Con mèo

54

VNTN – Tuyết rơi lạnh, những sợi lông trên người con mèo đã đông cứng lỉa chỉa, nhưng nó vẫn điềm tĩnh. Nó ngồi cuộn tròn, đã hàng giờ liền sẵn sàng cho cú vồ chết mồi.
Đang là đêm, nhưng điều đó đâu có gì khác biệt, bởi mọi thời khắc đều là một đối với con mèo khi nó rình mồi. Thêm nữa, nó không hề bị ý chí con người điều khiển, khi mà nó sống một mình trong mùa đông đó. Không nơi nào trên trái đất có giọng nói gọi tên nó, hay cạnh lò sưởi ấm áp nào một đĩa thức ăn đang đợi chờ.
Nó khá tự do chỉ trừ việc những thèm khát không được thỏa mãn đang hành hạ nó lúc này. Con mèo đang sắp chết đói. Đã nhiều ngày thời tiết trở nên dữ dội hơn, những loài vật nhỏ yếu ớt, những kẻ nô lệ cho giống loài nó, phần lớn đã ẩn sâu trong hang hốc, và chuyến săn dài của con mèo không có chút tác dụng nào.
Nhưng nó vẫn chờ với sự kiên nhẫn phi thường, bền bỉ là đặc tính của giống loài, thêm nữa, nó luôn chắc chắn. Con mèo là một sinh vật của sự vững tin tuyệt đối, lòng tin tưởng của nó vào những tính toán của bản thân không thể bị lung lay. Con thỏ đã biến mất giữa những cành thông thấp. Giờ trước cửa hang con vật là một cái màn che bằng tuyết xù xì, nhưng nó đang ở trong đó. Con mèo đã thấy con thỏ chạy vào trong, một cái bóng xám vọt nhanh đến mức khiến đôi mắt sắc bén, đầy điêu luyện của nó phải liếc lại chờ đợi một thứ vật chất nào đó theo sau, rồi con thỏ cứ thế biến mất.
Vậy nên nó ngồi xuống và đợi, nó vẫn ngồi im trong đêm trắng tuyết, lắng nghe một cách giận dữ những cơn gió phương Bắc thổi trên đỉnh núi với những tiếng rít xa xa, rồi phồng lên thành một giai điệu khủng khiếp của thịnh nộ và sà xuống với những cặp cánh tuyết dữ dội giống như một đàn chim đại bàng hung tợn, xuống những thung lũng, khe núi.
Con mèo đang ở phía bên kia ngọn núi, trên một mái nhà gỗ. Phía trên nó cách một quãng là một dốc đá thẳng đứng như bức tường của một nhà thờ lớn. Con mèo chưa từng trèo lên đó – cây cối mới là những bậc thang cho nó để tới những đỉnh cao hơn của sự sống. Nó thường nhìn dốc đá một cách kinh ngạc, rồi kêu “meo meo” đầy cay đắng và bực bội giống như con người khi trước mặt là quả cấm của Thượng Đế. Phía bên trái là vách núi thẳng dốc. Phía sau nó, với một khoảng rừng cây rậm ở giữa, là một bức tường thẳng đứng đóng băng của một dòng suối. Phía trước nó là con đường về nhà.
Khi con thỏ bước ra khỏi hang, nó rơi vào bẫy; những bàn chân nhỏ bé của nó không thể nào trèo lên nổi những sườn dốc chắc chắn vậy. Và con mèo chờ đợi. Nơi mà nó đang ngồi giống như một mớ hỗn độn rối rắm của cây cối trong rừng. Những cành cây, bụi rậm quấn chặt, bám vào sườn núi bằng những chiếc rễ dài, những thân cây, cành đổ gục, những cây leo ôm siết mọi thứ với những nút thắt và những vòng cuộn đang trong thời kỳ sinh trưởng, tạo nên một hiệu ứng kỳ lạ, cứ như thể mọi thứ đã xoáy cuồng hàng thế kỷ trong dòng nước cuốn dữ dội, có điều nó không phải là nước mà là gió, nó đã sắp đặt tất cả thành những vòng tròn quy phục trước những đòn tấn công hung tợn nhất.
Giờ bao trùm lên cái vòng xoáy của gỗ, đá, thân cây chết, cành mục và cây leo, tuyết đổ xuống. Nó thổi xuống giống như lớp khói trên những ngọn núi đá, nó đứng đó trong hình dáng những cột xoáy như những hồn ma nanh ác của thiên nhiên, trên phần đất bằng phẳng, rồi bất ngờ đổ sụp xuống rìa vách núi dựng đứng, và con mèo co rúm trước cảnh tượng dữ dội đó.
Cứ như thể có những chiếc kim châm bằng băng đâm nhói da nó qua lớp lông dày, nhưng nó không hề chùn bước, cũng không một lần kêu lên. Chẳng ích gì từ việc khóc than, có khi còn khiến nó mất tất cả; con thỏ sẽ nghe thấy tiếng động và biết rằng nó đang chờ đợi.
Trời tối hơn, một màu trắng mờ tối kỳ lạ thay vì màu đen tự nhiên của màn đêm. Đêm của bão tố, cái chết lấn át đêm của tạo hóa. Những dãy núi bị che khuất, bao phủ, bị áp bức, nhưng ở giữa nó một sinh vật nhỏ bé vẫn chờ đợi, không bị khuất phục, minh chứng sống của sự kiên nhẫn và sức mạnh bên dưới bộ lông màu xám.
Luồng gió mạnh quét qua bức tường đá, xoay tròn như cơn xoáy lốc ngang qua mặt đất bằng phẳng, rồi vượt qua vách núi dựng đứng. Con mèo thấy đôi mắt sáng lóe đầy khiếp sợ, thấy chiếc mũi run rẩy phập phồng, đôi tai dựng đứng, và nó giữ yên, với từng dây thần kinh và thớ cơ thịt căng lên như dây đàn. Rồi con thỏ chạy ra ngoài – một hiện thân của nỗi tuyệt vọng tháo chạy và kinh hoàng – rồi con mèo túm được nó.
Con mèo trở về nhà, kéo lê con mồi trên tuyết. Con mèo sống trong ngôi nhà mà ông chủ nó đã xây, tạm bợ hệt như ngôi nhà khối của một đứa trẻ, nhưng đủ vững chắc. Tuyết phủ nặng trên phần nghiêng thấp của mái. Hai cửa sổ và cửa ra vào được khóa chặt, nhưng con mèo biết cách để vào trong. Nó vội vã trèo lên cây thông phía sau nhà, một công việc nặng nhọc với con thỏ trong miệng, tới chiếc cửa sổ nhỏ bên dưới mái hiên, rồi trèo xuống qua cửa sập tới căn phòng bên dưới, và đáp xuống trên giường ngủ của ông chủ với một cú nhảy, một tiếng kêu thắng lợi.
Nhưng ông chủ không ở đó; ông đã đi vắng từ mùa thu, nay đã là tháng Hai. Ông sẽ không quay lại cho tới mùa xuân, bởi ông đã già, cái lạnh ác độc của mùa đông bấu chặt lấy cơ thể ông như vuốt của một con báo, và ông đã tới ngôi làng để trú đông. Con mèo biết từ lâu ông chủ đã rời đi, nhưng thói quen của nó vẫn giữ; đối với nó điều gì đã sẽ luôn là vậy, và nó luôn luôn trở về nhà mong đợi được thấy ông chủ.
Khi nó thấy ông ấy vẫn vắng mặt, nó kéo con thỏ khỏi chiếc ghế dài được dùng làm giường ngủ xuống sàn nhà, đặt một bàn chân nhỏ lên cái xác để giữ chắc chắn, và bắt đầu gặm.
Không gian tối hơn nhiều so với trong rừng, và lạnh giá, dù không đến mức quá khắc nghiệt. Cơn gió mạnh ném tuyết vào những ô cửa sổ lộp bộp như mưa đá, ngôi nhà hơi run lên. Cùng một lúc con mèo nghe thấy tiếng động, dừng ngấu nghiến con thỏ và lắng nghe, đôi mắt xanh lóe sáng của nó nhìn chằm chằm vào ô cửa sổ. Nó nghe thấy một tiếng hét khàn khàn, một tiếng hú của nỗi tuyệt vọng và cầu khẩn; nhưng nó biết rằng đó không phải là ông chủ trở về, và nó chờ đợi, một chân vẫn đặt trên con thỏ. Tiếng hú cất lên lần nữa, lần này con mèo đáp lại. Nó diễn đạt tất cả những gì là cốt yếu một cách đơn giản theo nhận thức của bản thân. Trong tiếng kêu của nó chứa đựng những câu hỏi, thông tin, sự cảnh báo, nỗi khiếp sợ, sau cùng, một đề nghị về tình bạn; nhưng người đàn ông bên ngoài không thể nghe thấy nó bởi cơn bão đang gầm rú.
Tiếp đó, một cú đập dữ dội vào cánh cửa, một cú nữa, thêm một cú khác. Con mèo kéo lê con thỏ xuống dưới gầm giường. Những cú đập trở nên mạnh, nhanh. Một cánh tay yếu ớt, nhưng được làm mạnh lên bởi nỗi tuyệt vọng. Cuối cùng ổ khóa bật tung, kẻ lạ mặt bước vào. Con mèo, ló ra từ bên dưới chiếc giường, hấp háy mắt bởi ánh sáng đột ngột. Kẻ lạ mặt đánh diêm, nhìn xung quanh. Con mèo nhìn thấy một bộ mặt hoang dại, xanh xao bởi lạnh cùng đói khát, một gã đàn ông trông nghèo nàn, già hơn cả ông chủ già tội nghiệp của nó, một kẻ bị xã hội ruồng bỏ bởi thân phận thấp hèn và xuất thân mù mờ; rồi nó nghe thấy một âm thanh thì thầm, tắc nghẹn của nỗi đau phát ra từ chiếc miệng xù xì thảm hại. Trong đó có cả sự báng bổ và đức tin, nhưng con mèo không hiểu chút gì về điều này.
Gã khóa cánh cửa mình vừa đập mở, lấy một ít gỗ từ cái giỏ trong góc, nhóm lửa cái lò sưởi cũ kỹ với tốc độ nhanh nhất mà bàn tay nửa cóng lạnh của gã cho phép. Lão run rẩy tới mức tội nghiệp mà con mèo đang chui trong gầm giường cũng cảm thấy. Rồi gã, nhỏ bé, yếu ớt, in hằn những vết sẹo của nỗi đau đớn, ngồi xuống một trong những chiếc ghế cũ, thu mình trước ngọn lửa, hơ bàn tay vàng vọt trông như những chiếc móng vuốt ngà vàng trước ngọn lửa rên hừ hừ.
Con mèo chui ra và nhảy phốc lên đùi gã với con thỏ. Gã rú lên đầy kinh hãi và bật dậy, khiến con mèo trượt xuống cào móng trên sàn nhà, con thỏ rơi xuống đánh bịch. Gã tái mét, dựa vào tường, thở hổn hển với nỗi kinh hãi. Con mèo ngoạm lấy con thỏ, kéo lê con vật tới chân lão. Nó cất tiếng kêu chói tai nài nỉ, lưng nó uốn cao, cái đuôi đẹp vẫy mềm mại như chiếc lông vũ. Nó dụi mình vào bàn chân gã thò ra ngoài đôi giày rách bươm.
Gã đàn ông nhẹ nhàng đẩy con mèo ra, bắt đầu ngó quanh ngôi nhà. Gã thậm chí còn trèo một cách đau đớn lên chiếc thang dẫn tới gác xép, đánh diêm, nhìn vào bóng tối với cặp mắt mỏi mệt. Gã lo sợ rằng có người khác ở trong nhà, bởi một con mèo ở đây. Những trải nghiệm của gã với đồng loại không được tốt đẹp gì, những trải nghiệm của họ đối với gã cũng vậy. Gã là một Ishmael già cỗi lang thang giữa loài người; gã đã vô tình bước vào căn nhà của một người anh em và người anh em đó đi vắng, gã thấy mừng.
Gã quay lại với con mèo, khom khom xuống vuốt ve lưng con vật, khiến nó cong người lên như một cánh cung. Gã cầm con thỏ lên, háo hức nhìn dưới ánh lửa. Hàm của gã động đậy. Gã dò dẫm – con mèo bám sát chân gã – xung quanh mấy cái giá, chiếc bàn, và tìm thấy, với một tiếng càu nhàu tự chúc mừng, một cây đèn vẫn còn dầu. Gã thắp đèn lên, tìm thấy một cái chảo rán cùng con dao, lột da con thỏ và sơ chế nó trước khi nấu. Con mèo vẫn bám chân gã.
Mùi hăng nồng của thịt được nấu chín ngập khắp cabin, khiến cả gã lẫn con mèo cồn cào. Gã lật con thỏ với một tay, cúi xuống vuốt ve con mèo với tay còn lại. Con mèo nghĩ gã là người tốt. Gã thương nó bằng cả trái tim, dù gã mới biết nó trong thời gian ngắn, và gã sở hữu bộ mặt đáng thương hại, những nét sắc bén đối lập với những gì tốt đẹp nhất.
Một khuôn mặt với sự cáu ghét giận dữ của tuổi tác, gò má hõm sâu ốm yếu, những ký ức của tội lỗi trong cặp mắt mờ mịt, nhưng con mèo chấp nhận gã không mảy may nghi ngờ và yêu gã. Khi con thỏ chín tái, cả gã đàn ông lẫn con mèo không thể đợi lâu hơn nữa. Gã lấy nó khỏi ngọn lửa, cắt thành hai nửa, cho con mèo một nửa, nửa còn lại cho gã. Sau đó, họ cùng ăn.
Xong xuôi, gã thổi tắt ngọn đèn, gọi con mèo đến rồi trèo lên giường, kéo tấm chăn rách rưới đắp lên người, và thiếp ngủ với con mèo trên ngực.
Gã trở thành vị khách của con mèo suốt thời gian còn lại của mùa đông, và mùa đông trên núi rất dài. Người chủ chiếc lều nhỏ sẽ không quay lại trước tháng Năm. Suốt thời gian này con mèo vất vả lùng sục, trở nên gầy gò hơn, khi mà nó chia sẻ mọi thứ trừ những con chuột với vị khách, đôi khi những con mồi trở nên cảnh giác, sự kiên nhẫn trở nên cạn kiệt cho cả hai. Gã đàn ông rất ốm, yếu ớt, tuy nhiên gã ăn rất ít, đây là điều may khi gã không thể tự đi săn. Suốt một ngày dài gã nằm trên giường, những lúc khác lại ngồi khoanh tròn bên lò sưởi. May mắn là những súc gỗ luôn sẵn để dùng, chỉ một khoảng cách ngắn từ cửa ra vào, và gã có thể tự lấy được.
Con mèo đi săn không biết mệt. Đôi khi nó biến mất mấy ngày trời, lúc đầu gã đàn ông hoảng sợ, nghĩ nó sẽ không trở lại; sau đó gã nghe thấy tiếng kêu quen thuộc ngoài cửa, loạng choạng đứng dậy và để nó vào trong. Cả hai sẽ cùng nấu ăn, chia sẻ khẩu phần công bằng; sau đó con mèo sẽ nằm xuống nghỉ ngơi, kêu gừ gừ, cuối cùng thiếp ngủ trong vòng tay gã.

 

Mùa xuân tới sớm mang theo lượng mồi dồi dào; nhiều con mồi nhỏ bé bị cám dỗ rời khỏi hang ổ để tìm kiếm bạn tình và thức ăn. Một ngày con mèo gặp may – một con thỏ, gà gô và chuột. Nó không thể tha tất cả chỗ mồi cùng lúc, nhưng cuối cùng nó cũng kéo lê được chúng tới trước cửa nhà. Sau đó nó cất tiếng kêu, nhưng không ai trả lời.
Những dòng suối nhỏ trên núi đã tan băng, không gian ngập tràn tiếng róc rách của nước, hòa lẫn tiếng chím ríu rít. Cây cối xào xạc trong gió xuân; hoa ngập tràn trên bề mặt màu mỡ của ngọn núi phía xa sừng sững sau bờ rừng. Ngọn của những bụi cây phình lên, lấp lánh sắc đỏ, đây đó là một bông hoa; nhưng con mèo không bận tâm. Nó đứng bên cạnh chiến lợi phẩm, kêu và kêu với chiến công lớn được nhấn mạnh, than phiền và nài xin, nhưng không một ai để nó vào trong. Rồi con mèo để chiến lợi phẩm trước cửa, vòng ra sau nhà tới chỗ cây thông, và trèo lên được thân cây với một cái trườn dữ dội, qua ô cửa sổ nhỏ, qua cái cửa sập để vào trong phòng, và gã đàn ông không còn ở đó nữa. Con mèo kêu lên lần nữa – tiếng kêu của con vật tìm kiếm sự bầu bạn từ con người là một trong những nốt nhạc thê lương nhất; nó tìm kiếm trong tất cả các ngóc ngách; nó nhảy phóc lên chiếc ghế cạnh cửa sổ, nhìn ra ngoài; nhưng không ai tới cả. Gã đàn ông đã rời đi và không quay trở lại.
Con mèo chén thịt con chuột bên ngoài bãi cỏ cạnh ngôi nhà; con thỏ và gà gô được nó tha một cách đau đớn vào nhà, nhưng gã đàn ông không tới để cùng chia sẻ chúng. Cuối cùng, sau một, hai ngày, nó chén hết sạch; nó nằm ngủ trên giường, khi tỉnh dậy gã đàn ông vẫn biến mất.
Rồi con mèo lại lao về trước với những chuyến lùng sục mồi, và quay về vào buổi đêm với một con chim to béo, đấu tranh với sự kiên định không mệt mỏi trong niềm mong đợi rằng gã đàn ông sẽ ở đó; và khi thấy ánh đèn chiếu ra từ ô cửa sổ, tiếng kêu của nó khiến ông chủ cũ ra mở cửa để nó vào trong.
Người chủ có một tình đồng chí mạnh mẽ với con mèo, nhưng không phải là tình thương. Ông chưa bao giờ vuốt ve nó như cái cách kẻ bị ruồng bỏ đã làm, nhưng ông có một niềm kiêu hãnh về con vật và nỗi lo cho sức khỏe của nó, dù ông đã bỏ mặc nó một mình suốt mùa đông không chút đắn đo. Ông rất ít lo sợ với những rủi ro có thể xảy ra với nó, bởi con vật to lớn hơn so với đồng loại, và là một thợ săn cừ khôi. Vậy nên, khi ông thấy nó trước cửa với tất cả sự lộng lẫy của chiếc áo lông mùa đông hào nhoáng, phần ngực màu trắng và khuôn mặt sáng ngời như tuyết trắng dưới ánh nắng mặt trời, khuôn mặt của chính ông sáng lên với sự chào mừng, và con mèo quấn quanh chân ông với tấm thân mềm dẻo rung lên những tiếng gừ mừng rỡ.
Con mèo ăn thịt con chim, còn người chủ đã có bữa tối sẵn sàng trong lò. Sau bữa tối chủ con mèo lấy tẩu thuốc ra, tìm kiếm cái kho dự trữ thuốc lá sợi ông để trong chiếc lều qua mùa đông. Ông không ngừng nghĩ về cái kho và con mèo như một điều gì đó để trở về vào mùa xuân. Nhưng thuốc lá sợi đã biến mất; không một chút bụi nào sót lại. Người đàn ông chửi thề với một giọng dữ tợn đều đều, khiến cho những lời tục tĩu mất đi hiệu quả. Ông đã từng là một tay nát rượu; đã lang bạt khắp thế giới cho tới khi dấu vết của những góc cạnh sắc bén in hằn trên linh hồn ông, theo một cách nào đó đã chai sạn, tới khi những tri giác về sự mất mát đã cùn đi. Ông là một kẻ già cỗi.
Ông tiếp tục lùng sục chỗ thuốc lá sợi với phần nào tính hiếu chiến ngu ngốc của sự kiên định; rồi ông nhìn chằm chằm một cách kinh ngạc ngớ ngẩn quanh căn phòng. Đột ngột, ông nhận ra rất nhiều thứ bị đổi khác. Một cái nắp đậy bếp lò bị vỡ; một miếng thảm cũ rích được che trên cửa sổ để chắn lạnh; đống củi dự trữ biến mất. Ông nhìn quanh thấy không còn chút dầu nào trong bình. Ông nhìn vào những tấm trải giường, cầm chúng lên, lần nữa ông phát ra cái âm mũi quở trách đầy kỳ lạ từ cổ họng. Rồi ông lại lùng sục lần nữa thuốc lá sợi.
Cuối cùng, ông bỏ cuộc. Ông ngồi xuống cạnh lò sưởi, khi mà tháng Năm trên núi rất lạnh; ông ngậm cái tẩu thuốc trống rỗng trong miệng, vầng trán gồ ghề của ông nhăn lại, ông và con mèo nhìn nhau qua một cái rào chắn dửng dưng của sự im lặng đã được dựng lên.

Phó Minh Châu (dịch)

Truyện ngắn. Mary E. Wilkins Freeman (Mỹ)