Căn tính Việt – từ chối bỏ đến xác lập, truy tìm (qua tiểu thuyết “Sóng ngầm” của Linda Lê*)

18

Linda Lê từng chia sẻ: “Tôi tránh làm sứ giả của những người lưu đày, bởi lẽ tôi là một kẻ bội phản đã quên đi tiếng mẹ đẻ của mình và đã lấy tiếng Pháp để kể lại những nỗi gian truân của những nhân vật mơ hồ, hai mặt, luôn ở giữa dòng, bị xô đẩy chỗ này chỗ khác, quay về với quá khứ nhưng lại lo phải gạt bỏ những mối hiểm nguy của sự hoài niệm”. Vì vậy, không chủ đích viết văn từ tiểu sử, hay ưu tiên tự thuật hơn hư cấu, song, như một ám ảnh, đề tài về tình phụ tử, sự lìa xa gia đình, quê hương, bi kịch bị chối bỏ, sự lạc lõng, chông chênh của thân phận lưu đày… lặp đi lặp lại trong nhiều tiểu thuyết của Linda Lê. Sóng ngầm (NXB Hội Nhà văn, 2018, dịch giả: Bùi Thu Thủy, Hồ Thanh Vân) được xem là tiểu thuyết thể hiện rõ nhất cái tôi đồng bệnh tương lân của nhà văn gốc Việt này với các nhân vật trong tác phẩm. Từ trục chính là Văn, qua lời kể của bốn người kể chuyện xưng tôi (Văn, Lou, Laure, Ulma), ràng buộc bởi các mối quan hệ cha con, chồng vợ, tình nhân, Sóng ngầm đã khắc họa chân dung của những con người từ những vùng miền văn hóa khác nhau, đến xứ người và gặp gỡ ở tâm thức lưu đày.

Bị/tự chối bỏ và bi kịch không có quê hương

“Ý thức được rằng mình là một người lai, trung gian giữa người lưu đày bị gò ép theo một nền giáo dục ưu tiên cho những sản phẩm đến từ nơi khác, người tị nạn từ chối khu biệt cư và người phụ nữ phương Đông mất phương hướng, bị chia rẽ giữa khát khao giải phóng mình khỏi tất cả những rào cản và ước muốn được giữ gìn những mối quan hệ tình cảm với nơi mình sinh ra”, Linda Lê chọn viết để “khôi phục lại những nỗi đau và những nỗi ngất ngây từng cảm nhận, khi tôi di trú từ một không gian tưởng tượng đến một không gian khác”. Điều này khiến Linda Lê dễ dàng nhập thân vào nhân vật để chiêm nghiệm về thân phận lưu đày của những người tha hương, bơ vơ giữa một chốn hai quê. Sự thú vị của người đọc khi tiếp nhận tác phẩm nhờ đó được nhân đôi: vừa khám phá nhân vật từ sự miêu tả có nghề, có kinh nghiệm của nhà văn; vừa tìm thấy nhà văn từ nhân vật.

Xoáy vào thân phận người xa xứ, Sóng ngầm là những dòng chảy tâm trạng chênh chao, lưỡng lự của những nhân vật bị/tự lưu đày trong những không gian chưa bao giờ thuộc về họ. Lou đến Paris lập nghiệp và cảm thấy xa lạ với gia đình, với quê hương Bretagne của mình. Laure yêu cả bố lẫn mẹ, song vẫn không thôi dằn vặt bởi vừa khác, vừa chịu ảnh hưởng từ họ, mắc kẹt giữa những ẩm ương nửa người lớn nửa trẻ con. Tuy vậy, tự vấn về bản thể, về gốc rễ, quê hương, qua đó thể hiện phần nào hình bóng của chính Linda Lê trong tiểu thuyết Sóng ngầm, chỉ có thể cặp đôi Văn – Ulma, với dòng máu và căn tính Việt lúc chìm xuống, lúc trào dâng trong họ.

Văn, 15 tuổi đã rời Việt Nam, đến Pháp. Văn bị bố bỏ rơi ngay khi chưa đầy năm. Sợi dây nối anh với quê hương chỉ duy nhất là mẹ, song mẹ anh cũng mất trước khi kịp đến Pháp đoàn tụ cùng anh như dự định. Ulma, cô em gái cùng cha khác mẹ, giống Văn, chỉ là đứa con hoang, đứa con lai Âu – Á, không biết gì về người cha Việt. Sự thiếu hụt tình cảm gia đình đã khiến Văn và Ulma rơi vào mối tình loạn luân không thể kiểm soát. Ulma tìm đến sách vở và chút ràng buộc máu mủ trong mối quan hệ với Văn. Văn xoay trở để tự tin bên cạnh người bản xứ, lựa chọn các giá trị phi quốc gia và nhờ Ulma, qua Ulma, nối lại với phần cội nguồn từng bị lãng quên. Nhìn sang cuộc đời tác giả có thể thấy bi kịch “không có” quê hương của chính Linda Lê được cài cắm vào cặp đôi Văn và Ulma, vừa tương đồng vừa đối lập, làm nên một sự bổ sung hoàn hảo cho kiểu con người lưu đày, vừa chối bỏ/đánh mất vừa truy tìm thân phận.

Lớn lên trong hoàn cảnh bị bỏ rơi, Văn bị đẩy dần về phía văn hóa Pháp dù bố anh vốn là người cổ xúy tiếng Việt, văn Việt. Văn nói tiếng Pháp cùng với mẹ, sành sỏi tập tục, văn học Pháp trong khi ù cạc ca dao, truyền thuyết Việt. Rời bỏ quê hương với nhiều ảo vọng, trong đó có cả ảo vọng vượt lên trước dân Pháp gốc khu La tinh – ham muốn tự khẳng định của Văn suy cho đến cùng chính là để che đi những mặc cảm về cội rễ trong những ngày tháng lưu vong. Mặc dù Lou không ngừng nhắc Văn “chớ bứt khỏi cội rễ, phải rũ bỏ lòng ngờ vực đồng hương và những người gốc Viễn Đông”, song Văn vẫn thích hơn những kẻ mất gốc hay những kẻ di cư vĩnh viễn đồng bào so với với những người cùng sắc tộc. Văn hòa nhập tốt đến mức “chỉ còn chất Á ở dung mạo và chất Việt ở danh xưng” và “không thuộc số người lưu vong mỏi mòn vì xa tổ quốc”. Không nói tiếng mẹ đẻ, tự xem mình “chẳng phải Việt cũng chẳng phải Pháp, mà luôn trong tình trạng lập lờ”, Văn thường nổi xung khi được hỏi về gốc gác. Văn “không phải gã nhập cư chỉ nhón tạm một chân ở Pháp và đang đau đáu đi tìm căn tính”, “băn khoăn về mình như về một cá nhân lạc lõng, chứ không như kẻ tha hương khắc khoải trông niềm vui tìm lại thiên đường đã mất, Việt Nam”. Có thể nói, “không day nhấn vào thân phận nhập cư của mình, mà gạch chéo trang lai lịch bản thân”, Văn đã tự “kéo màn khép lại tuổi thơ tại Việt Nam” cho đến khi nhận được thư của Ulma, biết mình có một người em cùng nguồn cội, bản thể khác của chính mình. Bằng khao khát tìm hiểu thân phận, Ulma đã giúp Văn biết thêm một phần đời khác của bố họ. Và bằng tất cả những mất mát về gia đình, Ulma cũng đã giúp Văn nhìn thấu bi kịch bị chối bỏ, dẫu anh cố tình quên lãng, như một cơ chế tự vệ, xoa dịu chấn thương. Thái độ và hành động quyết liệt tìm kiếm nguồn cội của Ulma đã làm sống dậy trong Văn cả một tuổi thơ cùng cố quốc vốn chỉ tạm đóng băng trong tiềm thức. Có thể xem Ulma là phần sáng của những góc tối trong Văn, buộc anh đối diện với bi kịch để mất, hóa ra cũng đau đớn như việc không có quê hương của cô, trước khi họ tìm thấy nhau để lấp đầy những khuyết thiếu.

Hấp lực Việt và hành trình truy tìm căn tính

Đề cập bi kịch con người xa xứ, Sóng ngầm gần với một chủ đề quen thuộc của văn học hải ngoại là cảm thức tha hương. Nhưng khác với các nhà văn Việt ở hải ngoại, Linda Lê không quá nhấn mạnh đến tâm thức lưu vong. Nhân vật của Linda Lê ý thức rõ về tình trạng “lơ lửng” của bản thân, không quá dằn vặt, đau đớn, dù trong thẳm sâu không thể từ bỏ, cũng như không thôi truy tìm căn tính Việt. Bi kịch của họ là bi kịch của “kẻ khác”, đối với cả quê hương lẫn nơi đang sinh sống.

  Văn cưới Lou, một nàng Bretagne thuần chủng, trắng bọc và “có chung một con bé nước da trắng nõn nà, mũi Hy Lạp, nhưng tóc lại đen như than còn mắt thì xếch”. Nhờ lấy Lou, Văn “không bị rơi vào cái bẫy co cụm cộng đồng, tiền định dành cho những kẻ vô xứ, khi họ phải chịu cảnh biệt lập”, song gốc gác lưu vong, bất chấp ý muốn của Văn đã hiển lộ rất rõ ở thế hệ F2, cô con gái Laure. Với mẹ của Lou, Văn là “khỉ của thế giới thứ ba”. Bà phản đối đám cưới, truất quyền thừa kế của Lou chỉ bởi không chấp nhận “có cái giống lai trong số con cháu của bà”. Văn, “da vàng, mặt nạ trắng”, dẫu không còn liên hệ với quê hương, vẫn không thể chối bỏ căn tính Việt, trước tiên là ở dấu hiệu hình thức.

Mặc dù từ chối nhớ đến cội rễ Á Đông, song Văn ý thức rõ sức hấp dẫn ít nhiều mang căn tính Việt của mình. Văn biết Lou ngả vào mình, thay vì những người đàn ông Pháp lịch lãm chỉ bởi anh là kẻ đến từ nơi khác, từ Việt Nam, châu Á. Lý giải sự hấp dẫn đến từ cái khác/kẻ khác, Laure cho rằng Lou chọn Văn “có thể vì ổng từng là kẻ lưu vong và hồi hai mươi tuổi làm từ thiện cho tổ chức Amnesty International”. Lou quan tâm đến vấn đề giải phóng thực dân, đến chiến dịch Điện Biên Phủ và biết rõ người Pháp đã thất bại trước người Việt như thế nào. Trong một chừng mực nhất định, chọn Văn là một hình thức chuộc tội của Lou (dù theo Laure, chẳng biết là tội gì, phải chăng là ác nghiệt của tổ tiên, của đám thực dân?).

Dường như, có sự lặp lại mang tính di truyền thế hệ về hấp lực Việt của Văn đối với cả Lou và Ulma. Trước Văn, bố anh đã khiến mẹ Ulma mê mệt, dẫu họ chỉ có một tuần cho cả gặp gỡ và yêu đương ở Pháp. Mẹ Ulma, vào cái lứa tuổi mười chín nông nổi đã dành trọn tình yêu cho bố Văn, một người đàn ông Việt Nam đã có vợ, trong một lần ông theo phái đoàn đến Pháp công cán. Vẻ đẹp của một chiến sĩ, một người lính “cụ Hồ” không chỉ khiến bà say mê mà còn tình nguyện đứng bên lề cuộc đời ông, suốt đời tôn sùng kể cả khi ông ruồng bỏ bà và Ulma, đứa con ngoài giá thú. Có thể nói, nhờ là biểu tượng của “cuộc đấu tranh của một dân tộc nhỏ bé anh hùng chống lại bá quyền của một quốc gia lớn vũ trang hùng hậu”, hình ảnh người bố của cả Văn lẫn Ulma đã không bị tầm thường hóa. Đây chính là ưu thế của cái khác, của căn tính Việt, từ cái nhìn bên ngoài xứ sở. Sự kiêu hãnh ngấm ngầm về sự khác biệt cũng chính là điểm tựa để Văn không trăn trở nhiều về thân phận lưu vong, xoa dịu bớt bi kịch bị ruồng bỏ, bi kịch không có/không còn tổ quốc của một kẻ nhập cư ở xứ người.

Cũng rơi vào tình thế lưỡng lự giống Văn, Ulma ở giữa Âu và Á, không hẳn thuộc về nơi này cũng chẳng thuộc về nơi kia, chông chênh giữa Việt Nam và Pháp. Ulma là “cái ngoại lai hẳn hoi”. Và “vốn tán thành sự pha trộn các dân tộc”, Văn lập tức bị Ulma thu hút, trước khi kịp nhận ra phần Việt Nam trong Ulma mới là thứ khiến anh tìm thấy chính mình và tìm lại được tổ quốc. Ulma là phần bổ sung để Văn nhìn sâu vào nội tâm và xác lập bản thể. Và nếu Văn chưa bao giờ thực sự nhớ quê, chưa bao giờ vượt biển tìm về quê cha đất tổ, bị/tự đồng hóa và an cư ở Pháp thì Ulma lại có ý thức tìm hiểu về bố, và về Việt Nam. Dù giữa Ulma và bố chỉ có một sợ dây níu rất mơ hồ, song dòng máu Việt trong cô vẫn thôi thúc cô truy tìm căn cước. Cô đến Sài Gòn, tìm về đồng bằng sông Cửu Long dù không biết để làm gì, tìm gì. Cô viết thư cho người anh trai cùng cha khác mẹ, tìm sợi dây nối hiếm hoi của mình với nguồn cội, dù đã đắn đo, chần chừ mất hai mươi năm. Và nhờ Ulma, “Việt Nam đã trở lại hùng hậu”, “thứ đã bị đẩy vào hậu cảnh nổi lên” ở trong Văn. Ulma đã làm sống dậy trong Văn những hồi tưởng về thành phố tuổi thơ khiến anh sẵn lòng “lưu vong lần nữa” nếu được sống và đi cùng cô đến bất kỳ đâu. Rõ ràng, ở Văn không có những đau đáu cội rễ nếu không nói là anh có xu hướng chối bỏ. Tuy vậy, trong thẳm sâu tâm hồn, việc hòa nhập nhưng không thể bắt rễ với xứ người, khiến Văn dễ dàng bị lôi kéo bởi Ulma, người em cùng nguồn cội. Và rồi người em “bản sao có quyền uy thần diệu”, người cũng mang dòng máu Việt Nam, đã khiến Văn tìm thấy chính mình, tìm thấy quê hương.

Như vậy, từ chỗ chối bỏ, nhờ Ulma, Văn đã xác lập được căn cước, tìm lại được quê hương. Bởi, cùng với sự đánh mất ngôn ngữ, quê nhà cũng bị mất dần trong Văn. Song sự thành đạt trong công việc gắn liền với ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ vẫn không thể nào khiến Văn thôi khát thèm được sống lại trong âm thanh thân thuộc, sinh động của tiếng Việt. Văn bộc bạch: “Tôi thấy ngọt ngào làm sao khi thốt “Yêu em” với Ulma bằng thứ tiếng ba mươi năm nay tôi không còn nói nữa”; “Yêu em, với kẻ luôn cảm thấy đang bị lưu đày như tôi, là tìm được cho mình một tổ quốc, không còn là kẻ ngoại cuộc chẳng đồng điệu với ai”. Văn và Ulma giống nhau khi “nói cùng ngôn ngữ, cùng không chắc mình có thuộc cộng đồng nào không, cùng quan tâm đến những thứ ra khỏi cái thông thường, đến những người sáng tạo bên lề…”. Nhờ Văn, Ulma cũng đã tìm được sợi dây gắn kết với nguồn cội, gốc gác. Sự tương đồng giữa Văn và Ulma không chỉ là chuyện cùng cha khác mẹ mà còn là bởi từ trong sâu thẳm họ là kẻ ngoại cuộc, không biết xứ nào là quê hương. Đó cũng là lý do Văn đồng cảm, yêu mê muội Ulma, xem cô như một một mặt khác của chính mình, và Ulma, đã bất chấp tội lỗi loạn luân và mặc cảm của kẻ thứ ba. Vị thế lập lờ, “luôn chìa ra chơi vơi, mãi băn khoăn về chỗ của mình giữa người đời” là cội nguồn cho những loay hoay truy tìm căn tính của họ.

Như một chủ ý, các nhân vật trong tiểu thuyết của Linda Lê luôn được lý giải từ căn tính Việt, như chính nhà văn tâm sự, từ những truy vấn cội rễ của bản thân: “Những gì còn lại từ phương Đông trong tôi, đó là sự gắn bó với những người quá cố, cảm nhận rằng những người quá cố vẫn tiếp tục sống trong ta. Dù tôi không khép mình vào những nghi lễ, như tục thờ cúng tổ tiên v.v…, tôi vẫn luôn cảm thấy những người đã mất vẫn tiếp tục sống một cách mạnh mẽ, và họ đang dẫn dắt tôi. Tôi mong muốn tưởng niệm họ, bằng cách này hay cách khác”. Xác lập, truy tìm căn tính Việt trở thành một chủ đề có tính thống nhất, lặp lại trong các tác phẩm của nhà văn Pháp gốc Việt này. Đặt trong bối cảnh văn chương không biên giới thời toàn cầu hóa, Sóng ngầm tiêu biểu cho kiểu tiểu thuyết không chỉ thuộc về một quốc gia với tính đa văn hóa và liên văn hóa nổi bật. Sóng ngầm trước hết là những độc thoại và đối thoại triền miên giữa các nhân vật bởi những bất đồng về quan niệm, sở thích, bởi những xung đột thế hệ và bởi cả những đồng điệu trong tâm hồn, thể xác. Song quan trọng hơn, Sóng ngầm chính là những xung đột, đối thoại về văn hóa, lịch sử, về quá khứ – hiện tại, về dân tộc – quốc gia qua những thân phận lưu đày/ bị mất quê hương… Giữa những đối thoại ấy, căn tính Việt được hiện rõ, dẫu nhân vật, tác giả có cố tình che dấu, bị hay tự chối bỏ trong hành trình vượt qua chấn thương, hướng đến các giá trị chung mang tầm nhân loại. Có thể nói, với Sóng ngầm, Linda Lê đã đạt được ước mơ “tạo nên một cái gì đó mang tính quốc tế trong văn học”, “tạo ra những tư tưởng liên kết các nhà văn và độc giả các nền văn hóa”. Bởi là nhà văn Pháp, song viết như một người nước ngoài đến Pháp, chị và nhiều nhân vật của chị là người lưu vong. Song lưu vong mà tính Việt luôn hiện hữu; và Sóng ngầm là một minh chứng.

 

——-

(*): Linda Lê (1963) là một trong những nữ nhà văn nổi bật tại Pháp hiện nay. Bà sinh tại Đà Lạt, sang Pháp khi 14 tuổi cùng mẹ. Được biết tới tại Pháp năm 1992 với tập truyện Phúc âm tội ác, sau đó, những tác phẩm khác của bà luôn được đón nhận: Vu khống, Lời tên khùng, Ba nữ thần số mệnh, Tiếng nói, Thư chết, Lại chơi với lửa… Linda Lê còn là một nhà viết tiểu luận, phê bình văn chương tại Pháp. Tiểu thuyết Sóng ngầm là một trong bốn tác phẩm vào chung khảo giải Goncourt 2012. (Theo “Linda Lê: Đọc, viết và lắng nghe thế giới”, Thu Hiền, zingnews.vn).

Thái Phan Vàng Anh