Nhà văn chịu ảnh hưởng từ ai?

48

VNTN – “Nhà văn chịu ảnh hưởng từ ai?”. Có lẽ câu hỏi này quá tế nhị và nhiều người không muốn trả lời. Nhưng có đúng là người viết không chịu ảnh hưởng từ ai đó và điều ấy đáng xấu hổ khi phải né tránh câu hỏi này?
Thực tế là bất cứ ai khi viết cũng chịu ảnh hưởng của một người hay nhiều người, dù anh ta có công nhận hay không. Tôi đã nhiều lần tra cứu trang từ điển mở Wikipedia để tìm tư liệu. Trong những dòng tiểu sử và giới thiệu về các nhà văn, thường có một mục là chịu ảnh hưởng của ai, và ảnh hưởng đến ai. Thôi thì hãy làm một ví dụ với một nhân vật được coi là một trong những đại biểu ưu tú nhất của văn học Mỹ Latinh: J. Borges.
Trong từ điển mở Wikipedia ghi rằng J. Borges ảnh hưởng bởi Kierkegaard, Jammes Joyce, Franz Kafka… và đến lượt J. Borges ảnh hưởng tới Carlos Fuentes, Paul Auster, Umberto Eco, Orhan Pamuk… Tôi nghĩ danh sách này còn tiếp tục. Những “học trò” của J. Borges tiếp tục ảnh hưởng tới thế hệ khác và quá trình này sẽ không bao giờ ngừng nghỉ.
Ở văn học tiếng Việt tôi chắc chắn rằng Trần Vũ chịu ảnh hưởng bởi Nguyễn Tuân bởi những câu văn hoa mĩ, từ ngữ cầu kỳ và dụng công. Và đến lượt Trần Vũ tác động đến người khác. Không khó để nhận ra những người trẻ như Đỗ Hoàng Diệu, Đinh Phương… có sự gần gũi với Trần Vũ trong những truyện ngắn có hơi hướng lịch sử hoặc huyền thoại. Hoặc từ bậc thầy thơ trào phúng Tú Xương đã có những “hậu duệ” như Tú Mỡ, Cử Nạc, Bút Tre…

 

Trong quá trình viết, sự ảnh hưởng bởi một ai đó hoặc một trào lưu văn học nhất định là điều không tránh khỏi. Bất cứ nghề nào cũng có một ông tổ nghề và quá trình ảnh hưởng từ người khởi nguồn, trực tiếp hay gián tiếp là rất tự nhiên. Vấn đề là sự ảnh hưởng này mờ nhạt, thoang thoảng hay đậm đặc. Một vài người bảo rằng một số đoạn đối thoại trong tiểu thuyết “Sương mù tháng Giêng” của tôi khá dài dòng và tôi không giấu rằng, những đoạn đó tôi chịu ảnh hưởng bởi Dostoievsky vì có một thời tôi đã rất thích ông.
Chính cái từ “một thời” này sẽ mở ra một ý mới. Tại sao lại là “một thời” mà không phải “vĩnh viễn”. Vì quá trình trưởng thành của nhà văn, từ lúc sơ khởi khi đến độ chín, nhận thức của anh ta sẽ thay đổi rất nhiều. Có thể giai đoạn đầu anh ta chịu ảnh hưởng bởi một người hay một trào lưu nào đó nhưng đến một giai đoạn khác, anh ta có thể chịu tác động bởi những nhân tố khác. Ở Việt Nam, có hai mốc lịch sử tiêu biểu ảnh hưởng tới văn học là năm 1945 và 1986. Nhiều người viết đã có những thay đổi đáng kể từ hai mốc lịch sử này: từ nhận thức, cảm quan, phong cách nghệ thuật. Sự ảnh hưởng bởi một cá nhân nào đó đối với người viết cũng vậy, ban đầu ảnh hưởng có thể rất lớn, sau mờ nhạt đi hoặc ngược lại.
Nhưng vì sao chúng ta chịu ảnh hưởng? Chẳng phải viết văn là hoàn toàn do trí tưởng tượng sao? Không phải. Sự tưởng tượng ở đây là dựa trên những cái nền có sẵn. Viết là một quá trình tích lũy kinh nghiệm lâu dài, nhất là với văn xuôi, nên ta thường hiếm thấy thần đồng hoặc không tồn tại thần đồng trong lĩnh vực này. Sự viết đòi hỏi quá trình suy nghĩ, trải nghiệm và nhất là nuôi dưỡng cảm xúc cùng với việc học tập. Sự ảnh hưởng này ngấm ngầm, từ từ, có khi người viết không ý thức về nó và khi viết, những kinh nghiệm học được, trí nhớ, tiềm thức, trải nghiệm, tất cả bật ra thành chữ…
Khi nhà văn viết thì thế giới xung quanh anh ta định hình từ lâu lắm rồi. Có sẵn những nhân vật đầy ảnh hưởng, trực tiếp hoặc gián tiếp phủ bóng trên con đường của anh ta. Không những ảnh hưởng bởi những người cùng nghề, những bậc tiên phong mà người viết có thể bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh, hoàn cảnh gia đình, người thân, bạn bè, lịch sử, môi trường làm việc, thậm chí cả thiên nhiên. Người em trai của nhà văn Patrick Modiano, nhà văn Pháp đoạt giải Nobel 2014, chết rất trẻ và điều này đã ảnh hưởng lớn đến những tác phẩm của ông với những trang viết u buồn, có xu hướng đi tìm lại quá khứ đã mất. Nam Cao khi viết những tác phẩm của mình chịu tác động rất lớn bởi chính công việc của mình. Xa hơn nữa, chính Gogol đã công nhận rằng ông đã chịu ảnh hưởng rất lớn từ Puskin và cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Gogol là “Những linh hồn chết” vốn là một cốt truyện mà Puskin đã “tặng” cho. Đến ngay cả Gớt cũng từng viết rằng, Spinoza, nhà triết học người Hà Lan đã ảnh hưởng đến toàn bộ sự nghiệp của ông. Nhà văn Pháp André Gide từng là niềm cảm hứng rất lớn đến văn học lãng mạn Việt Nam thời kỳ trước 1945. Cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng của Khái Hưng là “Tiêu sơn tráng sĩ” có nét tương đồng với các tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc như “Tam quốc”, “Thủy hử” và cả “Ba chàng ngự lâm pháo thủ” của Alexandre Dumas…
Tất nhiên nhà văn có thể tạo ra một thế giới hoàn toàn mới, chưa từng tồn tại. Nhưng ngay cả cái thế giới dường như mới tinh của anh ta, nguồn cội đã có thể tồn tại từ gen di truyền, vô thức tập thể, ngôn ngữ và những câu chuyện dân gian. Rất nhiều tác giả đã công nhận rằng những lời ru, lời kể của mẹ, bài học ở trường, kỷ niệm ấu thơ, đã tác động nhiều đến sự viết. Người ta không thể tạo ra một thế giới khác biệt hoàn toàn mà không dính dáng đến bất cứ ai. Sự sáng tạo luôn có tính kế thừa và anh ta lớn lên từ một lịch sử bằng sợi dây rốn với gia đình và những kinh nghiệm, kiến thức tích lũy từ việc lao động, học và thực hành nghề. Tôi rất thích bức tượng đồng của Kafka đặt ở thủ đô Praha, nước Séc, bức tượng tạc Kafka ngồi trên lưng một người khổng lồ. “Kafka ngồi trên lưng một người khổng lồ”, hãy nhắc lại câu ấy lần nữa và sẽ thấy ý nghĩa của nó. Sự vĩ đại của Kafka một phần ông đã thừa hưởng những tinh hoa của người đi trước và rồi đến lượt Kafka lại tỏa bóng xuống các thế hệ sau ông.
Shakespeare sử dụng câu chuyện dân gian về một hoàng tử Đan Mạch để viết “Hamlet”. Nguyễn Du cũng sử dụng cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để viết thành “Truyện Kiều.” Đó là những ví dụ tiêu biểu về sự kế thừa, phát triển. Ta đặt một giả thuyết, nếu không có câu chuyện dân gian Đan Mạch hoặc không có câu chuyện của Thanh Tâm Tài Nhân thì những kiệt tác kể trên có được ra đời?
Ở những ví dụ phổ biến hơn, nhà văn thường chịu tác động bởi tư tưởng, phong cách, cảm hứng về một giai đoạn hoặc một thời kỳ nào đó. Nhờ những người tiên phong như J. Fulro, Borges mà sau này có một dòng văn học huyền ảo đầy chất Mỹ Latinh với những nhân vật như Márquez. Nếu không có những bậc thầy đi trước và những ảnh hưởng lớn lao của họ, liệu sẽ có “Trăm năm cô đơn”? Và chính Márquez đã thú nhận rằng, để viết được “Trăm năm cô đơn”, ông đã học từ Franz Kafka. Và theo suy đoán của tôi, có lẽ từ truyện ngắn “Hóa thân” của Franz Kafka khi một anh chàng một ngày thức dậy bỗng thấy mình biến thành côn trùng mà Márquez đã dám cho nhân vật của mình mọc đuôi, bay lên được. Carlos Fuentes thậm chí nói rằng các nhà văn Mỹ Latinh viết chung một cuốn tiểu thuyết: “Márquez viết chương về Colombia, Carpentier viết chương về Cuba, Cortázar viết chương về Argentina”. Lời nói của Carlos Fuentes rõ ràng không phải là lời nói đùa, nó là sự giao thoa móc xích với nhau của các nhà văn sống chung một nền văn hóa và ngôn ngữ, chịu dư chấn và tác động qua lại và điều đặc biệt là họ gần như xuất hiện và thành danh cùng một thời kỳ.
Ảnh hưởng không có gì xấu và cũng không ngại phải đề cập đến nó. Bất cứ quá trình sáng tạo nào cũng cần những điểm tựa nền tảng và những thành tựu có trước đó. Sở dĩ chúng ta giống với tổ tiên bởi chúng ta được di truyền và được truyền dạy về lịch sử. Sự sáng tạo càng lớn cùng với sự kế thừa những tinh túy thì thành quả nghệ thuật càng có giá trị và có sức ảnh hưởng dài lâu.

UÔNG TRIỀU