Chế Lan Viên – bất tử từ “Điêu tàn”

192

(Kỷ niệm 100 năm sinh thi sĩ Chế Lan Viên)

1.Khi nghĩ về dòng sông Linh quằn quại; những tháp Chàm rêu phong, lở lói; viên gạch lãng quên im lìm rụng trong lòng tháp cổ vào một buổi chiều cô tịch, tang thương; những nghĩa địa u ma lạnh lẽo; những ma Hời “sờ soạng dắt nhau đi” cùng bao nhiêu xương trắng, sọ não, máu huyết,… tôi đã run sợ cho trí tưởng tượng của Chế Lan Viên. Đó là một thế giới kinh dị, được xây dựng bởi sự hư cấu mãnh liệt với tâm trạng bi hận và nỗi đau thương của hủy diệt. Chiêm quốc, sự hiện hữu và cát bụi hư vô, thành Đồ Bàn và những ký ức hưng thịnh, đổ nát,… thế giới ấy là nỗi ngậm ngùi uất ức, là hoài khát trong tuyệt vọng lãng quên. Tất cả đã tái sinh trong “Điêu tàn” – tập thơ kinh dị “tột cùng” của Chế Lan Viên.

 

 

Nhà thơ Chế lan Viên (Nguồn: internet)

Cái tên Phan Ngọc Hoan mới mẻ, thanh tân, thoáng đạt và dịu nhẹ quá, không hợp với thế giới Điêu tàn. Chế Lan Viên – vườn hoa lan của dòng dõi đế vương dường như mới là sự lựa chọn đích đáng nhất. Chế Lan Viên tạo dựng nên Điêu tàn từ “tưởng tượng, hư cấu, siêu hình” (Hồ Thế Hà) hay chính thế giới ấy đã làm nên Chế Lan Viên – “một cái tháp Chàm chắc chắn và lẻ loi, bí mật” (Hoài Thanh – Hoài Chân). Điều đó dường như không thật quan trọng nữa khi Điêu tàn ra đời. Điêu tàn đã mở ra một thế giới khác, không có, đã mất hay có ở cõi khác nhưng quả là kinh dị và lạ lẫm với những gì chúng ta từng trải nghiệm. Và cũng từ thế giới ấy, Chế Lan Viên xuất hiện. Không mấy ai còn ý định đi tìm xem Chế Lan Viên tên thật là gì? Quê quán gốc gác ở đâu, tất cả dường như là một sự “mê tín”. Người ta biết Chế Lan Viên bởi vì có Điêu tàn cũng như người ta thấy hiện hữu những điều kinh dị, quái đản nhất từ tác phẩm ấy. Điêu tàn là một diễn ngôn kiến tạo nên Chiêm quốc tiêu vong, đổ nát, nơi có những u hồn réo gào thương khóc dĩ vãng, vất vưởng, quờ quạng đi trong bóng thành quách hoang vu, đầy xương lạnh và máu huyết. Cũng chính từ Điêu tàn mà chúng ta có Chế Lan Viên.

Quảng Trị, một vùng đất cỗi cằn, chỉ có nắng, gió và cát bỏng lại có một huyện có cái tên thật dịu mát: huyện Cam Lộ. Nơi Chế Lan Viên sinh ra có lẽ là nơi khắc nghiệt nhất nên người ta gửi gắm tất cả ước mơ về một cuộc sống đỡ cơ cực hơn qua tên đất, tên làng của mình. Năm 1920, Phan Ngọc Hoan – Chế Lan Viên sinh ra tại mảnh đất Cam Lộ, nhưng sớm theo cha là cụ Phan Ngọc Trân vào Bình Định sinh sống. Mảnh đất Bình Định đã nuôi dưỡng thể xác và linh hồn Phan Ngọc Hoan bằng tất cả tiềm năng của xứ sở, hoài sinh nên một cốt cách thi ca “phi thường”, là một trong tứ trụ của Trường thơ loạn, được xếp vào Bàn Thành tứ hữu của thi ca Bình Định.

Nổi tiếng thông minh từ bé, trải qua trường Tiểu học Pháp Việt Bình Định, trường Trung học phổ thông Quy Nhơn, Cao đẳng Tiểu học, khi cộng tác cùng các báo: Tin văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Trong khuê phòng, Ngày nay, Người mới,… Chế Lan Viên càng tỏ rõ tinh anh của mình. Tất cả dồn tụ lại và biểu hiện trong thi ca ngay từ những năm tháng Chế Lan Viên còn rất trẻ tuổi. Sự kiện đáng chú ý nhất không chỉ đối với Chế Lan Viên mà toàn thể nền Thơ mới Việt Nam là sự ra đời như “một niềm kinh dị” của tập Điêu tàn năm 1937. Người ta bắt đầu biết đến chàng thi sĩ trẻ tuổi của thành Đồ Bàn, tên tuổi chàng bay thấu trong Nam ngoài Bắc. Cũng từ đấy, khi đã hình thành nên phong cách thơ kinh dị của mình, Chế Lan Viên cùng với Hàn Mặc Tử đã lập nên Trường thơ loạn mà khí hậu bao trùm là Điên – Loạn. Đó là những xúc cảm nảy sinh trên chót đỉnh của sự sống, nơi tận cùng của sự trải nghiệm. Điêu tàn, hủy diệt là cội nguồn của loạn, như Đau thương là cội nguồn của Thơ điên (thơ, Hàn Mặc Tử) hay “vẻ đẹp khiêu dâm”, ái tình là căn nguyên của Cuồng khát (thơ, Bích Khê).

Hoài Thanh – Hoài Chân đã thật tế nhị và kín đáo khi nhận xét về Chế Lan Viên rằng: “Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó đứng sững như một cái tháp chàm chắc chắn, lẻ loi và bí mật”. Hẳn hai tác giả của “Thi nhân Việt Nam” đã dựa trên một đặc trưng trong kiến trúc của các Kalan Chăm là xây dựng trên các ngọn đồi cao với xu hướng vươn lên chiếm lĩnh không gian,… Một sự so sánh thật có ý nghĩa khi nghĩ về Chế Lan Viên và sự nghiệp thi ca cũng như những đóng góp to lớn mà tác giả đã để lại cho nền văn học dân tộc.

2.Tầm vóc tư tưởng quyết định tầm vóc nghệ thuật của nhà văn. Tư tưởng nghệ thuật hiểu một cách giản dị là sự biểu hiện của tư duy và mỹ cảm, thái độ và cảm xúc. Chính trong những sự biểu hiện ấy, tư tưởng nghệ thuật của tác giả được bộc lộ. Chế Lan Viên có những tuyên ngôn hết sức quyết liệt về thi sĩ, về thơ và về sự sáng tạo,… Những tuyên ngôn ấy chính là một cách thể hiện quan niệm của ông về thế giới, con người và hình thức của nghệ thuật. Khi Hàn Mặc Tử nói rằng thi sĩ là loài thứ ba, “Loài này là những bông hoa rất quý và rất hiếm sinh ra ở đời với một sứ mạng rất thiêng liêng: phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã gây nên, ca ngợi quyền phép của Người và trút vào hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê nhưng rất thơm tho rất tinh sạch” thì Chế Lan Viên cho rằng không thể so sánh thi nhân với người thường được: “Thi sĩ không phải là người. Nó là người Mơ, người Say, người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát Hiện tại. Nó xối trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương lai. Người ta không thể hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý” (Tựa Điêu tàn). Thi sĩ không phải là người thường, vì thế “làm thơ là làm sự phi thường”, hướng tới những cái “tột cùng” có thể khác xa với cuộc đời mà người thường thị kiến. Nhưng như chính thi sĩ đã lên tiếng, đó là những cái vô nghĩa hợp lý, “cái gì nó nói đều có cả”.

 

Bìa tập thơ “Điêu tàn” của Chế Lan Viên (Nguồn: internet)

 

Một điều cần phải nhận thức ngay ở đây đó là sự khác biệt của tuyên ngôn nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật. Quan niệm nghệ thuật thuộc về ý niệm (cái bên trong, diễn ra trong tư tưởng – “hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật”), tuyên ngôn là cái hiện hình thành lời, thành diễn ngôn về nghệ thuật. Tuyên ngôn nghệ thuật có thể được biểu đạt bằng nhiều hình thức, nhưng rõ ràng nó chỉ được phát biểu khi đã thực sự chín về mặt quan niệm. Giữa hai khái niệm này có nhiều điểm không thể rạch ròi và trong thực tế quan niệm nghệ thuật là cốt lõi của tuyên ngôn nghệ thuật. Khi xem xét tuyên ngôn nghệ thuật của Chế Lan Viên, chúng ta cần bao quát quan niệm nghệ thuật rất khác thường của tác giả và những tuyên ngôn mang tính chỉ dẫn, không nằm trong tác phẩm nghệ thuật.

Trước hết, tuyên ngôn nghệ thuật của Chế Lan Viên (trước Cách mạng Tháng Tám) biểu hiện trong lời tựa tập Điêu tàn như phần đầu đã dẫn. Phần lớn tuyên ngôn được biểu hiện thông qua chú ý thẩm mỹ, tình cảm thẩm mỹ, điểm nhìn nghệ thuật, sự tự biểu hiện, các phương tiện, vật liệu kiến trúc nên thế giới nghệ thuật, sự xử lý các phạm trù hiện thực và chiêm bao, mơ mộng, hiện tồn và siêu hình trong tập thơ Điêu tàn. Ta thấy rằng chú ý thẩm mỹ của thi nhân hướng tới cái kỳ dị, quái đản, cái ghê sợ khác thường. Đó là mỹ cảm của thi nhân. Như Hàn Mặc Tử nhạy cảm với Đau thương, Bích Khê cuồng loạn vì ĐẹpDâm, Chế Lan Viên thấy mình bị chinh phục bởi sự kinh rợn của thế giới âm ty, địa ngục. Những đầu lâu máu chảy, những xương óc rên rỉ, những mồ không hoang lạnh, những đến đài lở lói lãng quên,… đã lay động tinh thần thi nhân, thu hút cái nhìn và tạo thành tình cảm thẩm mỹ, ý thức thẩm mỹ. Sự sáng tạo được phát sinh trên nền tảng của ý thức thẩm mỹ ấy. Và phải nói ngay rằng, với Chế Lan Viên (và các nhà thơ thuộc Trường thơ loạn) tâm điểm của địa hạt thẩm mỹ là đau thương, là điêu tàn, sự chết, sự hủy diệt. Nhưng, ám ảnh hủy diệt càng lớn, sự khát khao hồi sinh, tái tạo cũng càng lớn. Làm sống dậy một thế giới đã tiêu trầm, hoang phế là một khát khao ngầm chứa của thi nhân. Dường như cấu trúc “tam vị nhất thể” của thần Silva đã ánh hiện trong thi giới của Chế Lan Viên, kêu gọi một sự hồi sinh từ trong hủy diệt. Ta chợt nhận ra lẽ hóa sinh nơi “tột cùng” sự sinh diệt ấy: cùng tắc biến, hợp rồi tan, tồn vong, hưng phế, cái nhất thời và cái vĩnh hằng bất biến,… Nhưng dẫu sao, đằng sau mọi sự điêu tàn đổ nát, cái đẹp bị tiêu vong vẫn là nỗi ngậm ngùi của kẻ mang niềm hoài cựu.

Chế Lan Viên có lẽ ảnh hưởng nhiều C. Baudelaire và E. Poe ở khía cạnh mỹ học của cái xấu, cái ác, cái ghê rợn. Dẫu không bị nguyền rủa như những tác giả Âu Mỹ nhưng Chế Lan Viên đã đem đến làng thơ Việt Nam một sự kinh hãi “tột cùng”. “Phi thường”, “tột cùng”, “phi lí đầy ý nghĩa”, và “cái gì nó nói cũng đều có” chính là toàn bộ sự biện luận của thi sĩ về thế giới Điêu tàn. Làm sống dậy thế giới âm ma ấy trong tư tưởng, thần trí của thi nhân khiến mực là máu huyết tuôn chảy, ngọn bút đưa như một tiếng gươm và trang thơ là một không gian đầy hoang phế:

Nền giấy trắng như xương trong bãi chém

Bỗng run lên kinh hãi dưới tay điên

Tiếng bút đưa rợn mình như tiếng kiếm

Nạo những thành sọ trắng của ma thiêng

(Tiết trinh)

Cái tôi mang tâm trạng loạn mê, cuồng hãi, “trửng giỡn”, tra vấn, réo gào với yêu ma, xương vỡ, máu trào, là một nhân cách có tính đại diện, là hiện thân của một quan niệm dị biệt về chất thơ, về thẩm mỹ mà Chế Lan Viên tìm đến. Như một sự phản ứng với thơ ca lãng mạn có thể đã không còn sức hấp dẫn, thi sĩ tìm đến cõi giới của sự hủy diệt, với những ảnh hình ghê rợn, khai thác chiều sâu của u linh và nỗi sợ hãi, luồn vào mồ không hoang lạnh để hú gào, kêu khóc, rên rỉ cùng cái chết. Có lẽ câu chuyện về việc thi nhân nằm sâu dưới lòng đất để hấp thu linh khí xứ Chàm đặng viết Điêu tàn chỉ là giai thoại nhưng quả thật, toàn bộ cõi giới ấy dường như được phục dựng từ trong mộ hoang, từ trong nghĩa địa lạnh giá, từ những cổ tháp âm u trầm mặc,… Thi nhân nếu không phải là một người điên, người say, người mơ, không phải là yêu, là tinh, là ma sao có thể cất chung tiếng nói cùng cõi giới ấy. Điều đó ngỡ như giản đơn mà thật quan trọng trong trường hợp này.

Điêu tàn là một diễn ngôn về sự hoang loạn. Cái loạn của một cá thể bị lạc trong cõi chết, cõi hoang tàn, cúi nhìn trong đáy giếng thẳm một ngôi sao rụng, lắng nghe tiếng rên rỉ của yêu ma, xương máu, chứng kiến cảnh thịt rữa xương tàn nơi đáy mồ không,… Trong một khả năng đầy hạn chế của chúng ta, Điêu tàn “áp chế” lên sự cảm nhận, kiến tạo nên “tri thức” về sự kỳ dị, sự quái đản. Quyền lực của diễn ngôn này rõ ràng mang tính “áp chế” nhưng ngay đầu tác phẩm Chế Lan Viên đã nói “cái gì nó nói cũng có cả”.

Thơ trữ tình Việt Nam đến những sáng tác của Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử… đã bước sang địa hạt của thơ tượng trưng và men chớm vào siêu thực. Cùng các thi hữu, Chế Lan Viên đã dựng nên Trường thơ loạn với những biểu hiện đầy đủ nhất của một trường phái thơ ca: Lời tựa của Điêu tàn là tuyên ngôn thứ nhất; Điêu tàn, Đau thương là những thực hành nghệ thuật tiêu biểu; Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan, Bích Khê là những yếu nhân của trường thơ đó. Chế Lan Viên nói riêng và Trường thơ loạn nói chung thực sự là những ngọn tháp, những đền đài tỏa bóng trên đồng bằng Thơ mới và thơ trữ tình hiện đại Việt Nam.

NGUYỄN THANH TÂM