân mang một giá trị phổ quát”?

 

Nữ thi sĩ người Mỹ Louise Gluck. Ảnh: Achievement.org

Có hai vấn đề cần được làm rõ ở đây, đó là sự tồn tại cá nhân và giá trị phổ quát. Chúng ta biết rằng, nghệ thuật bao giờ cũng là sự thể hiện cá tính, tinh thần, tư tưởng, tri thức, văn hóa mang tính chủ quan, trong đó thơ là thể loại đậm đặc nhất. Chú ý vào tính cá nhân với phong cách đặc biệt, nghĩa là Hội đồng trao giải Nobel đã ý thức một cách rất cao về tính đặc thù của thi ca. Thơ vẫn được xem như là tiếng lòng, là điệu tâm hồn riêng tư và khác biệt của chủ thể. Thế nên, trong thời Thơ mới, khi cái tôi cá thể được phát hiện trở lại, nó tuyên xưng một cách ngạo nghễ: Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất (Xuân Diệu). Nếu không tự biến tâm hồn, nội giới của mình thành lò luyện, thi ca sẽ mất đi bản sắc của mình. Có nhiều người làm thơ về cùng một chủ đề, nhưng, nhịp điệu tâm hồn, cấu trúc thế giới tinh thần của mỗi thi sĩ không bao giờ giống nhau. Nó như một mã Gen, một thứ vân tay không trùng khít. Mọi sự đồng nhất đều chỉ là hình thức nối dài, làm dày thêm một yếu tố ban đầu mà thôi. Bởi thế, hướng vào sự tồn tại của mỗi cá nhân là hướng đến bản sắc chủ thể không trộn lẫn, làm cho hiện tượng trở thành cái có nghĩa khác biệt, mang giá trị. Ta hiểu được, vì sao mỗi nhà Thơ mới là một cá tính, và nhìn trong lịch sử mĩ học thi ca, nó phản ứng với truyền thống mĩ học đồng nhất thời Trung đại. Cái tôi cá nhân thời Thơ mới thấy mình là một giá trị, một “Vũ trụ chứa đầy bí mật”, không thể, không mong cầu được chia sẻ, cảm thông hay thấu hiểu. Bởi vậy, đứng trước hệ mĩ học Trung đại hướng đến các giá trị ước lệ, các khuôn mẫu quy chuẩn, xóa bỏ con người cá nhân, Thơ mới đã như một bước ngoặt, một cuộc cách mạng. Vì thế nên Thơ mới xác lập một thời đại khác, một hệ giá trị khác, không phải là sự nối dài của văn chương nghệ thuật Trung đại. Đến thơ ca cách mạng, Hồ Chí Minh bổ sung “chất thép” vào thế giới của thi nhân bên cạnh “Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”, cũng đồng nghĩa với việc đòi hỏi một cái khác cần hiện diện trong thơ. Trong tâm lý thông thường, người ta cần cái khác, không cần cái giống như cũ. Đó là lý do của mọi sự tồn tại.
Tuy nhiên, mọi tồn tại không phải là siêu hình, đơn nhất, độc lập tuyệt đối, không có bất kỳ sự tương giao nào với thế giới xung quanh. Bởi thế, điều quan trọng hơn chính là sự tồn tại của mỗi cá nhân mang giá trị phổ quát. Cái phổ quát ở đây là gì? Đó chính là sự phổ quát của tồn tại người, của thế giới, của cộng đồng, tồn tại như một dạng hằng số trong bản thân mỗi con người. Tính người, những câu chuyện muôn đời của người, những vui, buồn, sướng, khổ, hi vọng và thất vọng, những khắc khoải thời gian… gắn với con người trên khắp thế giới, không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo, văn hóa, thể chế, lãnh thổ… có thể xem là phổ quát. Chợt nhớ, năm 2018, tập thơ Những kỷ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung được Viện Balassi thuộc Hungary và Nhà xuất bản châu Âu dịch, giới thiệu trong liên hoan sách quốc tế Budapest với lời nhận định: “Do đâu mà những bài thơ-thời-gian này, cơn ác mộng hiện đại thể hiện qua bản dịch của Háy János, lại quen thuộc với chúng ta đến thế? Giữa các câu thơ là sự vận hành của thời gian, là nỗi vô vọng khôn nguôi của sự sa đọa, sự bất an và tha hóa các giá trị” (Bìa 1, phiên bản Európa, 2018). Sự quen thuộc đó chính là tính phổ quát mà mỗi cá nhân hay toàn nhân loại đều có thể nhận thấy trong tình thế hiện diện của mình.
Nhìn lại nền thi ca đương đại Việt Nam, chúng ta thấy sự thiếu vắng tính phổ quát ấy. Trương Đăng Dung có thể là một trường hợp hiếm hoi, cùng với đó là một vài gương mặt khác đáng hi vọng như Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều… Ở đây, bản thân họ khác nhau, nhưng thơ của họ ở góc này hay góc khác đã chạm đến những câu chuyện khá phổ biến của con người, không chỉ ở Việt Nam. Đó là nỗi khắc khoải thời gian, phận người, nỗi cô đơn bản thể, ám ảnh cái chết và sự bất an, bất lực của con người trong thơ Trương Đăng Dung. Đó là những hành trình của con người xuyên qua tồn tại, từ âu lo, hoài nghi đến lựa chọn một thái độ sống tĩnh lặng, tuân theo dịch chuyển của tự nhiên trong thơ Mai Văn Phấn. Đó là những tâm sự thống thiết về kiếp sống của con người trong thơ Nguyễn Quang Thiều… Với những gì chúng ta đọc được, thấp thoáng trong thơ họ là số phận con người, là hiện thực mang tính nhân loại. Chẳng hạn, với tập thơ mới nhất của Trương Đăng Dung (Em là nơi anh tị nạn), có thể nhận ra tinh thần phản tư mạnh mẽ khi ông đặt thần học vào tình thế bị hoài nghi, chất vấn vì chính những thực tại hoàn toàn thiếu vắng đức tin hay sự cứu rỗi. Quyết liệt hơn, quyền lực bị kết án bởi sự toan tính, sắp đặt tráo trở của nó. Gio-na, Gióp và cả Kurdy (dù Kurdy là một tình thế khác của hiện hữu: hình ảnh cậu bé Kurdy nằm úp mặt trên bờ biển trong làn sóng di dân cũng cho thấy bi kịch của con người trên hành trình kiếm tìm một nơi tị nạn) đều là những biểu tượng về thảm cảnh của con người. Bởi thế, tư tưởng của Trương Đăng Dung trong quá trình trưng dụng phản ánh tôn giáo là hướng đến tính phổ quát – một phẩm tính đang thiếu khuyết trong đời sống văn chương Việt Nam. Nhìn trên bình diện toàn tập thơ, chúng ta sẽ liên tiếp va đập vào các tình huống hay hiện tượng có tính phổ quát như thế. Là con tàu không sân ga tượng trưng cho sự cô độc, lãng quên hay ngôi nhà dưới đáy sông thăm thẳm một nỗi buồn không lối thoát; là quán cà phê Piano biểu tượng về sự ra đi, vắng bóng của nghệ thuật; là Kafka biểu tượng của tinh thần bi quan định mệnh; là Kazantzakis với tự do vô hình; là Dostoievski bên bờ thiện ác – giữa vực sâu và lửa; là ngôn ngữ trong một trò chơi đầy bất trắc – phản bội,… Phẩm tính khái quát này được xây cất trên nền tảng của sự đan bện triết học và thần học. Trương Đăng Dung đã nhận ra điểm chung của siêu hình học với thi ca bởi chính khả năng của nó khi tác động đến tinh thần, tư tưởng nhân loại. Triết học và thần học cộng với kinh nghiệm sống đời của chủ thể là ba tụ điểm hình thành một thứ ánh sáng khác như Pierre De Chardin đã nói (Hiện tượng con người), phản tư hoặc chất vấn lại thứ ánh sáng duy lí đã mệt mỏi và bất lực. Thế giới không còn bình yên, mọi thứ đang tha hóa và bị cuốn về phía địa ngục. Trong tình thế chung bi đát, thơ Trương Đăng Dung là một lời đề xuất, hãy bước vào thế giới ấy như hành động tuẫn nạn, bởi bóng đêm, cơn ác mộng và trập trùng những lo âu. Kẻ lưu đày có thể đến được với bình minh, ánh sáng hay không, chưa biết, nhưng từ trong đầm lầy tăm tối, hi vọng mỗi người có thể nhận ra, gìn giữ hoặc đánh thức ngọn lửa rực cháy trong tim mình.
Một vấn đề rất quan trọng, thiết nghĩ nên được nói đến ở đây đó là: Làm sao để những tồn tại cá nhân có thể chạm đến tầm mức của sự phổ quát? Không ai có thể làm thay nhà thơ điều này, nhưng có lẽ, trong tư cách một người đọc, chúng ta cũng có thể hình dung được. Thi sĩ cần phải vượt lên trên những xúc cảm riêng tư vụn vặt, lan man, ngâm vịnh, thù tạc thường ngày, nhìn – chiếm lĩnh sự sống ở chiều kích triết học (hay như nhà phê bình Chu Văn Sơn từng nói, đó là thi sĩ cần phải có “Cảm niệm triết học về thực tại”). Cảm niệm triết học về thực tại chính là tầm vóc của sự phổ quát. Nhưng, làm sao để có cảm niệm triết học về thực tại? Câu hỏi ấy chất vấn lại nền tảng tri thức, tầm vóc tư tưởng cùng những mối bận tâm trọng đại của các thi sĩ. Anh không thể có được cảm niệm triết học về thực tại nếu chỉ sống quẩn quanh với những bận tâm thường nhật. Dĩ nhiên, không ai, kể cả Louise Gluck thoát khỏi cái thường nhật, nhưng hãy xem đó là chất liệu, là nguồn dẫn khởi cho những khắc khoải, suy tư triền miên, sâu sắc, kiệt cùng hơn về tình thế hiện tại: Thế gian đang ngập tràn nước mắt. Xin cho tôi sức mạnh để có thể nuôi dưỡng đốm lửa cuối ngày trong trái tim này như một niềm tin (Độc thoại – Trương Đăng Dung).
Louise Gluck là một giáo sư văn chương. Thực tế, điều này không phải là yếu tố quyết định đến việc bà được trao giải Nobel. Tuy nhiên, nếu đặt trong bối cảnh văn học thế giới và Việt Nam, chúng ta khó lòng có thể phủ nhận rằng, những tác giả lớn luôn là những trí thức tinh hoa, bậc cao của nhân loại. Họ sở hữu tri thức khổng lồ với quá trình học tập không ngừng nghỉ. Tri thức, trình độ nâng đỡ cảm xúc, đẩy suy tưởng đi xa hơn trên hành trình đến với giá trị phổ quát của con người. Một sự nghiệp văn chương mang tầm vóc nhân loại khó có thể là sản phẩm của cá nhân quẩn quanh với những ngâm vịnh, cảm nghĩ vụn vặt, những bận tâm tủn mủn cùng một trình độ học vấn nông cạn. Đứng từ góc độ triết học, cái riêng phong phú hơn cái chung. Đứng từ góc độ nghệ thuật, xã hội, cá tính là riêng, nhân loại tính là chung. Cá tính chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được đặt trong tương quan với cộng đồng, tha nhân (người khác). Sống đủ đầy trọn vẹn với cái riêng của bản thể là một đòi hỏi chính đáng. Tuy nhiên, “một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn” (Đời thừa – Nam Cao). Điều được viết trong tác phẩm của Nam Cao chẳng phải là ý nghĩ thực sự sâu sắc về tồn tại của mỗi cá nhân mang giá trị phổ quát đó sao?

Nguyễn Thanh Tâm