Đôi nét về lứa nghiên cứu phê bình văn học nữ chủ lực hiện nay

43

VNTN – Văn đàn Việt 20 năm đầu thế kỷ XXI, mà chủ yếu là ở thập niên thứ hai, có sự trình hiện của một thế hệ nhà nghiên cứu phê bình văn học nữ (gọi tắt là nghiên cứu phê bình nữ) 7x, 8x đông đảo, bên cạnh thế hệ nghiên cứu phê bình nữ 6x trở về trước đã ổn định tên tuổi (Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào, Thụy Khuê, Nguyễn Thị Bình, Tôn Phương Lan, Lý Hoài Thu, Nguyễn Bích Thu, Nguyễn Thị Thanh Xuân, Trần Thị Phương Phương, Lê Thị Hường, Trần Thị Việt Trung, Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyễn Thị Từ Huy, Đoàn Cầm Thi, Cao Thị Hồng…), và lứa nghiên cứu phê bình nữ 9x rải rác manh nha (Hiền Trang, Đặng Thị Thái Hà, Phạm Phú Uyên Châu, Hồ Tiểu Ngọc, Vũ Thị Kiều Chinh…), và đương nhiên là còn bên cạnh một lực lượng nghiên cứu phê bình nam nhiều thế hệ.
Thế hệ nghiên cứu phê bình nữ 7x, 8x có thể kể gồm Lê Hồ Quang, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Trần Huyền Sâm, Hoàng Thị Huế, Lê Tú Anh, Hoàng Thụy Anh, Thái Phan Vàng Anh, Đỗ Hải Ninh, Lê Hương Thủy, Trần Lê Hoa Tranh, Thanh Tâm Nguyễn, Nguyễn Thị Phương Thúy, Cao Kim Lan, Diêu Lan Phương, Trần Thị Mai Nhân, Hoàng Cẩm Giang, Nguyễn Thị Tuyết Minh, Mai Thị Hồng Tuyết, Bùi Bích Hạnh, Nguyễn Thị Bình, Trần Thị Ánh Nguyệt, Mai Thị Liên Giang, Đỗ Thị Thu Huyền, Huỳnh Thu Hậu, Lương Kim Phương, Trần Hoàng Thiên Kim, Đào Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Kim Ngân, Lê Thị Thanh Tâm, Nguyễn Thị Hưởng, Thy Lan, Nguyễn Thị Thúy Hạnh, Nguyễn Thị Hồng Hoa… Đây là lứa nghiên cứu phê bình nữ chủ lực, làm nên sắc diện của nghiên cứu phê bình nữ nói chung hiện thời. Lứa nghiên cứu phê bình nữ 7x, 8x này hiện làm việc ở các viện nghiên cứu, các trường đại học, các tạp chí khoa học hoặc văn nghệ, đa phần có học vị tiến sĩ, nhiều người có học hàm phó giáo sư.
Nếu so sánh với đội ngũ nghiên cứu phê bình nam cùng thế hệ gồm những cái tên như Phùng Gia Thế, Phạm Xuân Thạch, Bùi Thanh Truyền, Phạm Duy Nghĩa, Hoài Nam, Cao Việt Dũng, Trần Văn Toàn, Nguyễn Thanh Tâm, Trần Ngọc Hiếu, Mai Anh Tuấn, Phan Tuấn Anh, Nguyễn Mạnh Tiến, Phùng Ngọc Kiên, Trần Thiện Khanh, Đoàn Minh Tâm, Đỗ Văn Hiểu, Đoàn Ánh Dương, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Trọng Hoàng Linh, Hoàng Phong Tuấn, Phạm Văn Vũ, Trần Viết Thiện, Lê Nguyên Long, Phạm Văn Hưng…, thì đội ngũ nghiên cứu phê bình nữ 7x, 8x không hề thua kém về số lượng, nếu không nói là có phần nhỉnh hơn. Và đặc biệt, trong khi nhiều cây bút nam đồng lứa mặc dù xuất hiện đều đặn thường xuyên trên các diễn đàn nghiên cứu phê bình nhưng vẫn chưa có đầu sách xuất bản, thì đa phần cây bút nữ 7x, 8x kể trên mỗi người đã xuất bản từ 1 đến 4 đầu sách. Hiện tượng có vẻ như “nữ thịnh nam suy” này có thể được lý giải ở đặc thù ngành học ngay từ khâu tuyển sinh đầu vào. Ngành ngữ văn ở các trường đại học chẳng hạn bao giờ cũng thu hút người nữ, số sinh viên nam theo học ngành này thường khi chỉ đếm trên đầu ngón tay. Khi người ta mặc định rằng học văn rất nhẹ nhàng, học như chơi (“dạy toán, học văn, ăn thể dục”), thì có đông người nữ chọn học văn là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, nghiên cứu phê bình văn học lại là chuyện khác, là lĩnh vực đòi hỏi nhiều lao tâm khổ tứ, vậy mà vẫn có đông người nữ chấp nhận dấn thân, kiên gan bền chí với nó, thì những người này quả đã vượt lên… “nữ nhi thường tình”.

 

Tác giả bài viết và một số cây bút nghiên cứu phê bình nữ 7x, 8x

Có thể nói, thời gian qua, đội hình nghiên cứu phê bình nữ 7x, 8x đã “ra sân” khá ấn tượng thuyết phục. Các công trình đã xuất bản của họ tiếp cận và nhập cuộc khá nhanh nhạy với những lý thuyết mới mẻ như thi pháp học, nữ quyền, sinh thái, ký hiệu học, hậu hiện đại (trò chơi, nghịch dị, trung tâm/ ngoại biên, lưu vong, cái khác…)…, và dường như “bao sân” văn học. Không chỉ “trực chiến” với văn học Việt Nam đương đại (Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI – lạ hóa một cuộc chơi – Thái Phan Vàng Anh, Ý thức nữ quyền và thơ nữ Việt Nam đương đại từ 1986 đến nay – Nguyễn Thị Hưởng, Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI – cấu trúc và khuynh hướng – Hoàng Cẩm Giang, Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương – Nguyễn Thị Tịnh Thy, Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại – Trần Huyền Sâm), mà còn lần giở để đọc lại các vùng mảng văn học của dân tộc tưởng như đã “đóng khung”, “đông kết” (Folklore và văn học viết – Nguyễn Thị Kim Ngân, Tiểu thuyết Việt Nam 1900-1930 – Lê Tú Anh, Thơ mới nhìn từ quan hệ văn hóa, văn học – Hoàng Thị Huế, Thơ trẻ Việt Nam 1965-1975 – khuôn mặt cái tôi trữ tình – Bùi Bích Hạnh). Từ đề tài chiến tranh (Văn học chiến tranh từ góc nhìn thể loại – Đỗ Thị Thu Huyền), đến đề tài tha hương (Đề tài tha hương trong văn xuôi Việt đầu thế kỷ XXI – Lê Tú Anh), đến đề tài thiếu nhi (Bí mật tuổi trăng non – Thanh Tâm Nguyễn). Từ bộ phận văn học Phật giáo (Thơ ca Phật giáo Việt Nam – Đông Á nhìn từ mỹ học thiền – Lê Thị Thanh Tâm), đến bộ phận văn học dân tộc thiểu số (Thơ dân tộc Tày sau năm 1975 – Đỗ Thị Thu Huyền), đến bộ phận văn học miền Nam (Văn chương phương Nam – một vài bổ khuyết – Nguyễn Thị Phương Thúy viết chung cùng Võ Văn Nhơn), đến bộ phận văn học hải ngoại (Đề tài tha hương trong văn xuôi Việt đầu thế kỷ XXI – Lê Tú Anh). Từ thể loại tiểu thuyết (Những đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam trong 15 năm cuối thế kỷ XX – Trần Thị Mai Nhân), đến thể loại truyện ngắn (Truyện ngắn Việt Nam đương đại – diễn trình và động hướng – Lê Hương Thủy), đến thể loại thơ (Bản xo-nat thi ca – Hoàng Thụy Anh, Thơ nữ Việt Nam hiện đại từ thế kỷ XX đến nay – Trần Hoàng Thiên Kim), đến thể loại trường ca (Trường ca Việt Nam hiện đại – diễn trình và thi pháp – Diêu Lan Phương). Từ các tác giả tác phẩm “trung ương” (Âm thanh của tưởng tượng – Lê Hồ Quang), đến các tác giả tác phẩm “địa phương” (Mạch ngầm con chữ, Những cánh đồng mang gương mặt người – Thy Lan/ Thanh Hóa, Cuộc phiêu lưu của chữ – Huỳnh Thu Hậu/ Quảng Nam, Tái sinh trong ánh sáng – Lương Kim Phương/ Hải Phòng). Từ văn học Việt Nam (như các công trình đã kể), đến văn học thế giới (Tiểu thuyết phương Tây hiện đại và các hướng tiếp cận – Trần Huyền Sâm, Nhà văn Nhật Bản thế kỷ XX – Đào Thị Thu Hằng)…
Dễ nhận thấy, các nhà nghiên cứu phê bình nữ nói chung và thế hệ nghiên cứu phê bình nữ 7x, 8x nói riêng đã phát huy thiên tính nữ của mình khi làm nghề. Họ soi chiếu và giải phẫu các hiện tượng văn học nhiều khi bằng “điểm nhìn bên trong”, “lấy hồn ta để hiểu hồn người”. Họ cẩn trọng, chừng mực trong việc đưa ra nhận định, đánh giá. Văn nghiên cứu phê bình của họ tinh tế, nhẹ nhàng, mềm mại. Điểm mạnh này đồng thời dẫn đến điểm hạn chế của nghiên cứu phê bình nữ: tròn trịa, “phải đạo”, thiếu giọng, ít góc cạnh, ít cá tính. Rất nhiều người trong số tác giả nghiên cứu phê bình nữ 7x, 8x kể trên không phải là nhà nghiên cứu phê bình chuyên nghiệp với nghĩa là chuyên tâm chuyên chú, xuất hiện thường xuyên đều đặn trên các diễn đàn. Mặc dù những người này đã có đầu sách được xuất bản, nhưng đầu sách đó được “chuyển thể” từ luận văn, luận án, đề tài khoa học. Cũng vì “tiền thân” là luận văn, luận án, đề tài, nên những cuốn sách này không nhiều hàm lượng tư kiến, chủ kiến, “của riêng” của tác giả; nặng về hàn lâm nghiên cứu, ít bay bổng thăng hoa phê bình…
Có người cho rằng, dân sáng tác nữ thì có rất nhiều tên tuổi lớn, không hề kém cạnh dân sáng tác nam; riêng về nghiên cứu phê bình, so với phái nam thì phái nữ có phần “lép vế”. Nếu quan sát kỹ bức tranh văn học dân tộc cổ kim thì thấy nhận định này có vẻ có căn cứ. Chẳng hạn như, từ văn học trung đại đến văn học trước Đổi mới, nếu dễ dàng kể tên những nhà văn/ thơ nữ nổi bật như Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Đạm Phương nữ sĩ, Anh Thơ, Sương Nguyệt Ánh, Vân Đài, Mộng Tuyết, Cẩm Lai, Thúy Bắc, Xuân Quỳnh, Lê Minh Khuê, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Thị Xuân Quý, Lê Thị Mây…, hay những nhà nghiên cứu phê bình nam tiêu biểu như Lý Tế Xuyên, Phan Phu Tiên, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Lê Hữu Trác, Phan Huy Chú, Miên Thẩm, Thiếu Sơn, Hải Triều, Nguyễn Văn Hạnh, Hoài Thanh, Trương Tửu, Đặng Thai Mai, Nguyễn Văn Trung, Phan Ngọc…, thì lại rất khó trong việc kể tên một số nhà nghiên cứu phê bình văn học nữ. Hay, chẳng hạn như, nếu nhìn gần vào đội hình cầm bút thế hệ 7x, 8x nói chung, sẽ thấy tên tuổi những nhà nghiên cứu phê bình nữ có phần mờ nhạt hơn so với những nhà văn/ thơ nữ như Đỗ Bích Thúy, Phan Huyền Thư, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp, Phan Hồn Nhiên, Tống Ngọc Hân, Vi Thùy Linh, Nguyễn Thị Kim Hòa, Vũ Thanh Lịch…, hay những nhà văn/ thơ nam như Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Đình Tú, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Uông Triều, Đoàn Văn Mật, Đinh Phương…, hay thậm chí những nhà nghiên cứu phê bình nam như Trần Ngọc Hiếu, Phạm Xuân Thạch, Phùng Gia Thế, Hoài Nam, Mai Anh Tuấn, Đoàn Ánh Dương, Cao Việt Dũng…
Vượt lên những giới hạn chủ quan và khách quan, những cây bút nghiên cứu phê bình nữ nhiều thế hệ đã dấn nhập, đặc biệt là sống trải với văn chương cùng thời, can dự vào diễn trình và động hướng của văn học dân tộc, và cả văn học thế giới. Những năm gần đây, một số giải thưởng văn học nghệ thuật uy tín đã vinh danh nhà nghiên cứu phê bình nữ. Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2015 xướng tên Lê Hồ Quang (sinh năm 1974) với tác phẩm Âm thanh của tưởng tượng; năm 2016: Trần Huyền Sâm (sinh năm 1973) với tác phẩm Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại; năm 2018: Trần Thị Phương Phương với tác phẩm Văn học Nga hiện đại – những vấn đề lý thuyết và lịch sử; năm 2019: Lý Hoài Thu với tác phẩm Những sinh thể văn chương Việt. Hay Giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm (2014-2019) của Bộ Quốc phòng đã trao Giải B cho tác giả Tôn Phương Lan với tác phẩm Âm vang từ chiến tranh. Đây có thể coi là một trong những chỉ dấu khẳng định sự hiện diện với ít nhiều uy tín nghề nghiệp của nghiên cứu phê bình nữ nói chung, nghiên cứu phê bình nữ thế hệ 7x, 8x nói riêng trong đời sống văn học hôm nay.

HOÀNG ĐĂNG KHOA