Rừng trong ngôn ngữ và thi ca Việt

113

Rừng là một trong những nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng của quốc gia. Hồ Chủ tịch lúc sinh thời từng có câu nói nổi tiếng về rừng Việt Nam: “Nước ta ở về xứ nóng, khí hậu tốt. Rừng vàng biển bạc đất phì nhiêu” (Bài nói chuyện tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa 3, ngày 16/4/1962). Và rừng cũng đã trở thành nguồn cảm hứng dồi dào cho bao tác phẩm thi ca, âm nhạc của Việt Nam trong suốt tiến trình văn học sử.

1.Trong tiếng Việt, ngoài định danh thông dụng nhất là rừng, người Việt còn có các đơn vị tương đương khác cũng mang ý nghĩa chỉ rừng như: rú, lâm, ngàn. Chữ “rú” khi sử dụng độc lập được coi là mang ý nghĩa chỉ rừng già gắn liền với núi. cũng kết hợp với rừng tạo thành một tổ hợp từ ghép đẳng lập, mang ý nghĩa chỉ rừng nói chung: rừng rú.

Từ “rừng rú” từng đi vào thơ của Bùi Giáng:

“Hôm nay tôi kiếm củi trong rừng

Lạc mất đường về chơi bỗng dưng

Sực nhớ rằng đây rừng rú thẳm

Là quê thân thiết biết bao chừng

(Người về)

Chữ “lâm” là một đơn vị vay mượn từ tiếng Hán, được viết trong tiếng Hán với tự dạng hai chữ “mộc” (cây) đứng cạnh nhau, với ngụ ý “nhiều cây thành rừng”. Đi vào tiếng Việt, “lâm” tham gia cấu tạo nên một số đơn vị từ vựng phổ biến như: lâm nghiệp, lâm tặc, lâm sản, lâm học, lâm phần (khoảnh rừng thuần nhất về cấu trúc, khác biệt với khoảnh rừng bên cạnh).

Đơn vị cuối cùng chỉ rừng là “ngàn”, đi vào khá nhiều câu thành ngữ tục ngữ ca dao của người Việt như: Vượt suối băng ngàn, Đốn tre đẵn gỗ trên ngàn… Nhạc sĩ Hoàng Việt có bài hát nổi tiếng mang tựa đề Lên ngàn: Em đi cắt lúa trên ngàn, rẫy trên ngàn nắng chiều chang chang/ Đường đi nước ngập mênh mang bàn chân dẫm gai lòng không thở than

Dĩ nhiên chữ “rừng” vẫn là chữ thông dụng hơn cả và cũng xuất hiện trong nhiều câu thành ngữ, tục ngữ, thể hiện những quan điểm cách nhìn của cộng đồng về miền không gian khá đặc biệt này.

Có lẽ không ít người Việt giữ một tâm lý khá e sợ với rừng, bởi nơi đây có thể chứa đựng nhiều hiểm nguy, không phải là chỗ có thể tin tưởng về mức độ an toàn cho sức khỏe và tính mạng con người. Vậy nên nới có câu “rừng thiêng nước độc”.

Việc lạm dụng tài nguyên của rừng, tham lam vô độ trong việc chiếm đoạt các sản vật từ rừng, được cảnh báo qua một câu tục ngữ khác: Ăn của rừng rưng rưng nước mắt.

Rừng cũng được sử dụng như một ẩn dụ để nói về thành quả của sự tích lũy qua câu tục ngữ: Góp gió thành bão, góp cây thành rừng.

Một tổ hợp khá thú vị nữa về rừng trong tiếng Việt là “luật rừng”, được hiểu là luật mạnh được yếu thua, theo kiểu đấu tranh sinh tồn trong thế giới loài vật, thường được dùng để diễn tả những thanh toán, tranh chấp, đấu đá của giới giang hồ với nhau.

2.Khi đi vào các tác phẩm thi ca, rừng có nhiều biểu hiện phong phú, sống động, gửi gắm nhiều cung bậc tình cảm của con người cũng như không ít những suy tư, trăn trở, khát vọng, mơ ước. Trước tiên phải kể đến việc rừng được miêu tả như là một vẻ đẹp tự nhiên, gắn với tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu cây cối lá hoa của con người. Nhiều ca khúc từ thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ cho tới sau năm 1975 đều mang đến với người nghe vẻ đẹp của rừng qua những lời ca trong sáng, tha thiết:

“Rừng hát, gió lay trên cành biếc. Lao xao, rì rào, dòng suối uốn quanh, làn nước trôi trong xanh

(Nhạc rừng – Nhạc và lời: Hoàng Việt)

“Rừng cây xanh lá muôn đóa hoa mai mừng đón xuân về

Vui trong nắng vàng từng đàn bướm trắng bay khắp rừng hoa

(Tình ca Tây Bắc, Nhạc: Bùi Đức Hạnh, phỏng thơ: Cẩm Giang)

“Em đến với rừng, đâu chỉ vì rừng xanh thơm hương

Em đến với rừng, vì tình yêu màu xanh quê hương

Em đến với rừng, đâu chỉ vì rừng mờ trong sương

Em đến với rừng, bởi rừng xanh yêu thương

(Rừng xanh yêu thương, Nhạc và lời: Huy Cường)

Trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc ở thế kỷ XX, rừng có thể nói như một người bạn đồng hành cùng những bước chân hành quân của người chiến sĩ:

“Em đi lên rừng cây xanh mở lối

Em đi lên núi núi ngả cúi đầu”

(Cô gái mở đường, Nhạc và lời: Xuân Giao)

“Đàn theo ta đi qua con suối con khe, qua nương rẫy qua bao nhiêu rừng

Đàn theo ta đi đánh Mỹ đêm ngày, giữa rừng xanh vang muôn câu ca”

(Rừng xanh vang tiếng Ta lư, Nhạc và lời: Phương Nam)

Rừng không chỉ đồng hành mà thậm chí còn là một sức mạnh bảo vệ và chiến đấu chống lại kẻ thù:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”

(Việt Bắc – Tố Hữu)

Có những khu rừng với những cái tên cụ thể đã đi vào nhiều tác phẩm thơ và nhạc theo suốt chiều dài lịch sử.

Ở thời kỳ văn học trung đại, ta có một khu rừng Côn Sơn trong thơ Nguyễn Trãi:

“Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

Côn Sơn có đá rêu phơi

Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm

Trong ghềnh thông mọc như nêm

Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm

Trong rừng có bóng trúc râm

Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn”

(bản dịch của Phan Võ, Lê Thước, Đào Phương Bình)

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ta bắt gặp rừng Việt Bắc trong thơ Hồ Chí Minh:

“Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay

Vượn hót chim kêu suốt cả ngày

Khách đến thì mời ngô nếp nướng

Săn về thường chén thịt rừng quay”

Trong quần thể rừng Việt Bắc còn phải nhắc tới rừng Pác Bó trong ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ:

Ơ, rừng Pác Bó quê ta nhớ rừng xưa ôm bóng Người. Bước chân Người đi đất chuyển dời theo Người. Người về rừng núi, bóng Người vì sao trong sáng”

(Tiếng hát giữa rừng Pác Bó).

Ở dải đất phương Nam, phải kể tới những cái tên rừng đã đi vào các tác phẩm văn xuôi nổi tiếng của Sơn Nam, người được mệnh danh là nhà Nam Bộ học: Hương rừng Cà Mau, Bắt sấu rừng U Minh Hạ

Sau năm 1975, rừng Cúc Phương đi vào một ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Trần Chung, được coi như một tác phẩm “tỉnh ca” của Ninh Bình:

“Ơi, Cúc Phương ơi! Chiều nay tôi đến thăm em. Bâng khuâng giữa Động Người Xưa, vui với cây Chò ngàn năm. Cho tôi ngủ lại, cùng cỏ cây hoa lá. Rì rào qua mùa trăng, tưởng nghe con sóng mênh mông ngàn xưa vỗ về.”

(Nhớ về Cúc Phương)

3.Rừng cũng trở thành những hình tượng văn học mang chiều sâu, biểu đạt những xúc cảm tình yêu, gửi gắm những thông điệp về nhân sinh, về cuộc đời. Bài thơ Tự hát của nữ sĩ Xuân Quỳnh đã nhắc tới rừng trong hai câu thơ liên tiếp, thể hiện những ngổn ngang rối bời của tâm trạng, và cả những rợn ngợp âu lo, vừa mê đắm nhưng cũng vừa xen lẫn không ít những dự cảm khó nói hết thành lời:

“Mùa thu này sao bão giông nhiều

Những cửa sổ con tàu chẳng đóng

Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm

Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh”.

Nếu như cánh rừng trong thơ Xuân Quỳnh gắn với những ẩn dụ về cảm xúc của tình yêu đôi lứa thì cánh rừng trong thơ Nguyễn Trọng Tạo lại như muốn ẩn ý về những giá trị cuộc đời, là những gì đọng lại dù tháng năm đi qua, dù thời gian tàn phá và băng hoại:

“Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi

Có con người sống mà như qua đời”

(Đồng dao cho người lớn)

Đọc lại nhiều tác phẩm của các danh gia trong dòng chảy thi ca Việt, tôi nhận thấy có một biểu hiện tâm lý – tình cảm tương đồng ở nhiều người, đó là khát vọng muốn trở về với núi rừng để sống một cuộc đời an nhiên tự tại, rũ bỏ hết mọi danh lợi vinh hoa.

Nguyễn Trãi (1380 – 1442), từ thế kỷ XV đã thể hiện tâm sự ấy:

“Đã hẹn suối rừng đâu nỡ phụ

Cúi đầu cát bụi chỉ thương ta

Chưa yên giặc giã mừng thân vẹn

Về đến làng quê tưởng mộng qua

Dưới núi bao giờ lều sẽ dựng

Đá kê đầu ngủ, suối pha trà

(Sau loạn về Côn Sơn cảm tác)

Sau Nguyễn Trãi ba thế kỷ, Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) cũng mong ước:

“Hà thời vũ khố cao cung thỉ

Hạc cốt, sương đề phản cố lâm”

(Bao giờ kho vũ, cung tên xếp

Vóc hạc quay về với núi xưa)

(Nguyệt dạ lãng ngâm)

Và sau Ngô Thì Nhậm hai thế kỷ nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của non sông Việt Nam thế kỷ XX ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp đã hẹn ước:

“Non xanh nước biếc tha hồ dạo

Rượu ngọt chè tươi mặc sức say

Kháng chiến thành công ta trở lại

Trăng xưa hạc cũ với xuân này”

(Cảnh rừng Việt Bắc)

Không chỉ những bậc thi nhân, danh gia hay những tâm hồn tao nhân mặc khách tìm đến rừng, mà rừng còn cuốn hút cả những người trẻ tuổi thời nay trong những chuyến phượt tự do, vừa mạo hiểm vừa tràn đầy phóng khoáng.

Vì đi vào rừng người ta dễ yêu nhau” của Thùy Anh là một tản văn hấp dẫn nhất tôi được đọc trong những năm gần đây. Rừng không chỉ mang đến tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương xứ sở mà nó còn có khả năng đánh thức những cảm giác hoang sơ, thiện lương trong mỗi tâm hồn. Và có những tình yêu đôi lứa đã được khởi lên từ đó:

Bất giác, tôi nếm được vị ngọt của rừng. Tôi nhìn thấy tôi. Một tâm hồn đơn sơ và hoang dại. Một con người mưu cầu những hạnh phúc bình dị và giản đơn (…) Thi thoảng trong giấc mơ, những dãy núi bạt ngàn xanh thẳm, những chiếc lưng còng đang gò mình địu ngô của người dân tộc, những con bò con dê lững thững đi trên triền núi như những nhà hiền triết hiện lên trong giấc mơ của tôi. Chẳng biết tự bao giờ, tôi đã bị núi rừng “bỏ bùa mê” mất rồi. Chồng tôi có lẽ cũng như vậy.

Còn bạn, bạn đã sẵn sàng đi rừng chưa?”.

***

Như vậy, có thể thấy đề tài về rừng đã trở thành một trong những miền không gian khơi gợi cảm hứng trong thi ca Việt. Là một thực thể thiên nhiên hoang dã đầy bí ẩn nhưng cũng luôn tràn ngập những năng lượng và sự chào đón, mãi mãi quyến rũ con người, rừng đã trở thành một một hình tượng nghệ thuật giàu giá trị thẩm mĩ trong văn chương, nghệ thuật. Hơn thế, hình tượng nghệ thuật đó còn mang chứa nhiều thông điệp nhân sinh sâu thẳm, gián tiếp giúp các văn nhân thi sĩ tỏ bày tình yêu với thiên nhiên, đời sống, con người.

ĐỖ ANH VŨ