Tình yêu

41

VNTN – Bữa trưa ngày hôm sau có bánh nướng, tôm càng và thịt cừu rất ngon; và trong lúc chúng tôi đang ăn thì đầu bếp Nikanor đến hỏi những vị khách dùng gì cho bữa tối. Hắn có dáng người hơi đậm, khuôn mặt béo phị và mắt híp, bộ râu hắn được cạo nhẵn thín đến nỗi trông nó không phải được cạo mà đúng hơn là bị nhổ sạch tận chân lông.
Alehin nói với chúng tôi rằng Pelagea xinh đẹp là người yêu của gã đầu bếp này. Mỗi khi hắn say xỉn và trở nên hung hãn, nàng không còn muốn kết hôn với hắn nữa, nhưng vẫn chấp nhận sống chung với hắn. Hắn rất sùng đạo, và niềm tin tôn giáo của hắn không cho phép hắn “sống trong tội lỗi”; hắn nài nỉ nàng cưới mình, và không chấp nhận hình thức nào khác thế, rồi khi say xỉn hắn từng sỉ nhục nàng thậm chí là đánh đập nàng. Mỗi khi hắn say nàng thường trốn lên lầu khóc nức nở, và mỗi lần như vậy Alehin và những người phục vụ trong nhà hàng sẵn sàng hiệp lại bảo vệ nàng khi cần thiết.
Chúng tôi bắt đầu nói chuyện về tình yêu.
“Làm sao lại yêu được nhỉ”, Alehin nói, “tại sao Pelagea không yêu ai đó tương đương với cô ấy hơn về tính cách cũng như ngoại hình, mà lại yêu Nikanor, cái mõm xấu xí ấy – tất cả chúng tôi đều gọi hắn ta là “cái mõm” – hạnh phúc cá nhân cách tình yêu là bao xa – quả là mỗi người một cách nhìn. Cho đến nay chỉ có một sự thật không thể chối cãi được về tình yêu: “Nó là một bí ẩn lớn”. Tất cả những gì được viết ra hay nói về tình yêu không hề đưa ra một kết luận nào, mà chỉ là những mệnh đề câu hỏi vẫn chưa có lời đáp. Lời giải thích có vẻ phù hợp với một trường hợp nhưng không thể áp dụng cho tất cả, và theo tôi tốt nhất là nên giải thích từng trường hợp đơn lẻ mà không cố gắng khái quát nó. Như các bác sĩ nói, chúng ta nên cá nhân hóa từng trường hợp”.
“Rất đúng”, Burkin đồng tình.
“Chúng tôi những người Nga thuộc tầng lớp trí thức vẫn chưa giải đáp được một phần câu hỏi này. Tình yêu thường được thơ mộng hóa, được thêu dệt bằng hoa hồng, chim sơn ca; người Nga chúng tôi trang hoàng tình yêu bằng những câu hỏi quan trọng này, và cũng thường chọn những thắc mắc chẳng hay ho gì về chúng. Ở Moscow, khi còn là một sinh viên, tôi có một người tri kỷ, một cô gái quyến rũ, và mỗi khi tôi ôm nàng trong tay nàng lại nghĩ đến việc liệu tôi có cho phép nàng ở lại một tháng để dọn phòng và giá thịt bò là bao nhiêu bảng Anh. Trong cùng một cách, khi chúng ta đang yêu, chúng ta không ngừng đặt ra những câu hỏi: liệu đó là cao quý hay đê tiện, nhạy cảm hay ngu ngốc, tình yêu này sẽ đi tới đâu, vân vân. Tôi không biết nó là tốt hay xấu, nhưng nó chắc chắn chẳng hề dễ chịu”.

Có vẻ như anh ta muốn kể một câu chuyện nào đó. Những người sống cô đơn thường có một ẩn ức trong trái tim mà họ rất muốn nói ra. Mấy gã đàn ông độc thân trong thị trấn tới những bể bơi và nhà hàng để tán gẫu, và thi thoảng kể một vài câu chuyện thú vị nhất với những người có mặt hoặc nhân viên phục vụ; và theo thường lệ, họ cũng bộc bạch vài điều với những vị khách. Giờ đây từ ô cửa này chúng tôi có thể nhìn thấy một bầu trời xám xịt, cây cối trong mưa ướt đẫm, chúng tôi chẳng thể đi đâu khác trong thời tiết này, và chẳng biết làm gì ngoài ngồi tán chuyện và lắng nghe nhau.
“Tôi đã sống ở Sofino và làm nông trại trong một thời gian dài,” Alehin bắt đầu, “từ khi tôi tốt nghiệp đại học. Tôi thành một kẻ vô công rồi nghề bởi mọt sách, với tính hiếu học bẩm sinh; nhưng lại gánh một khoản nợ lớn khi đến đây, và lúc bố tôi cũng mắc nợ một phần bởi ông đã chi quá nhiều cho việc học hành của tôi, tôi quyết định không đi đâu xa nữa mà sẽ làm việc tới khi trả hết số nợ ấy.
Tôi đã quyết định điều này và bắt đầu làm việc, nhưng tôi phải thú nhận có đôi chút mâu thuẫn. Đất trồng ở đây không đem lại nhiều năng suất, và nếu một người không biết canh tác thì phải thuê nhân công, hoặc phải trở thành một nhà nông thực thụ. Không có con đường nào khác. Nhưng lúc đó tôi không phải một người thạo việc. Tôi tập hợp tất cả những người nông dân, đàn ông và phụ nữ từ các làng lân cận; công việc diễn ra với tốc độ chóng mặt. Tôi đã tự mình cày cấy, gieo hạt và gặt hái, rồi chán ngấy với công việc đó, thậm chí cau mày ghê tởm nó, giống như một con mèo hoang bị bỏ đói phải ăn vụng dưa chuột trong gác bếp. Thân thể tôi đau nhức, và tôi ngủ gật trong khi đang đi.
Lúc đầu có vẻ như tôi có thể dễ dàng hòa nhập với cuộc sống cực nhọc này nhờ cư xử có văn hóa của mình; để làm như vậy, tôi nghĩ cần thiết để duy trì một trật tự bên ngoài nhất định trong cuộc sống. Tôi tự mình dựng một cầu thang trong những phòng đẹp nhất ở đây, yêu cầu họ mang cafe và rượu tới sau mỗi bữa trưa và tối, và mỗi đêm trước khi đi ngủ tôi đọc Yyesnik Evropi.
Nhưng một ngày nọ linh mục của chúng tôi, Cha Ivan, đến và uống hết rượu của tôi trong một lần ghé chơi, và cuốn Yyesnik Evropi đã tới tay những cô con gái của linh mục; vào mùa hè, đặc biệt trong lúc làm cỏ khô, tôi đã không được ngủ chút nào trên giường của mình, và phải ngủ trên chiếc xe trượt tuyết trên chuồng ngựa hoặc một nơi nào đó trong chỗ nghỉ của những người đi rừng, làm gì có cơ hội để đọc sách nữa chứ? Tôi phải nhích xuống cầu thang từng chút một, bắt đầu dùng bữa trong bếp với những người phục vụ, và sự xa xỉ trước đây của tôi chẳng còn gì ngoài mấy người hầu phục vụ bố tôi và thật xót xa khi họ bỏ đi”.
Alehin tiếp tục, “Trong những năm đầu tiên tôi được chọn làm thẩm phán hòa giải. Tôi thường phải đến thị trấn tham gia các phiên họp của đại hội và tòa án, và đây là một thay đổi thú vị đối với tôi. Khi các anh ở đây hai đến ba tháng mà không có kế sinh nhai, nhất là vào mùa đông, anh sẽ cực kỳ thèm muốn một cái áo khoác màu đen. Và trong tòa án có áo choàng dài, đồng phục và áo khoác nữa, tất cả luật sư đều là những người có cùng học vấn, tôi đã có thể nói chuyện với một vài người. Được ngủ trên xe trượt tuyết và ăn trong nhà bếp, ngồi trên chiếc ghế bành phủ vải lanh sạch sẽ, đi ủng mềm với những lớp áo gi-lê trên người, thật sang chảnh là bao!
Tôi đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt trong thị trấn. Tôi khiến cho những người bạn háo hức. Và trong số những người thân thiết nhất của tôi, dễ chịu nhất là mối quan hệ với Luganovitch, phó chánh án tòa án. Cả hai anh đều biết ông ấy đấy: một con người cuốn hút. Mọi chuyện bắt đầu sau vụ án phóng hỏa bạo động nổi tiếng, cuộc điều tra sơ bộ kéo dài hai ngày làm chúng tôi kiệt sức. Luganovitch nhìn tôi và nói:
“Này, đi ăn tối với tôi nhé.”
Đây quả là điều bất ngờ với tôi, vì tôi không thân Luganovitch lắm và chưa khi nào tới nhà ông ấy cả. Tôi chỉ đến phòng khách sạn thay đồ và đi ăn tối. Và đây là lúc tôi gặp Anna Alexyevna, vợ của Luganovitch. Lúc ấy nàng còn rất trẻ, không quá hai mươi hai và đứa con đầu lòng của nàng mới chào đời sáu tháng trước.
Mọi chuyện đã qua rồi, và giờ đây tôi khó có thể xác định được nàng có những gì đặc biệt mà khiến tôi mê đắm đến vậy, vào bữa tối lúc bấy giờ, tất cả vô cùng hoàn hảo với tôi. Tôi nhận ra một người phụ nữ trẻ trung, thông minh, tốt bụng, cuốn hút mà tôi chưa từng thấy trước đó, và ngay lập tức có cảm giác gần gũi với nàng, như thể khuôn mặt đó, ánh mắt tinh anh, tha thiết đó tôi đã từng thấy đâu đó trong tuổi thơ của mình, trong album ảnh nơi ngăn kéo tủ của mẹ tôi.
Bốn người Do Thái bị kết tội gây bạo động, bị coi là một băng cướp, và theo tôi, khá là vô căn cứ. Tại bữa tối đó tôi bị kích động, tôi đã khó chịu và không biết mình đã nói gì, nhưng Anna Alexyevna liên tục lắc đầu và nói với chồng:
“Dmitry, làm sao đây?”
Luganovitch là người đàn ông tốt bụng, thuộc tuýp người đơn giản kiên quyết giữ vững quan điểm rằng khi một người bị cáo buộc trước tòa anh ta là nghi phạm, và việc bày tỏ sự nghi ngờ về tính đúng đắn của bản án là việc vô ích trừ khi trên giấy tờ hợp thức, chứ không phải trong bữa ăn hay cuộc trò chuyện riêng tư.
“Anh và tôi đâu có phóng hỏa nơi đó,” ông ta nhẹ nhàng nói, “và anh thấy đấy chúng ta đâu có bị kết án, bị tống tù.”
Rồi hai vợ chồng đều cố nhồi cho tôi ăn uống thật nhiều. Qua một số chi tiết nhỏ, từ cách họ pha cà phê với nhau, và cách nói ít hiểu nhiều của họ tôi có thể nhận ra họ đang sống với nhau khá hòa thuận và thoải mái, và họ đều vui vẻ khi tiếp khách. Sau bữa tối, họ chơi một bản song tấu trên piano cho đến tối mịt, và tôi về nhà. Lúc đó đang vào đầu xuân.
Sau đó tôi dành cả mùa hè ở Sofino mà không hề nghỉ ngơi, và không có thời gian nghĩ nhiều về thị trấn, nhưng ký ức về người phụ nữ với mái tóc đẹp duyên dáng cứ hiện lên trong tâm trí tôi suốt những tháng ngày đó; tôi không nghĩ về nàng, nhưng dường như ánh sáng của nàng ngự trị trái tim tôi.
Vào cuối mùa thu có một cuộc biểu diễn sân khấu cho một số hoạt động từ thiện trong thị trấn. Tôi đi vào phòng của Thống đốc (tôi được mời tới đó trong thời gian nghỉ); và nhìn quanh có Anna Alexyevna ngồi cạnh vợ của Thống đốc, và một lần nữa với sự rung động không thể cưỡng nổi về vẻ đẹp ngọt ngào, ánh mắt âu yếm và một cảm giác gần gũi vô cùng. Chúng tôi ngồi cạnh nhau rồi đi đến phòng nghỉ sau rạp hát.
“Trông anh gầy hơn đấy,” nàng nói; “anh khỏe chứ?”
“Vâng, tôi bị thấp khớp vai, trong những ngày trở trời thì không tài nào ngủ được.”
“Trông anh có vẻ mệt mỏi lắm. Hồi mùa xuân anh đến ăn tối, trông anh trẻ trung hơn, tự tin hơn. Anh đầy năng lượng và nói chuyện rất nhiều lúc đó, anh thực sự rất thú vị, và tôi thú nhận rằng tôi đã có chút rung động. Không hiểu sao hình ảnh của anh luôn trở lại trong ký ức của tôi trong suốt mùa hè, và khi chuẩn bị ra rạp hát hôm nay, tôi nghĩ phải gặp anh.”
Rồi nàng cười.
“Còn hôm nay trông tinh thần anh có vẻ không được tốt lắm,” nàng lặp lại. “Nó làm anh trông già hơn.”
Ngày hôm sau tôi ăn trưa tại nhà Luganovitch. Sau bữa trưa họ lái xe tới biệt thự mùa hè để sắp xếp đồ đạc cho mùa đông và tôi đi cùng họ. Tôi cùng họ trở về thị trấn, và nửa đêm cùng họ uống trà trong không gian yên tĩnh, cạnh ngọn lửa sáng rực và người mẹ trẻ đi xem cô con gái đã ngủ chưa. Và rồi mỗi lần tới thị trấn tôi không khi nào không qua nhà Luganovitch. Họ đã quen với sự có mặt của tôi, và tôi cũng vậy. Theo thói quen, tôi không bao giờ báo trước, như thể mình đã là một thành viên trong gia đình…

(Còn nữa)

Truyện ngắn. ANTON CHEKHOV (Nga)

NGUYỄN THỊ THÙY LINH (dịch)