Ẩn số trong tiểu thuyết Tranh Van Gogh mua để đốt của Hồ Anh Thái

34

VNTN – Từ nhan đề đến một cốt truyện nhại trinh thám
Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn sớm làm vui văn học Việt và làm đau độc giả bằng lối viết black humor. Sức sáng tạo của ông thật đáng nể phục với hàng loạt tiểu thuyết nối tiếp nhau (chưa kể truyện ngắn và tạp văn). Thật ra, với một nhà văn vài năm cho ra đời một tiểu thuyết, người đọc không tránh khỏi cảm giác vừa tò mò, vừa ngại ngần sợ một sự lặp lại. Tuy vậy, với Tranh Van Gogh mua để đốt (Nxb Trẻ, 2018), Hồ Anh Thái gây ấn tượng về sự lạ mới ngay từ nhan đề. Tên cuốn tiểu thuyết như một kí hiệu phản đề, một ẩn số – Tranh Van Gogh mua để đốt. Ai mua? Ai đốt? Ai đã phạm tội hủy diệt văn hóa nhân loại? Mã nhan đề gắn với tình huống phạm tội, điều tra, truy tìm sự thật. Câu chuyện bức tranh suýt bị đốt hai lần được kể như một câu chuyện trinh thám hấp dẫn. Cuộc chơi mở ra ngay từ đầu qua kĩ thuật “tung hỏa mù”, với cách kể chuyện nửa kín nửa hở, vừa lan man, ngẫu hứng, phi tâm, vừa có chất kết dính từ bên trong. Nhà văn lên kế hoạch (“tác giả đã định bắt đầu…”, “đã bàn với nhân vật”, …); ván bài có vẻ đã lật ngửa nhưng vẫn hứa hẹn nhiều bất ngờ. Cuộc rượt đuổi nghi phạm (anh tổng biên tập – người cứu tranh) chưa đến hồi kết thúc mà nhân thân nguyên cáo (ông sếp – người đốt tranh) ngày càng lộ rõ. Nhà văn tạo tình huống giống như thật (nghi phạm, điều tra, tường trình, truy lùng, kết án…) – nhưng tất cả đều là những thao tác giả. Sự thật nằm sau những cái giả mà nhà văn đem ra giễu nhại này.
Toàn bộ văn bản truyện là sự dịch chuyển, lắp ghép. Dịch chuyển không gian địa lí – từ Đà Lạt chuyển sang Sa Pa…; không gian văn hóa – từ chợ tình đến sex tour; điện ảnh, văn học, hội họa, nghệ thuật sắp đặt; liên văn hóa; liên tôn giáo, tộc người (H’Mông, lai Tây, Mỹ)…; từ những cuốn sách trắng, những tấm toan bôi trắng đến bức tranh đời sống loang lổ xám tối; từ một khuôn mặt người đến trùng điệp đám đông nhạt mờ. Tất cả dung chứa trong một văn bản tiểu thuyết ngắn, đôi chỗ có vẻ thừa, nhưng mọi mảnh ghép đều khớp mạch, dồn nén và bung phá. Suốt văn bản truyện hầu như không có đối thoại nhân vật. Sự tỉnh lược đối thoại, để cho biểu tượng lên tiếng là đặc điểm của tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Tiếng nói bên trong văn bản nằm ở sự tương hỗ, va đập giữa các kí hiệu, các lớp diễn ngôn. Đâu là phim, đâu đang là tiểu thuyết, khó phân định bởi một sự đan kết được nói rõ từ đầu nhưng úp mở qua một hệ thống kí hiệu mật mã, trong đó nổi bật là trắng/màu trắng gắn với những cổ mẫu/biểu tượng khác. Các mã diễn ngôn đó chỉ xoay quanh hai tình huống đốt/hủy diệt và cứu/tái sinh. Đốt tranh của Van Gogh và cướp/nhặt/cứu bức tranh vô giá cuối cùng chỉ còn màu trắng. Từ một không gian nền toàn trắng, những bi hài cuộc sống hiện rõ qua những mảnh ghép hiện thực tươi ròng. Đằng sau số phận của tài danh Van Gogh là những khuôn hình trí thức bị ruồng bỏ. Đằng sau câu chuyện bức tranh Chân dung bác sĩ Gachet là bi kịch hội họa hiện đại. Xoay quanh bức tranh nổi tiếng của danh họa Hà Lan là phi lí, vô nghĩa cuộc đời; là ngụy tín trong văn học nghệ thuật và những hệ lụy của nó trong đời sống con người. Âu lo, mất niềm tin, xa lạ… những sắc thái hiện sinh đậm nhạt trong câu chuyện nhại trinh thám này.
Từ chân dung Van Gogh đến bi hài trí thức
Đốt. Đốt hết. Lửa từ nhan đề và suốt văn bản. Đốt bức tranh nổi tiếng của danh họa Hà Lan mà cái tên đã làm thảng thốt người đọc. Hồ Anh Thái không đề cập bi kịch cuộc đời của họa sĩ thiên tài, nhưng cho thấy, ẩn sâu trong khuôn mặt khắc khổ, nhàu nhĩ của bác sĩ Gachet trong tranh là nỗi thống khổ cuộc đời Van Gogh – “Nỗi đau mang tên Van Gogh hằn lên khuôn mặt bác sĩ trong tranh, nhăn nheo, ốm yếu”, “Bức tranh chao ôi sao mà cô độc đến thế, hay đó là con mắt nhìn đời của vị họa sĩ tài hoa nhưng không được công nhận?”. Có thể thấy, đằng sau nỗi cô-độc-kép đó là bi kịch lạc thời của người trí thức nghệ sĩ, kể cả bi hài kịch của những kẻ trí thức giả, qua một chất giọng giễu nhại đã thành phong cách của Hồ Anh Thái.

(Nguồn: nxbtre.com.vn)

Nhân vật của Hồ Anh Thái đủ mọi hạng người, phú quí sang hèn, đỉnh cao danh vọng hay dưới đáy, không có điểm nhấn, phi tâm. Nhà văn cũng chẳng ưu ái cho ai hoặc ghét bỏ ai, trừ sự tha hóa con người. Tuy vậy, qua nhiều tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, những kẻ sĩ trí thức thường lưu giữ người đọc lâu hơn. Từ số phận một bức tranh, Hồ Anh Thái khái quát muôn mặt cuộc đời qua những mảnh lắp ghép rời rạc, hỗn độn, thực ảo đan xen. Cuộc rượt đuổi giữa người cố tình đốt tranh (sếp) và người vô tình cứu tranh (anh) dung chứa trong mạch ngầm của nó là bi kịch người trí thức bị ruồng bỏ. Đằng sau cuộc rượt đuổi (vô hình lẫn hữu hình) là chênh vênh giữa khát vọng và thực trạng, giữa cái muốn vươn lên và cái kìm hãm người trí thức. Cuộc đời anh là sự dịch chuyển (tổng biên tập của một tờ báo – phó một ban lâm thời ngồi chơi xơi nước chờ giải tán – giám đốc truyền thông – nhân viên của một tập đoàn lớn), nhưng anh gần với những chân giá trị. Khi cả đám đông lao vào trò chơi nhân đạo, chỉ có anh là khóc thật (dẫu cái sự khóc đó sau này cũng là hệ lụy truy bức anh); chỉ có anh là ám ảnh không dứt vì không cứu được người giữa dòng nước lũ. Giữa biển nước mắt vô cảm của trò chơi từ thiện, chỉ có anh là “khóc vật vã quăng quật, khóc như mưa bão vì tự thấy mình bất lực không cứu nổi một con người”. Trước bức tranh sắp bị đốt, bức tranh mà “xấp xỉ một trăm phần trăm họa sĩ bậc thầy trên thế giới chưa được tận mắt nhìn thấy”, anh đã “linh cảm được ngay rằng đây không phải là tranh chép”, “tim anh đập như đánh trống, mấy ngón tay anh run run, đầu óc anh xây xẩm như máu bỗng ngừng trong huyết quản…”. Và cũng chỉ có anh, khi bức tranh Chân dung bác sĩ Gachet bị tẩy trắng, còn nhìn ra kí hiệu hình vú ở mặt sau, dấu tích của những năm tháng nghệ thuật bị vùi dập vì không theo thị hiếu đám đông. Chỉ có anh là không đeo mặt nạ nên nhiều lần bị chuyển đổi công việc; bị truy đuổi bởi sếp và trên sếp là những thế lực vô hình giăng bủa khắp nơi (lên núi xuống biển lấp mặt giữa đông đúc thị thành hay trốn trong hầm tối, đâu cũng có con mắt nhòm ngó của sếp). Sâu xa hơn, đằng sau anh là những hệ lụy gia đình, là câu chuyện dài về người bố – một trí thức giàu nhiệt huyết, du học nước ngoài trong niềm khát vọng tận hiến. Nhưng thực tế tỉ lệ nghịch với ước mơ hoài bão, cuộc đời anh kỹ sư trẻ là thuyên chuyển, là bất đắc chí, là mòn mỏi, là cái chết trong tủi nhục, trong bóng tối. Bi hài người trí thức còn đậm nhạt ở nhiều số phận. Đó là cô nhà báo mà “người ta nhắc nhiều đến tai nạn của cô hơn là số huy hiệu, huy chương”; là cậu nghiên cứu sinh người Mỹ chung thủy với cô gái Việt, mong mỏi một lần, một khoảnh khắc được đặt chân lên mảnh đất tình yêu, nhưng luôn bị những rào chắn vô hình. Liên tưởng, lan man, phi tâm, không ai là nhân vật chính hay phụ, nhân vật thật hay ảo, nhà văn đã biến truyện thành phim ngay trong văn bản tiểu thuyết của mình. Nhân vật – diễn viên, đạo diễn – nhà văn nhòe mờ. Cảm giác như tất cả đều sắm vai. Tác giả sắm vai dẫn dắt các trường đoạn, sắm vai âm thanh đạo cụ. Vai diễn – vai thật ngoài đời lẫn lộn chẳng còn phân biệt thực hư. Những mảnh đời, những số phận đan chéo nhau, có khi phả lấp vào nhau trên nền một không gian rỗng/trắng đa nghĩa.
Từ số phận một bức tranh đến những bức tranh
Những liên quan về bức tranh Chân dung bác sĩ Gachet của Van Gogh, nhà văn sử dụng thông tin mạng như một hình thức liên văn bản (được vẽ trong thời kì khủng hoảng, bị che chắn lỗ thủng chuồng gà; một tỉ phú người Nhật mua tranh những 82,5 triệu USD chỉ để giấu trong ghế bành và sẽ đốt đi khi chết, một anh sếp Việt Nam đã lặn lội mua được bức tranh với giá gấp đôi, rồi cũng để đốt). Những gì ẩn đằng sau bức tranh có số phận không bình thường đó mới là điều đáng nói.
Xoay quanh bức tranh bị che chuồng gà và những bức tranh trắng là thật giả lẫn lộn, các chân giá trị bị tiêu hủy, giả đạo đức, ngụy tín lên ngôi. Vấn đề là cả một đám đông không ai nhận ra sự giả trá. Cả đám đông chơi trò sáng mắt nhưng lại lạc vào cõi vô minh, vào “chốn sương mù”. Duy nhất chỉ có cô diễn viên/cô gái H’Mông lai Kinh là thấy chữ, thấy tranh. Gọi em là gì cũng được bởi em không có nhân thân (là cô học sinh mà chàng trai người Mỹ yêu cuồng nhiệt thủy chung, là người chị điên vì cái chết tức tưởi của đứa em trai, là cô gái H’Mông mắt xanh tóc vàng, cô gái có đứa con lai như một con búp bê Tây, cô diễn viên đẹp đóng vai im lặng, không đọc được kịch bản vì hễ thấy chữ là choáng váng). Gọi em là gì cũng được bởi em bị đánh vắng, đánh tráo, bị triệt tiêu tiếng nói trong cái mê-cung-trống-rỗng ấy: “Những giá sách cao ngất chạm trần”; “San sát. Tầng tầng lớp lớp… những vật thể chứa chữ… trưng bày tri thức của chủ nhà”. Gọi em là gì cũng không sai, nhưng duy nhất em là người nhìn thấy trong những quyển sách bìa cứng mạ vàng uy nghiêm trên kệ sách của ông sếp là những trang giấy hoàn toàn trắng. Cuốn nọ chồng xếp cuốn kia, tầng tầng lớp lớp trắng xóa, hoàn toàn không có chữ; nhưng những con chữ vô hình lại phát lên hình ảnh, âm thanh lôi cuốn cô gái hễ thấy chữ là đau đầu. Cô mải mê, đắm chìm trong một thế giới trắng đầy màu sắc, chuyện trò với chữ, sống trong từng con chữ không hiện hình. Kể cả những bức tranh cô phác họa cũng toàn là màu trắng. Những gì người khác không thấy cô lại thấy và vẽ lại bằng sự im lặng trắng. Ẩn sau những tấm toan bôi sơn dầu hoàn toàn trắng là bạo chúa Nero và cảnh thành Rome đang cháy, là “xoáy nước trong làng quê mùa lũ;… xoáy nước mùa mưa nước ngập đường phố”, là chìm nổi những phận người …. Tất cả đều trắng kể cả lửa. Lửa màu trắng. Tiểu thuyết Hồ Anh Thái thường có một cõi vô minh như thế. Trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi, trong “cái tăm tối mù lòa ngu dốt. Cả thế gian cùng lúc chìm trong vô minh” cũng chỉ Savitri – nữ thần đồng trinh – nữ thần dục vọng, là nhìn xuyên được cõi vô minh ấy. Với cô gái nửa H’Mông nửa Kinh bị đánh tráo, không tên, từ chỗ ngộ chữ đến chỗ bừng ngộ – giữa cõi vô minh mù mờ, chỉ có em là sáng, là thật. Trắng như một trạng thái im lặng tuyệt đối. Từ sự im lặng trắng đó, dồn dập, đan xen, cùng va đập những âm thanh cuộc đời. Lạ thay cái thế giới ảo mà cô đang chìm đắm mới chính thực là cuộc đời – “những cuộc đời rất lạ. Những cuộc đời rất quen”. Đa dạng đời và hư vô đời. Trắng trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái biểu hiện hư vô đời người.
Trong tạp văn Lang thang trong chữ, Hồ Anh Thái luận về con mắt hội họa: “Khi họa sĩ đã thành thạo kỹ thuật, đã vượt qua cơ bản, thì họa sĩ vẽ như trẻ con vẽ. Người sành chỉ nhìn biết đâu là tranh của trẻ con, đâu là tranh của bậc thầy”. Trước những bức tranh trắng, nhà văn luận bàn: “Tranh cũng như nhạc không lời, không cần hiểu mà chỉ cần cảm”. Con-mắt-hội-họa của đám đông về những bức tranh trắng nói lên bi kịch nghệ thuật lừa dối, hình thức, háo danh, những bức tranh như một sự đánh lừa thị giác. Màu trắng trong suốt lại trở thành tấm gương phản ánh những phi lí cuộc đời. Cả một đám đông lao vào trò chơi sáng tạo, phê bình, bôi trơn, đấu hót. Không ai nhìn nhận đây là những bức tranh trắng. Những trí thức nghệ sĩ khen ngợi, gọi lên những cái tên mĩ miều. Cơn vĩ cuồng tri thức khiến hàng loạt những bức trắng bỗng có tên. Bởi “hành nghề nghệ thuật thị giác mà thú nhận rằng mắt mình không thấy thì như đàn ông phải tự thú mình đang uống viagra”. Thế là lễ đặt tên tranh trở thành đại lễ thiêng liêng (đầy-giễu-nhại) như “lễ đặt tên con của một số bộ tộc. Lễ cắt bao quy đầu của đám trẻ con Hồi giáo và Do Thái giáo”. Thế là “tuôn ra những là Tảng băng trôi với Hôn lễ trắng, Góa phụ trắng, Hai bàn tay trắng, Cuộc tình màu trắng… Những bức tranh lần lượt đều có tên. Có bức vài ba cái tên. Thêm Giao hưởng trắng, Khói trắng, Những cuộc tình màu trắng. Nhiều trắng quá”. Phì đại, lấn chồng. Từ một bức tranh trắng nhân bội lên nhiều bức tranh. Trắng (vô hình vô dáng vô màu) hiện diện xuyên khắp, như một kí hiệu đa bội, gắn kết các mảnh, các mã văn hóa. “Trắng. Tổng hợp của tất thảy các màu trên thế gian này. Là màu của mọi màu. Là ánh sáng của mọi ánh sáng. Cảm xúc của mọi cảm xúc. Lời của mọi lời. Vua của màu sắc. Vua của thị giác. Vua của cảm giác. Vua của ngôn ngữ”. Tính không xác định của màu trắng lại gợi bảng phổ quang cuộc đời, hiện hữu hỗn độn đó rồi mờ nhòe cũng đó. Trắng thể hiện một ảnh tượng siêu hình về ý nghĩa cuộc đời.
Tiểu thuyết Hồ Anh Thái thường gây ấn tượng ở phần kết. Dẫu đã hé mở ngay từ đầu, nhưng thật bất ngờ, lẫn trong những bức tranh trắng đa nghĩa là bức họa Chân dung bác sĩ Gachet hóa trắng “trống trơn trống rỗng trống vắng”. Bức danh họa với những vệt vàng kiểu Van Gogh bỗng trắng trơn. Nhưng những gì là chân giá trị vẫn tồn tại. Kí hiệu hình vú ở mặt sau bức tranh đã nói lên tất cả: “Một vết rách hình chữ V nằm ngang. Chính xác nó là thế này: >. Vết rách hình vú. Breast-shaped”. Đây là dấu hiệu của bức tranh thật (khi che chắn chuồng gà bức tranh bị một vết rách), từ một góc nhìn nó trở thành một kí hiệu thẩm mĩ mang ý nghĩa hủy diệt và tái tạo. “Nó đấy. Nó kia. Nó hiển hiện và bảo rằng tôi đây. Tôi đây”. Hơn 300 trang tác phẩm với ngổn ngang bi hài kịch khép lại bằng kí hiệu vết vá hình vú, tại thời điểm kết thúc một cuộc truy lùng còn dang dở. Dẫu bức tranh có bị trắng hóa thì Breast-shaped vẫn còn đó như một giá trị đích thực. Không gì xóa được. Đốt. Bôi trắng. Bằng mọi cách, tranh Van Gogh vẫn nhàu-nhĩ-nguyên-vẹn. “Thế này:> ”.

LÊ THỊ HƯỜNG