Người chiến sĩ – nghệ sĩ của hòa bình

92

VNTN – Kỷ niệm 75 năm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam cũng là dịp bà Nguyễn Thị Xuân Phượng kỷ niệm 75 năm tham gia hoạt động cách mạng của mình. Từ một tiểu thư Hoàng tộc, cô nữ sinh Đồng Khánh – Huế trở thành một chiến sĩ quân giới dũng cảm của Việt Minh, rồi là một y sĩ cao cấp, và thành một phóng viên chiến trường quả cảm, một đạo diễn phim tài liệu tài giỏi và sau cùng là một nhà sưu tập tổ chức các cuộc triển lãm tranh Việt ở nước ngoài như một cầu nối hòa bình hữu nghị.


Ở độ tuổi 92, bà vẫn như một tấm gương cho các thế hệ trẻ trong ngành Điện ảnh Việt Nam, ngành Truyền hình Việt Nam, trong giới nghệ sĩ mỹ thuật Việt Nam và cả những nhà làm văn hóa Việt học hỏi tinh thần luôn hướng tới những vẻ đẹp Việt Nam không chỉ để giới thiệu với bè bạn năm châu mà còn là cầu nối hòa hợp yêu thương giữa những người Việt Nam ở khắp bốn phương.
Trong nhiều sự kiện văn hóa của Điện ảnh, Truyền hình hay Mỹ thuật Việt Nam gần đây, thường xuất hiện hình ảnh một “lão bà” gương mặt đẹp phúc hậu, phong thái ung dung, dịu dàng, phảng phất nét quý phái của thiếu nữ Huế xưa, đầy nhiệt tâm, giọng nói ấm, rõ ràng, mạch lạc, nụ cười thật tươi luôn làm sáng gương mặt. Bà là Nguyễn Thị Xuân Phượng.

Phim của bà Phượng:
“Việt Nam và chiếc xe đạp” (1974); “Tôi viết bài ca hồi sinh” (1979) – hai phim đạt giải Bồ Câu Bạc tại LHP quốc tế Leipzig;
“Khi tiếng súng vừa tắt” (1975); “Khi những nụ cười trở lại” (1976); “Hai tiếng quê hương” (1978) – ba phim được Bằng khen tại LHP quốc tế Leipzig.
– Và các giải thưởng trong nước:
“Trên một đoạn đường Trường Sơn” – giải Cành Mai Bạc, kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam;
“Giọt nước cao nguyên” – giải thưởng đặc biệt của UNICEF Việt Nam;
“Ông Năm Yersin” – giải Bồ Câu Bạc tại LHP Việt Nam tại Đà Lạt.
– Bà còn tham gia nhiều tác phẩm với các đoàn làm phim nước ngoài:
“Cuộc chiến tranh ở rừng Lào” (với Joris Ivens, Marceline Loridans) – 1968;
“Chân dung một lãnh tụ chính trị: Hồ Chí Minh”, “Jane Fonda tại Việt Nam”;
“Làng Đông Phong – Thái Bình”; “Thế giới của bé Khoa” – 1972 (với đạo diễn Pháp Gérard Guillaume);
Hợp tác với với nhiếp ảnh gia Pháp Marc Riboud, nhà làm phim Roger Pic, nhà văn Pháp Madeleine Riffaud, nhà báo Ba Lan Monika Warnenska, nhà thơ Blaga Dimitrova,… trong những năm kháng chiến chống Mỹ.

Từ một thiếu nữ Hoàng tộc Huế đến chiến sĩ Việt Minh
Bà Xuân Phượng sinh năm 1929, trong một gia đình hoàng tộc ở Huế, có cha là Đốc học ở Đà Lạt, gần 10 năm học ở trường Couvent des Oiseaux (Bồ câu trắng) do Nam Phương Hoàng Hậu xây dựng. Sau ngày Độc lập 2/9/1945, bà trở về Huế học trường Khải Định (Quốc học bây giờ) và được giác ngộ cách mạng từ những người Cộng sản trong tổ chức Việt Minh như ông Phan Tử Quang, Phan Diếp… Bà gia nhập Hội Học sinh cứu quốc, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” tháng 12/1946; theo thoát ly gia đình, đi kháng chiến, ra chiến khu Việt Bắc.
Vào Việt Minh, rồi được tổ chức phân công làm việc ở Quân giới Liên khu IV, ra chiến khu Việt Bắc, được phân công về Nha Nghiên cứu Kỹ thuật (NCKT), Cục Quân giới, đóng quân ở Phia Khao, Chợ Đồn, Bắc Kạn. Cuối năm 1948, cơ quan chuyển về đóng ở Đĩa, Đồng Chiêm, Sơn Dương, bên tả ngạn sông Lô. Cấp trên ra nhiệm vụ: Cách mạng đang thiếu vũ khí, cần phải chế tạo chất nổ, thế là theo cuốn sách dạy chế tạo thuốc nổ ở Pháp, cứ theo công thức mà làm. Riêng bà phụ trách tổ Pulmynate (thuốc làm kíp nổ), mà theo bà kể vui “cứ 2 gam = 1 mạng người”, mà bà chế ra cả ký lô.
Đến năm 1952, bà chuyển công tác về Bộ Tài chính ở An toàn khu, phụ trách tờ báo “Công tác thóc gạo”. Và sang tới năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, lại được cử đi học Y sĩ cao cấp, chuyển về làm việc tại Ủy ban Liên lạc Văn hóa với nước ngoài, sau đó lại chuyển về làm việc ở Nhà xuất bản Ngoại văn với “sếp” là nhà văn hóa, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện.

Cơ duyên thành phóng viên chiến trường và đạo diễn phim tài liệu
Do tiếng Pháp thông thạo, năm 1967, bà cùng với một số lãnh đạo xưởng phim Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời lên giúp “Những chiến sĩ điện ảnh cách mạng” – (chữ dùng của Người lúc đó), là ông Joris Ivens và bà Marceline Loridan tình nguyện đến chiến trường ác liệt nhất làm phim về Việt Nam. Ông Joris Ivens (người Hà Lan) nổi tiếng về làm phim cách mạng, phim của ông có một giá trị uy tín đặc biệt với quốc tế. Bà Marceline Loridan (người Do Thái gốc Ba Lan), là một nhân chứng sống thoát chết từ lò thiêu xác Auswitchz của phát xít Đức. Một đoàn làm phim dã chiến được tổ chức cấp tốc, đưa vào Vĩnh Linh – Vĩ tuyến 17 (gồm bà vừa là bác sĩ – kiêm phiên dịch và hướng dẫn cùng 7 nhà quay phim), phim đó làm xong có tên “Vĩ tuyến 17 – Cuộc chiến tranh nhân dân”.
Cũng năm 1967, bà lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi đến giao nhiệm vụ phiên dịch cho ông Gérald Guillaume, đạo diễn người Pháp sang Việt Nam làm bộ phim tài liệu “Hồ Chí Minh – chân dung một lãnh tụ”. Có lẽ đi theo làm phiên dịch cho một số đạo diễn quốc tế nổi tiếng, học hỏi được chuyện “bếp núc” của công việc làm phim, nên trong bà đã có sự lựa chọn nghề.
Năm 1968, bà chuyển về bộ phận Truyền hình Việt Nam (được thành lập trước khi Đài truyền hình Việt Nam chính thức hoạt động). Bà là một trong 7 người đầu tiên tham gia thành lập tổ chức Đài truyền hình Việt Nam. Cũng từ đây bà được cử đi B (chiến trường miền Nam), bà là nữ phóng viên chiến trường duy nhất của Việt Nam ở thể loại “hình ảnh” cho đến lúc này.
Từ những chuyến đi làm phim chung với các ký giả Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Hà Lan… trong lúc chiến tranh ác liệt, nhưng bà giúp họ tìm đến một sự thật về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, để thông tin một cách chính xác điều gì đang xảy ra ở Việt Nam với sự có mặt của người Mỹ. Bao phen tưởng cùng chết chung vì bom, pháo Mỹ, hay nhiều lần dính pháo của quân đội Sài Gòn khi cùng các phóng viên nước ngoài ra vùng giới tuyến, nhưng với bà, vào lúc đó, theo bà nói: “Phóng viên chiến trường là những người yêu hòa bình nhất, thấy chiến tranh phi lý nhất”.
Bà xông xáo thực hiện hàng loạt các phim tài liệu mang tính thời sự, phản ánh những sự kiện chiến sự nóng bỏng tại chiến trường Campuchia, là một trong những phóng viên đầu tiên vào Dinh Độc lập theo trung đoàn xe tăng ngày 30/4/1975… Những bộ phim tài liệu của bà Xuân Phượng ngoài tính chính luận còn bộc lộ sự trăn trở của một người nghệ sĩ luôn đau cùng nỗi đau nhân vật và thể hiện thái độ trách nhiệm với mỗi số phận con người, sự kiện của thời cuộc và đất nước.

Một nghệ sĩ của hòa giải – hòa hợp – hòa bình hữu nghị
Cũng không hẳn bà đã “bỏ nghiệp” phóng viên chiến trường, sau 1975, bà vẫn còn làm phim về biên giới Tây Nam như một cái “kết” của nghiệp phóng viên chiến trường.
Nói về đam mê hội họa bà kể: Tôi viết báo, làm biên kịch, đạo diễn phim, viết sách cả tiếng Việt và tiếng Pháp…, mới nhất là dịch cuốn sách tiếng Pháp “Hai tháng trong lòng đất” của bà Merceline Loridan – người cộng sự, vợ đạo diễn Joris Ivens giúp Viện phim Việt Nam. Nhưng tranh – hội họa, là một đam mê, một sở thích của tôi, mà khi tôi về hưu thì nó như cơ hội để “lộ diện”.
Khi được hỏi, Vì sao bà có ý định mang tranh sang Pháp và các quốc gia khác? bà đã trả lời: Tôi có đi nghiên cứu thị trường tranh quốc tế, 2 năm ở Pháp, tôi thấy những người Pháp và các nước khác gặp đều tỏ ý thương Việt Nam khổ quá, bị chiến tranh hủy diệt, đói, nghèo… Nghe mãi tôi chán. Tôi nghĩ đất nước có lịch sử văn hóa đẹp thế sao họ không nói… Và tôi muốn giới thiệu nền văn hóa Việt Nam theo cách của mình. Tôi muốn qua tranh giới thiệu nền văn hóa đặc sắc của Việt Nam ra thế giới. Có lẽ, đây cũng là thông điệp ngắn nhất ra nước ngoài khi muốn khẳng định: Việt Nam không chỉ có chiến tranh, đói nghèo mà là một quốc gia có truyền thống văn hóa lâu đời, đặc sắc với những tác phẩm nghệ thuật không thua kém các quốc gia khác trên thế giới. Và tôi với tâm thế “tự ái quốc gia” đã mở phòng tranh với tiêu chí “chỉ lựa chọn những tác phẩm thể hiện đặc sắc nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam”. Năm 1991, Gallery Lotus ra đời với ý nghĩa tôn vinh vẻ đẹp thanh tao của văn hóa, nghệ thuật quê hương Việt Nam.
Nói về kỷ niệm triển lãm tranh ở Pháp nhớ nhất, bà xúc động: Đấy là lần đầu tiên, năm 1990, một triển lãm tranh Việt Nam ngay tại khuôn viên bảo tàng Louvre, nhỏ thôi, nhưng được chú ý. Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp tự hào, còn số tranh tôi mang qua bán hết. Từ triển lãm đó mà tôi đã có động lực để tiếp tục hành trình “tranh” của mình như hiện giờ.
Bà kể khi mang tranh Việt sang Pháp, bà không nghĩ mình đang là một nhà ngoại giao văn hóa. Ban đầu bà không nghĩ gì ngoài việc mang tranh ra ngoài là để kiếm sống. Nhưng khi tiếp xúc với giới làm nghệ thuật Pháp, thì bà lại nảy sinh ý nghĩ, tại sao không nhân cơ hội này, “tiếp sức” cho các tài năng trẻ hội họa Việt Nam có cơ may thăng tiến, phát triển? Tại sao không thể qua tranh để giới thiệu với bạn bè nước ngoài một Việt Nam khác ngoài Việt Nam – chiến tranh? Tại sao không thể dùng tranh như một cầu nối để tạo hòa khí, hòa giải và yêu thương giữa những người Việt khác biệt nhau suy nghĩ… Nhưng rồi bà đã làm đã làm được chút gì nho nhỏ. 2 cuộc triển lãm/ năm ở Pháp là thành công. Bà cũng đã “đỡ đầu” cho một số họa sĩ trẻ có tranh mang ra nước ngoài triển lãm, tạo cơ hội cho họ càng ngày càng phát triển.
Và bà kể thêm mấy câu chuyện vui. Trong một cuộc triển lãm tranh ở Pháp, một vị khách Việt, có lẽ là “đối phương” của thời chiến tranh trước 1975, ông ta đã gặp tôi và nói: “Trước đây tôi rất thù cộng sản, tôi không muốn kết giao với bất kỳ ai là cộng sản. Nhưng xem phòng tranh này, tôi đã suy nghĩ lại. Tôi nghĩ tôi có thể kết bạn với những người cộng sản. Những suy nghĩ trước của tôi là sai lầm”.
Năm 2009, khi tôi triển lãm ở Bỉ, có ông già Việt Nam tóc bạc ngày nào cũng xem tranh, không mua. Sau đó, ông già viết sổ cảm tưởng: “…Tôi đã không muốn trở lại mảnh đất mà tôi phải ra đi, cho đến hôm nay tôi nhìn những bức tranh, ảnh về bến nước, cây đa, bà già đan lát dưới gốc nhãn trưa hè, tự nhiên thấy tình yêu quê hương trở lại quá mãnh liệt. Tôi bỗng nhiên hết hận thù và tôi sẽ thu xếp để trở lại quê hương” rồi ký tên: “Người vừa tìm lại được quê hương”.
Năm 2011, triển lãm tại Đại nhạc viện Opera ở Venice (Italia), có người đàn ông tuổi trung niên, đội mũ rộng vành ngày nào cũng xem. Ba ngày xem không mua. Ngày thứ 4, ông ta gặp tôi và bảo: “Xin lỗi” – đó là một chữ Việt Nam, tôi nghĩ cả đêm để nói với bà. Tôi nhờ bà gửi lời xin lỗi nhân dân Việt Nam, cách đây mấy chục năm, tôi người Mexico gốc Italia là kỹ sư xây dựng kho Long Bình, sân bay Chu Lai, Buôn Ma Thuột… Khi làm, tôi hết sức công tâm làm phục vụ cho Mỹ, sau này nghe tin bom đạn từ đó gieo rắc không biết bao nhiêu nguy hiểm cho nhân dân Việt Nam. Tôi không ngờ bàn tay tôi vô tình nhúng máu và ân hận không biết nào nguôi. Và tôi bị bệnh trầm cảm, nhiều đêm. Nhưng lần này xem triển lãm tranh tôi thấy trút được gánh nặng trên vai, thể nào tôi cũng sang thăm Việt Nam…”.
Và thật vinh dự ngày 12/10/2011, truyền thông Pháp và các hãng truyền thông quốc tế cùng đưa tin về bà – người phụ nữ Việt Nam tên Nguyễn Thị Xuân Phượng, 82 tuổi, được Nhà nước Pháp trao tặng Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh vì tình hữu nghị và đoàn kết giữa các quốc gia dân tộc.
Chia sẻ về quan điểm của cuộc sống bà vui vẻ: Bằng này tuổi, tôi thấy không có gì hối tiếc về cuộc đời của mình. Mình đã sống đúng như mình muốn. Mỗi sáng thức dậy, tôi lại cảm ơn cuộc đời đã cho tôi sống trọn vẹn một ngày. Một ngày có ích cho tôi, cho gia đình, cho cộng đồng.
Và bà hình như không muốn nói nhiều về mình. Bà say sưa về việc mang tranh ra nước ngoài, là một cách mang văn hóa nghệ thuật Việt ra giới thiệu với bạn bè, một cách để kết nối hòa giải hòa hợp tình thân với đồng bào Việt hải ngoại. Với bà, tranh là cầu nối cho tình hữu nghị, đoàn kết, sự hiểu biết, tôn trọng nhau.

Hoài Hương