Những hồn ma ở hồ

63

Truyện ngắn. ILSE AICHINGER (Áo)

Suốt mùa hè người ta ít để ý đến những hồn ma hoặc coi chúng như mình, và ai rời bỏ hồ cùng với mùa hè thì sẽ không bao giờ nhận ra chúng. Mãi đến gần mùa thu chúng mới bắt đầu khác biệt rõ rệt hơn. Ai sau đó đến hồ hoặc ở lại hồ lâu hơn, ai cuối cùng không còn biết liệu mình đã hay vẫn còn ở trong số những hồn ma thì sẽ nhận ra chúng. Vì chính trong đầu mùa thu, có những ngày trong đó ranh giới của sự giao mùa một lần nữa trở nên rất rõ ràng.

* * *

Khi ấy, người đàn ông ngay trước đó muốn cập bến không thể tắt động cơ chiếc xuồng của mình được nữa. Thoạt tiên anh ta nghĩ, đó vẫn không phải là rủi ro và may mắn là cái hồ rộng, anh quay đầu và đi trở lại từ bờ Đông sang bờ Tây, nơi những quả núi dốc ngược lên và có những khách sạn lớn. Đó là một buổi chiều đẹp trời, và các con của người đàn ông đang vẫy anh từ cầu tầu, nhưng anh vẫn không thể tắt động cơ, anh cũng làm như thể anh không muốn cập bến, và lại đi trở lại bờ Đông.
Tại đây – giữa những chiếc thuyền buồm, các bờ và những con thiên nga đã đánh bạo bơi ra xa và cách xa nhau – lần đầu tiên mồ hôi rịn ra từ các lỗ chân lông của anh bởi ráng hồng mà mặt trời đang lặn hắt vào bờ Đông, vì anh vẫn chưa thể tắt mô tơ chiếc xuồng của mình. Anh vui vẻ gọi to những người bạn của mình đang ngồi uống cà phê trên sân thượng của một khách sạn rằng anh còn muốn đi xuồng tiếp một lúc nữa, và họ vui vẻ gọi lại là anh cứ việc đi tiếp.
Khi lần thứ ba lái xuồng vòng lại anh gọi, anh chỉ muốn đón các con của mình, sau đó anh lại gọi các bạn, anh chỉ muốn đón những người bạn của anh. Một lúc sau những người bạn và các con anh ở cả hai bờ đều biến mất, và khi lần thứ tư anh vòng lại anh không gọi gì nữa.
Anh đã phát hiện ra là thùng xăng chiếc xuồng của anh bị rò, xăng đã chảy hết từ lâu, nhưng nước hồ tiếp tục làm cho động cơ chiếc xuồng của anh chạy. Giờ đây anh không còn nghĩ đó vẫn không phải là rủi ro và may mắn là cái hồ rộng nữa. Chiếc tàu thủy cuối cùng cập bến đi ngang qua, và mọi người nháo nhác gọi anh, nhưng anh không trả lời, bây giờ anh nghĩ: “Giá như không có tàu cập bến nữa!”. Và sau đó cũng không có chiếc tàu nào cập bến nữa. Những chiếc thuyền buồm nằm trong các vũng với những cánh buồm được hạ xuống, và mặt hồ phản chiếu ánh đèn của các khách sạn.
Màn sương mù dày đặc bắt đầu xuất hiện, người đàn ông đi xuồng ngang dọc và sau đó đi dọc theo các bờ, ở đâu đó còn một cô gái đang bơi và làm gợn sóng vỗ vào chiếc xuồng của anh và cũng đi vào bờ.
Nhưng anh không thể bịt kín thùng xăng bị rò lại trong khi đang lái xuồng và vẫn cứ tiếp tục đi. Giờ đây chỉ ý nghĩ “nhất định một ngày nào đó thùng xăng chiếc xuồng của anh sẽ làm cạn hồ” làm anh an tâm, và anh nghĩ đó là một cách thức kỳ quặc: hút cạn hồ và cuối cùng ngồi với cái xuồng của mình trên một chỗ khô ráo. Một lát sau trời bắt đầu mưa, và anh cũng không tính đến việc đó nữa. Khi anh ta lại đi ngang qua ngôi nhà của cô gái đã tắm trước đó anh nhận thấy là phía sau một cửa sổ còn ánh sáng, nhưng mà ở phía trên bờ, bên trong những cửa sổ, đằng sau chúng, các con của anh đang ngủ, đã tối đen, và ngay sau đó, khi anh lại quay trở lại thì cô gái cũng đã tắt đèn của mình. Mưa giảm bớt, nhưng bây giờ điều đó không an ủi anh nữa.
Vào sáng hôm sau bạn bè anh, những người đang ngồi ăn sáng trên sân thượng, lấy làm lạ là sớm như thế mà anh đã ở trên mặt hồ. Anh vui vẻ gọi to họ, mùa hè sắp kết thúc, người ta cần phải tận dụng nó, và anh cũng nói như thế với những đứa con của mình vào sáng sớm đã đứng trên cầu tàu. Và vào sáng tiếp theo chúng muốn cử một đội cứu hộ tới giải cứu anh thì anh phẩy tay từ chối, vì giờ đây anh lại không thể cho phép một đội cứu hộ giải cứu mình nữa sau khi anh đã vin vào cớ suốt hai ngày trời về sự vui vẻ của việc anh đi xuồng trên hồ; như thế trước hết không vì cô gái mà hàng ngày gần đến chiều tối tắm, đợi những gợn sóng vỗ vào xuồng của anh. Sang ngày thứ tư anh bắt đầu sợ người ta có thể chế nhạo anh, nhưng anh được an ủi khi nghĩ điều đó rồi cũng qua đi. Và điều đó đang trôi qua.
Bạn bè của anh rời khỏi hồ khi trời trở lạnh, và bọn trẻ cũng trở về thành phố, bắt đầu đi học. Tiếng động cơ của các loại xe ô tô từ đường ven hồ giảm bớt, giờ đây chỉ còn tiếng động cơ chiếc xuồng của anh đang lướt trên mặt hồ. Màn sương mù giữa rừng và dãy núi hàng ngày trở nên dày đặc hơn, và khói từ những ống khói vẫn phảng phất ở trên các ngọn cây. Cô gái là người cuối cùng rời khỏi hồ. Từ dưới mặt hồ anh nhìn thấy cô xếp những chiếc va li của mình lên xe. Cô gửi anh một nụ hôn gió và nghĩ: “Nếu anh ta là một kẻ bị bỏ bùa thì ta đã ở lại lâu hơn, nhưng đối với ta anh quá say mê khoái lạc!”.
Ít lâu sau anh ta đi bằng chiếc xuồng của mình đến vị trí này do tuyệt vọng vì xuồng va phải đá. Chiếc xuồng bị thủng dọc mạn xuồng và từ giờ trở đi động cơ của nó chạy bằng không khí. Trong những đêm mùa thu những người dân địa phương nghe thấy tiếng gió thổi về hướng đó trên đầu mình.

* * *

Hoặc là người phụ nữ biến mất ngay sau khi chị bỏ kính râm ra. Không phải lúc nào cũng thế. Có những quãng thời gian, trong đó chị nghịch cát dưới ánh nắng mặt trời chói chang, và hồi ấy chị không đeo kính râm. Có những quãng thời gian, chị đeo kính râm, ngay khi ánh nắng chiếu vào mặt chị, và chị bỏ kính ra, ngay khi ánh nắng biến mất – và chính chị lại không biến mất. Nhưng điều đó trôi qua lâu rồi, chính chị sẽ không thể nói, nếu như người ta hỏi chị bao lâu, và chị cũng sẽ tỏ ra bực bội với một câu hỏi như thế.
Hình như tất cả rủi ro đều do cái ngày mà chị bắt đầu cũng không bỏ kính râm ra khi ở trong bóng râm, từ chuyến đi ô tô này vào đầu mùa hè, khi trời đột nhiên trở nên u ám, và ai cũng bỏ kính râm ra khỏi mắt, chỉ chị là không. Nhưng không bao giờ người ta nên đeo kính râm khi ở trong bóng râm, nó sẽ gây hại cho mắt. Ít lâu sau, khi chị bỏ kính râm ra một lát trong khi đi thuyền buồm trên chiếc thuyền của một người bạn trai thì bỗng nhiên chị cảm thấy trở thành hư vô, tay chân tan biến trong gió đông. Và cơn gió đông này, cơn gió mà làm nổi những gợn sóng lăn tăn trắng xóa trên mặt hồ, chắc chắn đã thổi chị đi như thổi hư vô qua mạn thuyền thì chị đã không đủ nhanh trí lại đeo ngay kính râm lên. Nhưng may thay, cũng chính cơn gió đông ấy mang lại thời tiết tốt, trời nắng và rất nóng nực, và vì thế chị không tiếp tục thu hút sự chú ý trong tuần tiếp theo. Nếu chị khiêu vũ vào buổi tối thì chị giải thích cho bất cứ ai muốn biết về việc chị đeo kính râm là để chống lại ánh sáng mạnh của đèn hồ quang, và sắp có nhiều người bắt đầu bắt chước chị. Dĩ nhiên không ai biết là chị cũng đeo kính râm vào ban đêm, vì chị ngủ khi cửa sổ để mở và không thích bị thổi ra ngoài hoặc thức giấc vào sáng ngày hôm sau và hoàn toàn không tồn tại nữa.
Khi trong chốc lát thời tiết u ám và mưa bắt đầu chị thử một lần nữa bỏ kính râm ra, nhưng ngay lập tức chị rơi vào tình trạng tan biến như lần thứ nhất và chị nhận thấy là cả gió tây cũng sẵn sàng mang chị đi. Do đó không bao giờ chị thử lại điều đó mà đứng xa ra trong lúc đó và đợi cho đến khi ánh nắng trở lại. Và ánh nắng trở lại. Suốt mùa hè ánh nắng luôn trở lại. Sau đó chị đi thuyền buồm trên những chiếc thuyền của bạn bè, chơi tennis hoặc cũng bơi một đoạn xa ra hồ với chiếc kính râm trên mặt. Chị cũng hôn người này hoặc người kia và ngoài ra không bỏ kính râm. Chị phát hiện ra là phần lớn mọi người trên trần gian cũng để mình làm việc đó khi đeo kính râm. Chừng nào còn mùa hè.
Nhưng bây giờ trời đang dần dần sang thu. Phần lớn bạn bè của chị đã trở lại thành phố, chỉ một số ít người còn ở lại. Và bản thân chị – giờ đây chị nên làm gì với những chiếc kính râm ở trong thành phố? Ở đây người ta còn phác họa sự cần thiết của chúng là sự đánh giá cá nhân, và chừng nào còn những ngày nắng và những người cuối cùng trong số bạn bè của chị còn ở xung quanh chị thì sẽ chẳng có gì thay đổi. Nhưng gió thổi cùng với cái ngày ấy mạnh hơn, bạn bè và những ngày nắng sẽ ít đi. Và không hề có chuyện một lúc nào đó chị lại có thể bỏ kính râm ra.
Điều gì nên xảy ra khi trời trở đông?

* * *

Khi đó cũng còn ba cô gái đứng ở phía đuôi tàu thủy và chế nhạo người thủy thủ duy nhất đang có trên tàu. Họ lên tàu ở bên bờ nông, đi sang bờ có núi để uống cà phê ở đó, và sau đó lại trở về bờ nông.
Từ khoảnh khắc đầu tiên người thủy thủ quan sát họ cười và thì thầm những chuyện mà anh không thể hiểu vì tiếng ồn lớn mà chiếc tàu thủy nhỏ gây ra. Nhưng anh đang có đôi chút nghi ngờ điều đó có liên quan đến anh và chiếc tàu thủy; và khi anh leo xuống dưới từ chỗ ngồi của mình bên cạnh thuyền trưởng để đánh dấu vé tàu và đồng thời đến gần các cô gái thì các cô cười rũ rượi, cho nên anh thấy sự nghi ngờ của mình được khẳng định. Anh đi đến chỗ họ và yêu cầu họ cho xem vé tàu, nhưng đáng tiếc là họ đã mua vé, và thế là anh không biết làm gì khác ngoài việc đánh dấu vé tàu của họ. Trong khi đó một trong số ba cô gái hỏi anh liệu trong suốt mùa đông anh có công việc khác hay không, và anh trả lời: “Không”. Ngay lập tức họ lại bắt đầu cười.


Nhưng từ lúc đó trở đi anh có cảm giác. Chiếc mũ cát két của anh bị mất cái lưỡi trai, và việc đánh dấu số vé còn lại là một việc khó đối với anh. Anh leo lên trở lại chỗ thuyền trưởng, nhưng lần này không đưa bọn trẻ của những người đi du ngoạn từ boong tàu lên cùng như bình thường anh vẫn làm việc đó. Và từ trên anh nhìn mặt hồ nằm bên dưới xanh và yên tĩnh, và anh nhìn thấy mũi tàu rẽ nước – ngay cả một con tàu đại dương cũng không thể rẽ nước hồ mạnh hơn – nhưng hôm nay điều đó không trấn an anh. Nói đúng hơn cái biển có dòng chữ “Chú ý đầu!” được gắn bên trên lối vào buồng lái đang chọc tức anh, rồi thì làn khói đen thổi từ ống khói ra tận đuôi tàu và làm đen lá cờ đang bay phấp phới, như thể anh có lỗi trong việc đó.
Không, trong mùa đông anh ta cũng không làm gì khác. Cớ sao chiếc tàu thủy cũng hoạt động trong mùa đông vậy, các cô gái hỏi anh khi anh lại đến gần họ. “Vì vận chuyển bưu phẩm!” anh đáp. Sau đó, trong một khoảnh khắc sáng tỏ anh bình tĩnh nhìn họ nói chuyện với nhau, và điều đó an ủi anh trong chốc lát; nhưng khi chiếc tàu thủy cập bến và anh quăng vòng dây lên trên cái trụ neo tàu ở trên một cầu tàu nhỏ thì các cô gái lại bắt đầu cười và không thể trấn tĩnh lại nữa, chừng nào anh còn nhìn họ, mặc dù anh đã quăng vòng dây chính xác.
Một tiếng sau ba cô gái lại lên tàu, nhưng trong khi đó bầu trời đã tối sầm lại, và khi họ ở giữa hồ thì giông tố nổi lên. Chiếc tàu bắt đầu lắc lư nghiêng ngả, và người thủy thủ chớp thời cơ để chỉ cho những cô gái các giá trị của anh ta. Anh trèo qua lan can trong khi mồ hôi nhễ nhại hơn mức cần thiết và trèo xung quanh tàu ở phía ngoài, rồi lại trèo vào trong. Đồng thời anh trượt chân trên sàn gỗ ướt, vì khi đó trời mưa ngày càng to hơn, và rơi xuống hồ. Và vì anh có điểm chung với những thủy thủ của những con tàu đại dương là anh không biết bơi và cái hồ có một điểm chung với biển là có thể bị chết đuối ở đó nên anh cũng chết đuối.
Anh đang yên nghỉ như trên bia mộ của anh ghi(*), chỉ có điều người ta đã kéo anh ra khỏi nấm mồ của mình. Ba cô gái vẫn đang đi trên chiếc tàu thủy, đứng ở đuôi tàu và cười khúc khích. Ai nhìn họ thì không nên để cho họ làm rối trí. Những cô gái vẫn luôn thế.

(*) Ở phương Tây trên bia mộ người ta thường ghi: Nơi đây yên nghỉ…(tên người)…

PHẠM ĐỨC HÙNG (dịch)