Hành trình theo Nhật ký Vũ Xuân: Tôi xin kể tiếp

37

VNTN – Vũ Thành – em trai liệt sĩ Vũ Xuân và Đại tá Hoàng Sáu – Phó Giám đốc Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân mời tôi đến và bảo: “Cuốn Nhật ký Vũ Xuân xuất bản đã tròn 15 năm. Có bao nhiêu sự kiện diễn ra sau khi cuốn nhật ký ra đời, đặc biệt là các bài báo và nội dung bộ phim ký sự tài liệu 10 tập “Hành trình theo nhật ký Vũ Xuân” do các anh thực hiện, nay nhân 46 năm ngày anh Xuân hy sinh (13/5/1974 – 13/5/2020), chúng tôi muốn tái bản, bổ sung phục vụ bạn đọc…”. Tôi vui mừng quá đỗi…
Với trách nhiệm của một nhà báo, tôi thấy mình nên kể tiếp câu chuyện về liệt sĩ Vũ Xuân và cuốn nhật ký chiến tranh anh để lại. Về hành trình 10 năm đồng đội, người thân và các nhà báo bền bỉ đi tìm danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân cho anh Xuân… 

Năm 2005 trở về đây, công chúng được biết tới một cuốn nhật ký chiến tranh đặc sắc mà người viết nó là một cán bộ quân đội từng trải – Vũ Xuân, Chính trị viên Tiểu đoàn 2311 thuộc Đoàn 6 pháo binh Quân giải phóng Miền Nam. Cuốn nhật ký được phát hành sau hai cuốn nhật ký của Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thùy Trâm, nhưng do là nhật ký của một sĩ quan chính trị nên cuốn hút bởi tính tư tưởng, chính trị và hoài bão của tuổi trẻ cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc – giai đoạn đánh và thắng Mỹ. Cuốn nhật ký còn làm thổn thức và lay động tình cảm của nhiều người khi những người làm báo Thái Nguyên, kể lại bằng loạt bài báo tuyên truyền đậm nét và bộ phim tài liệu khởi đầu 8 tập (tập 1 – Năm 1963; tập 2 – Tiền tuyến gọi; tập 3 – Miền đất lửa; tập 4 – Phía Tây Trường Sơn; tập 5 – Trên đất nước Ăng-Co; tập 6 – Sông nước Cửu Long nơi anh ngã xuống; tập 7- Nghĩa tình người ở lại ; tập 8- Quê hương nghĩa nặng tình sâu), theo sát hành trình 11 năm hành quân và chiến đấu mà cuốn nhật ký đã lưu bút, đồng thời qua đây kể lại những năm tháng gian khổ, hy sinh lớn lao mà vô cùng anh hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta.

Nhật ký Vũ Xuân được bổ sung và tái bản tháng 4.2020.

Phim kể lại rằng: Ngày 3/7/1963, từ mái trường Cấp 3 Lương Ngọc Quyến, chàng trai Vũ Xuân lên đường nhập ngũ, để lại tất cả kỷ niệm tuổi thơ, hoài bão và cả những rung động đầu đời. Thế hệ các anh lên đường với mục đích cao cả, Vũ Xuân viết trong nhật ký: “Bàn giao nguyên vẹn giang sơn Việt Nam cho thế hệ tương lai là trách nhiệm của chúng mình, của thế hệ thanh niên đang sống và chiến đấu chống Mỹ này…”. 11 năm trời, Vũ Xuân có 3 lần hành quân chiến đấu trên đất nước Việt Nam, nước bạn Lào và Campuchia: Từ Thái Nguyên – Sơn Tây – Hà Tĩnh – Quảng Bình – Quảng Trị – vượt Trường Sơn – Xa Va Na Khẹt, Hủa Phăn (Lào); StungTreng Carachie – Công Pông Chàm – Công Pông Chnăng – Căm Pốt – Tà Keo (Cam pu chia); Hà Tiên – U Minh thượng – U Minh hạ – Cà Mau, Gò Quao (Việt Nam)… Nhật ký để lại những trang viết, những câu nói đầy xúc động, như là phương châm sống cho các thế hệ người Việt Nam “Tôi muốn một câu nói được vang lên bên tai thế hệ sau là: Đừng làm hoen ố máu của những người đi trước”.
Cuốn nhật ký, các bài báo và bộ phim đã tạo hiệu ứng rất mạnh trong đời sống xã hội. Hàng chục cuộc hội thảo được tổ chức; Quỹ học bổng mang tên Vũ Xuân ra đời; Hàng nghìn bộ đĩa phim được phát hành phục vụ ngoại khóa của các trường học… Cũng từ đó, nhiều người đặt ra những câu hỏi mới, rằng vì sao Chính trị viên Tiểu đoàn 2311 Vũ Xuân chiến đấu anh dũng, hy sinh lẫm liệt như vậy mà chưa được công nhận Anh hùng? Qua phim thấy vai trò của đồng đội anh Xuân, là anh Đỗ Hà Thái mà hình ảnh, việc làm còn đó, đã có tổ chức nào ghi nhận chưa? Có đúng là địa phương (phường Hoàng Văn Thụ, TP Thái Nguyên) lúc đầu đã chưa giúp đỡ để việc đưa hài cốt anh Xuân về quê được chu tất? Có đúng trái tim liệt sĩ vẫn còn nguyên vẹn sau 6 năm nằm dưới đất mẹ?…
***
Vũ Xuân (tên thật là Vũ Văn Xuân hay còn gọi là Tư Xuân, Huế Xuân – cách gọi thân mật của đồng bào đồng bằng sông Cửu Long) sinh ngày 24/6/1946 tại Tiểu khu Hoàng Văn Thụ, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, tuổi thơ nhọc nhằn, lam lũ và nghèo khó. Học hết cấp 3, Vũ Xuân lên đường nhập ngũ. Những miền đất anh qua, những con người anh gặp, những trải nghiệm trên đất bạn Lào, Campuchia, những trận chiến khốc liệt, nỗi nhớ quê hương, người thân, những suy nghĩ về cuộc chiến đấu chính nghĩa của cả dân tộc, triết lý về lý tưởng sống của thanh niên, vv… được anh ghi chép tỉ mỉ vào nhật ký và luôn nằm trong ba lô cho đến ngày anh hy sinh. Vũ Xuân viết: “Nam tiến lần thứ 3 này chặng đường sẽ rất gian truân”, “Đời anh lính không có gian khổ nào giống gian khổ nào thật. Lần mò trong rừng đêm gần 3 tiếng đồng hồ, dừng nghỉ thì không an toàn, mà đi thì vai đeo ba lô 30 kg leo đèo, lội suối, lần rừng…”. Chiến trường T3 (mật danh vùng U Minh Thượng, U Minh Hạ). Những đêm trăng Đồng Tháp Mười, mắc võng giữa rừng tràm, xa quê, nhớ mẹ… Những mùa mưa dai dẳng mấy tháng trời vùng U Minh Thượng, chịu vây ráp, đói khát dễ hơn là chịu nỗi nhớ quê, nhớ mẹ. Họ hẹn với nhau rằng khi không được trở về bằng người trần mắt thịt hãy giúp nhau yên nghỉ bên mẹ, bên quê… Thế rồi… Đồn Kênh 2 thuộc xã Vĩnh Thắng huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang ở vào vị trí rất trống trải lại sát bờ kênh nên quân ta khó tiếp cận. Cấp trên biết rõ khó khăn này song vẫn hạ quyết tâm phải nhổ bằng được để mở thông con đường tiếp tế trên sông của ta tại ngã ba Di Hạng. Đêm đó anh Xuân cùng tiểu đoàn trưởng Đinh Huy Tỵ chỉ huy cùng bộ đội vượt kênh ém sát đồn. Anh Tỵ sau này kể lại với tôi: “Yếu tố bất ngờ không còn, chúng tôi vượt kênh vô cùng khó khăn, chúng tôi đã phải bắn tới 20 quả đạn cối 120 ly mà chưa tiêu diệt được đồn giặc. Tang tảng sáng, chúng tôi nổ súng tiêu diệt 2 lô cốt, lô cốt cuối cùng vẫn ngoan cố chống cự. Đây có thể nói là trận đánh khó khăn, ác liệt và cực kỳ anh dũng nhưng cũng tổn thất nhiều của đơn vị. Căm thù dồn nén vì nhiều đồng đội hy sinh, anh Xuân vùng dậy ôm B40 bắn liên tục 4 quả vào lô cốt địch, rồi lại dùng AK bắn tiếp. Một loạt đạn từ lô cốt, anh Xuân ngã xuống, hôm đó là ngày 13/5/1974…”. Nhật ký của anh Xuân có nhiều câu linh cảm… “Con thương mẹ nhiều lắm mẹ của con ơi! Mẹ mong, mẹ chờ thằng con trai của mẹ trở về. Bố ơi! chắc bố cũng nghĩ rằng, nếu chết con sẽ chết cho lẫm liệt phải không bố”…
***
Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy mọi sự đều có cơ duyên, riêng việc này, với tôi như là một thứ nợ nghiệp, nợ nghề. Năm 1983, tôi từ Thông tấn xã Việt Nam chuyển về làm phóng viên tờ báo của Đảng bộ tỉnh. Gần nhà có bác Nguyễn Vũ, bộ đội chuyển ngành về Trường Đại học Y Việt Bắc. Một hôm bác Vũ bảo tôi: “Nhà báo phải viết ngay, họ (ý nói lãnh đạo phường) xử thế tệ quá. Một sĩ quan quân đội hy sinh tại chiến trường, đã được một đồng đội (chỉ anh Đỗ Hà Thái) chuyển hài cốt về quê mẹ. Vậy mà chính quyền cứng nhắc, hoạnh họe đủ kiểu, mãi nửa tháng sau mới chịu cho đưa vào nghĩa trang liệt sĩ… Tội nghiệp liệt sĩ quá. Cựu chiến binh rồi nhân dân tiểu khu đấu tranh mãi mới được”. Tôi lãng đãng nghe, rồi câu chuyện máy móc vô cảm của chính quyền phường cũng quên đi lúc nào… Năm 1998, với tư cách Phó Tổng biên tập Báo Thái Nguyên, tôi đưa anh em cơ quan vào họp tại Cần Thơ, trong bữa ăn tối tại Ninh Kiều, mấy sĩ quan Quân khu 9 nghe có đoàn Báo Thái Nguyên bèn tới mời rượu, một đồng chí tên Thắng nói: “Thái Nguyên có Liệt sĩ Vũ Xuân, hy sinh anh dũng lắm. Anh lại có bạn chiến đấu một mình đưa hài cốt về quê. Tôi cảm ơn anh Thắng, rồi nói với anh em, đây là đề tài báo chí hay… Rồi một lần nữa, câu chuyện lại trôi theo thời gian… Cho đến một sáng tháng 5 của năm 2006, một người bạn trao cho tôi cuốn Nhật ký Vũ Xuân do Nhà xuất bản QĐND vừa in… Đọc xong lời giới thiệu, tôi thốt lên, nợ nghề nghiệp là đây!

 

Ngày 29/4/2015 chúng tôi về Kênh 2 huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang thắp hương báo cáo anh Xuân rằng anh đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT.

Và rồi, mọi việc như độc giả đã biết. Chúng tôi được giải báo chí quốc gia cho loạt bài tuyên truyền về cuốn nhật ký. Nhưng sự việc chưa dừng ở đấy. Sự hy sinh lẫm liệt của anh Xuân, thành tích to lớn của Đoàn 6 pháo binh và Tiểu đoàn 2311, ý kiến ghi nhận công lao của Tư lệnh Quân khu 9 – Trung tướng Trần Phi Hổ, cùng nỗi canh cánh của nhiều người: sao Đoàn pháo binh, sao Vũ Xuân lại chưa được phong tặng Anh hùng? Anh Đỗ Hà Thái bảo tôi: Vậy là chúng ta còn phải đi! Còn tôi – tác giả chính của bộ phim lại nung nấu: bộ phim còn phải tiếp vài tập…
Anh Đỗ Hà Thái quê gốc Bắc Giang, vợ con ở Hậu Giang, sống ở Cần Thơ vậy mà cứ ra vào liên tục, lúc tìm đồng đội, xin tư liệu, chữ ký, lúc tham dự hội thảo, tọa đàm… Còn tôi cũng tới 3 lần đi gặp anh Phan Tiếp Yến, Đại đội trưởng Đại đội 3 (lúc đó anh Xuân là chính trị viên đại đội) ở Rạch Giá; gặp anh Tỵ ở Ninh Bình, anh Thịnh ở Thanh Hóa, tướng nghỉ hưu Tư Niên ở Trà Nóc (Cần Thơ); làm việc với các anh Phạm Ngọc Soa, Phạm Xuân Thọ, Trịnh Văn Khắp ở Đoàn 6 pháo binh, các cơ quan của Quân khu để có thêm tiếng nói…

Khi khai thác tư liệu tại Đoàn 6 pháo binh, chúng tôi choáng ngợp: Thành lập năm 1963, tính đến ngày giải phóng 1975, đơn vị đã đánh 3.791 trận lớn, nhỏ; tiêu diệt 23.959 tên địch (trong đó có 922 tên Mỹ), bắn rơi 1.796 máy bay, phá hủy 319 khẩu pháo… Vậy mà cho đến thời điểm ấy chỉ có đồng chí Phan Công Nam (từ đơn vị khác chuyển về là Anh hùng LLVT)…
Rồi công lao nào cũng được đền đáp. Ngày 29/4/2005, tôi và anh Đỗ Hà Thái được Đoàn 6 pháo binh mời về TP Long Xuyên tỉnh An Giang dự lễ Truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT cho liệt sĩ Vũ Xuân… Vậy là sau 41 năm anh Xuân hy sinh, và gần 10 năm cuốn nhật ký được công bố, niềm vui đã đến khá trọn vẹn. Anh Đỗ Hà Thái chuyển lại cho gia đình những kỷ vật cuối cùng của anh Xuân. Tôi hiểu, đến lúc này anh đã thực hiện trọn vẹn lời thề thứ 7 – lời thề đồng đội… Ngồi dưới khán đài nhìn lên, tôi bắt gặp nụ cười mãn nguyện của anh Đỗ Hà Thái, trào nước mắt khi thấy anh gầy nhiều sau những ngày đi lại vất vả… Gặp lại vị tướng già Trần Văn Niên (Tư Niên) – một chỉ huy can trường thời chống Mỹ, tôi đem trăn trở của tôi và nhiều người hỏi ông… Mắt vị tướng già ngấn lệ “Chúng tôi luôn trong bưng biền, động viên nhau chiến đấu giỏi mà không mảy may nghĩ tới tôn vinh cho anh em, cho đơn vị”. Thoáng nhìn chiếc máy quay phim, ông nói tiếp: “Tôi đã coi phim Hành trình theo nhật ký Vũ Xuân rồi, cảm động lắm. Mọi người cũng biết về Đoàn 6. Chúng tôi thật hạnh phúc”.
Và sau khi dự Lễ kỷ niệm 40 năm Thống nhất đất nước tại TP Hồ Chí Minh về, 2 tập tiếp theo của bộ phim cũng được chúng tôi hoàn thành trong niềm vui khôn tả…
Câu chuyện là thế. Có gì kể được tôi đã kể. Còn những câu chuyện ly kỳ như trái tim của anh Xuân sau 6 năm nằm trong sông nước Cửu Long, khi cất bốc còn ấm nóng; chuyến bay TU104 từ Tân Sơn Nhất ra Hà Nội có bí mật mang theo ba lô hài cốt anh Xuân không thể hạ cánh mà phải bay trở về theo hành trình các anh đã hành quân…, xin được dành kể kỹ vào dịp khác. Còn chuyện cư xử ở phường, suy cho cùng cũng chỉ là việc chấp hành chính sách cứng nhắc. Có điều, tiện dịp, xin có đôi lời về những đồng nghiệp yêu quý của tôi… Nhật ký Vũ Xuân đã truyền cảm hứng và duyên nghề cho họ. Từ những cây viết thông tấn thường ngày, khi viết lời bình, họ bỗng đưa ra những câu văn sắc sảo, triết lý sâu lắng. Minh Hằng được phân công viết lời bình tập 1 và tập 5 nghe lời văn đến thuộc không chán. Nguyễn Ngọc Sơn sinh ra sau 1975, vậy mà viết lời bình tập 3 mô tả trận chiến Quảng Trị như đã từng ở đó. Thúy Hằng, Liêu Chiến, Vũ Liêu, trong các tập 2, 4, 8… lời văn mặn mà, xúc cảm. Những phóng viên báo Đảng cầm máy quay: Thế Hà, Hoàng Hưng, Anh Tuấn cũng có tư duy mạch lạc của báo hình. Lệ Hằng, Tố Hương, Quốc Cường (Đài PTTH) thể hiện tập 9, 10 hòa đồng đến mức người xem không thể phân biệt khoảng cách ngót 10 năm… Rồi Ngô Thu Hường và các tác giả đoạt giải quốc gia năm ấy đã tình nguyện tặng tiền giải cho Quỹ khuyến học Vũ Xuân… Những điều ấy khiến tôi không thể quên. Và con một người tôi muốn nhắc đến, đó là cố nghệ sĩ ưu tú, nhà báo Trần Đức, đã thể hiện xuất sắc lời bình và chính ông đã giới thiệu để VTV1 phát sóng bộ phim tới 7 lần. Nhắc đến ông, như một lời thành kính tri ân.

Ký. HỮU MINH