Toàn cầu hóa và COVID 19 – những tác động đa chiều (Kỳ 2)

41

Những tác động của đại dịch COVID-19 tới toàn cầu hóa

VNTN – Những nhu cầu của nền kinh tế toàn cầu đã và đang mang lại thay đổi to lớn trong thói quen lao động và lối sống của con người ở tất cả các quốc gia dân tộc. Ngày nay, không một quốc gia dân tộc nào có thể làm ngơ trước vấn nạn khủng bố, tội phạm quốc tế hay những biến đổi của khí hậu… đặc biệt trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đang lan tràn rộng rãi trên toàn thế giới.

Đại dịch đã để lại những hậu quả vô cùng nặng nề đối với sự phát triển của từng quốc gia nói riêng và toàn thế giới nói chung như kinh tế trì trệ, tăng trưởng chậm, sự phá sản của các công ty, sự sụt giảm của thị trường chứng khoán, tình trạng thất nghiệp và đói nghèo… Tuy nhiên bài viết tập trung phân tích những tác động của đại dịch COVID-19 tới toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa đang trải qua bài kiểm tra về sức chịu đựng lớn nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.
Đại dịch là minh chứng rõ nhất cho thấy một sự kiện ở một quốc gia cụ thể có thể gây nên những tác động mạnh mẽ tới tình hình kinh tế – chính trị – xã hội của hàng trăm quốc gia trên khắp hành tinh. Đại dịch này đòi hỏi các quốc gia cần phải thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn bởi không một quốc gia nào có thể tránh được những tác động này và càng không thể giải quyết vấn đề đó một mình. Đây cũng là cơ hội để tăng cường các mối quan hệ hợp tác, thúc đẩy hợp tác quốc tế cùng đối phó với các vấn đề xuyên biên giới. Song song với nỗ lực chống dịch ở trong nước, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đã chủ động tham gia đóng góp vào các nỗ lực khu vực vào toàn cầu nhằm ứng phó với dịch COVID-19.
Một trong những đặc trưng lớn nhất của xu thế toàn cầu hóa là sự gia tăng mạnh mẽ của quan hệ thương mại quốc tế. Kinh tế thương mại không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà mở rộng ra toàn cầu, không chỉ là mối quan hệ thương mại truyền thống giữa các quốc gia mà công dân mỗi nước đều tham gia vào hoạt động này với nhiều phương thức khác nhau. Thương mại điện tử phát triển cực kỳ nhanh chóng với sự hỗ trợ rất lớn của các phương tiện điện tử, Internet và vận chuyển quốc tế. Các trung tâm thương mại mọc lên khắp thế giới, cung cấp hàng hóa đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Tiêu biểu nhất là công ty thương mại điện tử Amazon, công ty bán lẻ online lớn nhất thế giới theo doanh thu và vốn hóa thị trường với đơn hàng. Amazon đã cung cấp hàng hóa tiêu dùng cho công dân của mọi quốc gia trên thế giới với hàng triệu đơn hàng mỗi ngày, phục vụ 24/24. Khi đại dịch COVID-19 xảy ra, các quốc gia tâm điểm thực hiện lệnh phong tỏa, cách ly, yêu cầu mọi người ở trong nhà, không ra khỏi nhà, chợ và các trung tâm thương mại phải đóng cửa hoặc hạn chế đông người, các siêu thị trống không hàng hóa… Nhưng cuộc sống và nhu cầu tiêu dùng của con người không thể dừng lại được. Đây chính là thời điểm cho thấy rõ những giá trị to lớn của thương mại điện tử. Amazon đang phải đối mặt với sự gia tăng đột biến của các đơn hàng trực tuyến. Vì vậy, việc giao hàng trở nên chậm trễ hơn. Thậm chí một số mặt hàng nhất định đang thiếu hụt trầm trọng. Dù nhiều nhân viên có kết quả dương tính với COVID-19, Amazon vẫn duy trì hoạt động của kho hàng nhằm đáp ứng nhu cầu người mua. Hiện, Amazon đã trả gấp đôi lương cho nhân viên kho vận làm việc tăng ca. Tuy nhiên, một vấn đề lớn là 50% hàng hóa của hãng như hàng điện tử tiêu dùng, quần áo, đồ chơi là nhập khẩu từ Trung Quốc và tồn kho thì sắp cạn. Sự thiếu hụt này đã bộc lộ một cái “tử huyệt” của thế giới trong kỷ nguyên toàn cầu hóa khi quá lệ thuộc vào nguồn cung duy nhất là “công xưởng của thế giới” – Trung Quốc.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Trong bối cảnh đó, khẩu trang và các thiết bị y tế trở thành những mặt hàng bán chạy nhất đồng thời mang lại lợi nhuận lớn cho các nhà kinh doanh. Tuy nhiên, đối với dịch vụ bán lẻ các mặt hàng khác lại đang phải đối phó với tình trạng ảm đạm, ế ẩm và trì trệ. Những hàng rào thuế quan của Tổng thống Mỹ Trump dù đã kéo dài 2 năm qua nhưng không nguy hiểm bằng sự bùng phát của dịch virus corona. Đại dịch và những nỗ lực ngăn chặn virus sẽ khiến xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thế giới thiệt hại nặng nề, nhất là dịch vụ du lịch – ngành kinh tế mang lại lợi nhuận rất lớn cho nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới.
Trung Quốc là nước được hưởng lợi lớn từ toàn cầu hóa trong những thập kỷ qua đặc biệt từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (năm 2001), vươn lên trở thành nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới. Trung Quốc giữ vai trò trung tâm trong chuỗi cung ứng toàn cầu vì quốc gia này có hệ thống công nghiệp hoàn chỉnh hơn nhiều quốc gia khác, là quốc gia duy nhất trên thế giới có tất cả các loại hình công nghiệp trong phân loại công nghiệp của Liên hợp quốc. Trung Quốc có nguồn lao động chất lượng cao và công nghệ cao hơn nhiều so với quốc gia khác. Đặc biệt Trung Quốc có thị trường nội địa rất lớn nên đã thúc đẩy một số doanh nghiệp nước ngoài “sản xuất tại Trung Quốc, cho thị trường Trung Quốc”. Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn sản xuất ảnh hưởng lớn đến nguồn cung hàng hóa cho toàn thế giới. Các công ty đa quốc gia đã hết sức lo lắng và lên kế hoạch dịch chuyển nhà máy sản xuất của họ từ Trung Quốc sang các nước khác (như Đông Nam Á, Mexico) hoặc về sản xuất tại đất nước mình. Tuy nhiên, các cường quốc trên thế giới sẽ gặp khó khăn lớn để tăng trưởng chuỗi cung ứng nội địa khi các nước này đã phụ thuộc vào Trung Quốc hàng thập kỷ qua. Đó chính là một trong những biểu hiện rõ nhất của toàn cầu hóa thế kỷ XX.
Trong các thế kỷ trước, Anh được coi là công xưởng thế giới, Mỹ là nước có sản lượng công nghiệp lớn nhất thế giới. Nhưng trong thời kỳ toàn cầu hóa, ngành công nghiệp của một số quốc gia từng phát triển mạnh mẽ gần như biến mất. Bây giờ, các quốc gia muốn tái xây dựng một hệ thống công nghiệp độc lập thì sẽ là một thử thách rất lớn. Google và Microsoft đang nhanh chóng di dời dây chuyền sản xuất mới, máy tính cá nhân và các thiết bị khác từ Trung Quốc sang các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan. Trong khi trước đó hầu hết điện thoại thông minh và máy tính do Microsoft chế tạo đều được sản xuất tại Trung Quốc. Các quốc gia muốn rút các cơ sở sản xuất từ Trung Quốc về nước cũng rất khó khăn khi mỗi một bộ phận của sản phẩm được sản xuất ở những công ty và những quốc gia khác nhau. Thêm một thử thách nữa là việc tìm kiếm nhà đầu tư và nhân công giá thành cao. Tại Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu, Mỹ, thế hệ trẻ không có xu hướng đầu tư vào công nghiệp sản xuất. Họ có xu hướng phát triển đầu tư về mạng Internet hay các doanh nghiệp tài chính. Sự lựa chọn đó của những nhà kinh doanh trẻ tuổi là phù hợp với thời kỳ phát triển của xu hướng toàn cầu hóa. Khi thực tế này xảy ra thì dịch bệnh có khả năng phá vỡ tiền đề của sự phân chia chuỗi cung ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Đại dịch COVID-19 đã làm “thay đổi cuộc chơi” đối với toàn cầu hóa vì đã phơi bày sự mong manh của chuỗi cung ứng quốc tế. Dịch bệnh đã cho thấy sự phụ thuộc “vô trách nhiệm và bất hợp lý” của quốc tế vào Trung Quốc. Thậm chí những sản phẩm y tế, dược phẩm và vật liệu an ninh công cộng của các quốc gia trên thế giới cũng phụ thuộc vào Trung Quốc. Khoảng 20 loại thuốc có nguồn gốc hoạt chất dược phẩm hoặc thành phẩm hoàn toàn ở Mỹ mua từ Trung Quốc. Khi đại dịch xuất hiện, Mỹ lâm vào tình trạng khan hiếm thuốc, thiết bị bảo hộ y tế (quần áo phẫu thuật, găng tay và khẩu trang). Tình trạng này cũng xảy ra tương tự ở Italia, Pháp, Tây Ban Nha, Anh… Đó chính là mặt trái của xu thế toàn cầu hóa khi làm cho nền sản xuất giữa các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau. Virus SARS-CoV-2 đã gióng hồi chuông cảnh tỉnh đối với nền chính trị thế giới trong việc phát triển sản xuất hàng hóa nội địa. Để khắc phục tình trạng này, trước mắt chính phủ các nước sẽ yêu cầu một số ngành nghề quan trọng đối với an ninh quốc gia chuyển dây chuyền sản xuất về trong nước hoặc những địa điểm gần hơn nhằm phân tán rủi ro theo khu vực đối với bố cục toàn cầu. Nhưng có thể với thực tế này, chính virus corona lại đẩy mạnh toàn cầu hóa hơn khi nhiều công ty đa quốc gia đã học được cách đối phó tốt hơn với các thảm họa và các mối đe dọa khác đối với sản xuất của họ bằng cách đa dạng hóa các địa điểm sản xuất. Khi đó nền sản xuất của nhiều quốc gia đang phát triển khác ngoài Trung Quốc sẽ có cơ hội phát triển sản xuất. Trong bối cảnh đó, toàn cầu hóa sẽ diễn ra trên quy mô rộng lớn hơn so với thời kỳ trước. Nói cách khác, COVID-19 đã tạo ra một động lực để mở rộng chuỗi cung ứng toàn cầu đến nhiều quốc gia trên thế giới hơn, để giúp các quốc gia “chống sốc” tốt hơn trước những tác động xuyên quốc gia.
Theo số liệu của World Bank, năm 2003, GDP của Trung Quốc chỉ còn ở con số khiêm tốn 1.600 tỷ USD, đến năm 2008, con số đó đã lên đến 13.600 tỷ USD chiếm 17% GDP toàn cầu và 30% sản lượng thế giới. Trong thời buổi toàn cầu hóa, nền kinh tế của các nước đều đan xen và phụ thuộc lẫn nhau nên việc xáo trộn kinh tế của một quốc gia được mệnh danh là “công xưởng của thế giới” sẽ có những tác động vô cùng lớn tới nền kinh tế thế giới. Các nước phát triển mà nền kinh tế phụ thuộc vào thương mại quốc tế cũng phải gánh chịu những hậu quả khi nhiều nước giảm nhập khẩu trong một thời gian. Sau đại dịch, một số nước sẽ phải đối mặt với suy thoái kinh tế chưa từng có.
Đại dịch COVID-19 có thể làm thay đổi cơ cấu quyền lực toàn cầu, chuyển từ thế giới phương Tây sang Đông Á. Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản là những quốc gia ít có thời gian đối phó với dịch bệnh hơn các quốc gia khác nhưng lại đang kiểm soát tốt về dịch bệnh hơn cả về số người mắc và số người tử vong. Trong khi đó Mỹ và các quốc gia phương Tây nơi có tiềm lực kinh tế lớn mạnh, khoa học kỹ thuật phát triển, trình độ y tế cao, lại có nhiều thời gian ứng phó với dịch bệnh hơn vẫn chưa kiểm soát được sự lây lan của dịch COVID-19. Sự thay đổi quyền lực trong trật tự thế giới toàn cầu không có khả năng diễn ra nhanh chóng nhưng đại dịch này chắc chắn là chất xúc tác trong tiến trình thay đổi đó. Trong thế giới toàn cầu, một số nước lớn không còn nắm vai trò quyết định tuyệt đối. Cán cân quyền lực đã có những thay đổi với sự vươn lên mạnh mẽ của các quốc gia đang phát triển nhất là ở khu vực châu Á.
Đại dịch COVID-19 cũng tác động rất lớn đối với an ninh quốc phòng không chỉ của một quốc gia mà trên phạm vi toàn thế giới. Về mặc tích cực, đại dịch đã làm cho các quốc gia ngừng mọi hành động xung đột quân sự trực tiếp bởi lo ngại sự lây lan của dịch bệnh. Trước khi xảy ra dịch bệnh, cuối năm 2019 là thời điểm căng thẳng quân sự ở Trung Đông. Nhưng từ khi dịch COVID-19 bùng phát thì những xung đột đó trở nên hoàn dịu hơn. Đối với nhiều quốc gia, quân đội là công cụ đắc lực trong việc đảm bảo an ninh quốc gia và đối phó với các cuộc khủng hoảng trên diện rộng. Quân đội ở các nước như Mỹ bị điều động ra chiến tuyến chống dịch COVID-19 ngày càng nhiều và giữ vai trò vô cùng quan trọng.
Tuy nhiên, lực lượng quân sự chính là một trong những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong đại dịch. Nếu dịch bùng phát trong quân đội thì không chỉ khả năng chủ động tác chiến bị tê liệt, mà ngay cả khả năng tiếp tục hỗ trợ chống dịch của các đơn vị nhiễm bệnh cũng sẽ bị hạn chế. Ngoài ra, khả năng sẵn sàng tác chiến của lực lượng quân đội cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Việc phối hợp tập trận giữa các quốc gia trên thế giới cũng bị hoãn lại. Tất cả những tác động đó sẽ là nguy cơ đối với mỗi quốc gia khi có thế lực bên ngoài xâm lấn. Đây không còn là vấn đề mới bởi trong lịch sử rất nhiều thế lực ngoại xâm đã dùng “công cụ bệnh truyền nhiễm” để hỗ trợ tác chiến khi tiến hành chiến tranh xâm lược. Do đó, đòi hỏi các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam cần phải có những biện pháp phù hợp khi vừa đẩy lùi được dịch bệnh vừa đảm bảo được an ninh quốc phòng.
Cần khẳng định lại một lần nữa là trong thời kỳ toàn cầu hóa, việc đi lại dễ dàng trên thế giới và di chuyển không biên giới đã góp phần dẫn đến sự lan nhanh của dịch bệnh. Tuy nhiên, đại dịch không thể xóa bỏ toàn cầu hóa trong một thế giới vốn đã toàn cầu hóa. Đại dịch COVID-19 còn đang diễn biến phức tạp trên toàn thế giới với những hậu quả nặng nề không thể lường hết được đối với toàn nhân loại. Điều chắc chắc rằng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế, đại dịch sẽ được đẩy lùi. Thế giới hậu đại dịch sẽ có những biến đổi to lớn và xu thế toàn cầu hóa chắc chắc có những thay đổi cho phù hợp với tình hình nhằm thúc đẩy xã hội phát triển mạnh mẽ hơn. Toàn cần hóa vẫn sẽ tiếp tục diễn ra sau khi đại dịch qua đi nhưng sẽ có những thay đổi.

Cấn Thu Hằng