Cựu binh – doanh nhân Phạm Văn Quang: “Có những điều tôi khắc ghi cho đến chết”

215

VNTN – Đi qua hai cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước từ chống Mỹ đến chiến tranh biên giới phía Bắc 1979, vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 197 Bắc Thái năm xưa – trung tá Phạm Văn Quang yếu đuối hơn tôi tưởng. Khi trò chuyện về quá khứ, về những kỷ niệm chiến trường, sự hy sinh của đồng đội…, ông nghẹn ngào và khóc.  

 

 

Lẽ thường, con người ta luôn có xu hướng muốn quên đi ký ức buồn đau trong quá khứ. Nhưng thực tế cũng chứng minh, với những người từng đi qua chiến tranh, không điều gì có thể khiến họ quên lãng. Từng là một người lính, ông có thể chia sẻ đôi chút về điều này?

Ông Phạm Văn Quang: Thế hệ của chúng tôi, những hi sinh, mất mát, gian khổ đã nếm trải là sự cống hiến thanh xuân rực rỡ nhất cho Tổ quốc, cho nền độc lập tự do. Rất nhiều người, trong đó có tôi xem điều ấy là vinh quang, là cơ hội để đóng góp, từ đó mà trưởng thành, tự hào vì mình đã sống có ích cho xã hội, cho đất nước. Không phải nói quá đâu, nhưng quả thật niềm vui của những trận thắng cùng hành trình gian khổ đã qua, là cả trời kỷ niệm mà có dùng bao nhiêu tiền cũng không đổi được.

Gần 30 năm trong nghiệp nhà binh, quả thật đó không phải là câu chuyện của một thời, mà là của cả một đời…

Ông Phạm Văn Quang: Tôi đã lớn lên trong kháng chiến chống Pháp, trở thành người lính thời chống Mỹ và trong chiến tranh biên giới. Ngày bé, tôi rất thích xem phim ảnh về chiến đấu, thích học lịch sử và tìm hiểu về các anh hùng dân tộc, các trận đánh… 19 tuổi tôi nhập ngũ (tháng 1/1966), được biên chế vào Khẩu đội 12 ly 7, Tiểu đoàn 10, Trung đoàn 4, Sư đoàn 250B. Bởi ước muốn nung nấu là trở thành chiến sĩ giỏi, nên tôi học tập rất hăng say, được kết nạp Đảng ngay trong thời gian huấn luyện. Tháng 9/1966 đơn vị hành quân vào Nam. Bộ hành hơn 5 tháng thì tới Tây Ninh, mặt trận miền Đông Nam bộ, lập tức chiến đấu chống những cuộc đột kích bằng trực thăng rất quy mô trong chiến dịch Junction City của Mỹ lúc bấy giờ. Không thể nhớ nổi đã kháng cự bao trận dội bom, càn quét… điên cuồng và khốc liệt của Mỹ trong hơn 8 năm ở mặt trận này.
Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi được nghỉ phép về quê hơn một tháng. Tìm hiểu và lấy vợ xong, trở lại đơn vị một thời gian thì được điều động sang Phòng quân giới Cục Hậu cần Quân khu 7. Năm 1977 được điều sang mặt trận tiền phương Campuchia, tháng 8/1978 thì nhận lệnh về nước và chuyển ra Bắc. Ra Thái Nguyên, tôi được biên chế về Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 197 Bắc Thái với nhiệm vụ trợ lý tham mưu tiểu đoàn. Lúc này đã nghe các cơ quan báo đài thông tin, Trung Quốc muốn lấy đất nước ta làm ao vườn của họ. Tôi được giao nhận quân của Nhà máy Gang thép đưa lên Võ Nhai huấn luyện. Thời gian ấy, tôi đã cùng đoàn các cán bộ, sĩ quan chủ chốt của Trung đoàn đi thị sát ở Lạng Sơn, nắm bắt địa hình, khi có chiến sự thì ta sẽ đóng quân ở đâu, phục kích chỗ nào…
Khi Trung Quốc đưa quân nổ súng tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta, Tiểu đoàn 1 có 518 người đã hành quân lên mặt trận Đồng Đăng, Lạng Sơn, trực tiếp chiến đấu trên trận địa. Sau khi Trung Quốc rút đi, tôi được điều chuyển sang làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, tiếp tục tham gia trận tuyến phòng ngự ở cửa khẩu Hữu Nghị Quan (Lạng Sơn) tới năm 1984 thì được về, đảm nhận nhiệm vụ Chỉ huy phó động viên của Thành đội Thái Nguyên, làm công tác tuyển quân. Công tác ở đó đến năm 1993 thì về nghỉ hưu với quân hàm trung tá.

Trong chiến tranh, ta không thể xác quyết cuộc chiến nào khốc liệt hơn cuộc chiến nào, chỉ biết rằng ở lằn ranh sinh tử, những người lính luôn có thể xác quyết về tâm thế chiến đấu, về niềm tin chiến thắng khi xung trận. Về điều này, hẳn là ông đã cảm nhận rất rõ?

Ông Phạm Văn Quang: Đúng vậy! Chúng tôi ra trận và luôn xác định hi sinh, mất mát là không tránh khỏi. Cái chết ở chiến trường quả thật nhẹ nhõm lắm, vì chẳng ai nghĩ ngợi gì nhiều cả. Mọi người đều chú tâm nghĩ về chiến thuật chiến đấu, xem súng đạn của mình ra sao, đường hào chạy thế nào, dây giầy thắt đảm bảo chưa… Đội ngũ lính tráng so về trình độ, nhận thức tuy có khác nhau, nhưng ý nghĩ về cuộc chiến trước mắt thì luôn giống nhau. Trước sự tàn bạo của kẻ địch, chúng tôi chỉ mang theo lòng căm thù, quyết tâm phải chiến thắng mà thôi.

Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 dù ngắn ngủi nhưng cấp bách, khiến Đảng và Nhà nước ta đã phải ra lệnh tổng động viên. Thời điểm ấy, những người thợ, công nhân Gang thép nói riêng, thanh niên toàn tỉnh Thái Nguyên nói chung dù không có thời gian huấn luyện vẫn sẵn sàng lên đường cầm súng chiến đấu. Ông có thể chia sẻ một chút về tình hình lúc ấy?

 

Ông Phạm Văn Quang trên cao điểm 559, mặt trận phòng tuyến Lạng Sơn năm 1979.

Ông Phạm Văn Quang: Với các cuộc kháng chiến trường kỳ như chống Pháp, chống Mỹ, bộ đội trước khi ra chiến trường được huấn luyện rất bài bản. Nhưng chiến tranh biên giới thì không được như vậy vì rất bất ngờ. Chúng ta không thể lường định đích xác quân xâm lược sẽ vào đường nào, cứ điểm nào, nên nhu cầu xây dựng phòng tuyến rất cấp bách, đòi hỏi về lực lượng cũng rất gấp gáp. Công nhân Gang thép nói riêng, thanh niên toàn Thái Nguyên nói chung, có những người được huấn luyện chút ít, có người thì chưa, nhưng tinh thần quả cảm của giai cấp công nhân, ý thức kỷ luật tự giác, tính tập thể rất cao. Đơn vị Tiểu đoàn 1 của tôi lúc bấy giờ, hầu hết các anh em đều là lực lượng tự vệ của nhà máy, đã được huấn luyện cơ bản về kỹ năng tác chiến. Chúng tôi đã chiến đấu suốt gần 20 ngày ròng rã, chặn đứng không cho địch vượt qua trạm chốt cây số 5 tại phòng tuyến Đồng Đăng, Lạng Sơn. Tình thế cấp bách, không tương quan lực lượng đôi bên nên thương vong không ít, nhưng anh em kiên cường bám trụ.

Nhớ về những tháng ngày ấy, về đồng đội, về những hi sinh mất mát, hẳn là ông có nhiều những kỷ niệm mà hôm nay sẽ lần đầu được kể?

Ông Phạm Văn Quang: Cái tình đồng đội trong chiến tranh nó lớn lắm. Trải bao khó khăn gian khổ, chúng tôi chia sẻ với nhau từng nhúm cơm, bánh lương khô bẻ làm 4, 5 phần, bi đông còn lại chút nước hiếm hoi, mọi người chỉ thè lưỡi ra nếm cho bớt khát. Có những khi chiến đấu trên cao điểm suốt gần 10 ngày liên tục không được tắm, ai nấy mặt mũi đều nhuộm đen thuốc súng và bụi đất.
Nhớ nhất những ngày trên tuyến biên giới Lạng Sơn, sau những trận giáp lá cà bằng báng súng, lưỡi lê, nhiều người đã hi sinh. Khi đi tìm xác đồng đội, gỡ ra có người còn thở, nhưng họ vẫn lo cho các đồng chí của mình, bảo “các anh cứ đi đi để tôi nằm đây, tôi không sống được nữa đâu”. Nghe mà thương đứt ruột. Có lần xe tăng địch ở dưới chân đồi bắn lên trận địa, tôi kêu gọi tinh thần xung phong áp sát tiêu diệt xe tăng. Vừa dứt lời đã có chiến sĩ nhào xuống, đạn pháo bắn liên tục, đồng chí ấy bị thương. Được đồng đội đưa về băng bó, vừa xong thì đồng chí ấy lại chạy ra, chấp tay xin thủ trưởng cho chiến đấu tiếp.

Tôi cưới vợ được thời gian ngắn thì đi Campuchia, về lại đi biên giới. Sau khi Trung Quốc rút thì tôi và các đồng đội vẫn phòng ngự ở các cao điểm 607, 559 cửa khẩu Hữu Nghị Quan. Cuối năm 1980, một hôm đang trên chốt, tôi nhận điện thoại gọi đến từ Trung đoàn, báo về đấy gấp. Vừa đi vừa hồi hộp chẳng biết có chuyện gì, tới nơi thì thấy vợ cùng hai con dắt díu lên tìm. Ở được một đêm thì ngày hôm sau cậu con trai chưa đầy tuổi cứ ngất lên ngất xuống, mặt mày xanh xám vì không chịu nổi không khí rừng núi khắc nghiệt, tôi phải ra sức khuyên vợ đem con về. Xa chồng đằng đẵng như thế, cũng đâu vui sướng gì mà đèo bòng nhau lên nơi đầu súng đâu. Những điều đó, tôi khắc ghi cho đến chết.

Được biết, sau khi nghỉ hưu, ở tuổi gần 50 ông mới bắt đầu công cuộc làm kinh tế, mọi chuyện bấy giờ có suôn sẻ?

Ông Phạm Văn Quang: Năm 1993 tôi rời quân ngũ. Cuộc sống lúc đó khó khăn lắm. Bao năm đi bộ đội lương ba cọc ba đồng, vợ chồng chèo chống nuôi 3 con, thiếu thốn đủ thứ. Quyết chí làm ăn, tôi đã phải đem bán những tư trang của mình (mũ cối, áo dạ, giày, bi đông…) để lấy chút vốn. Rồi tôi vận động vợ lúc ấy đang làm kỹ sư vô tuyến của bưu điện tỉnh nghỉ việc về cùng nhau lập nghiệp. Tôi xuống Hà Nội đi buôn hàng điện tử. Vợ tôi vốn am hiểu về các tính năng, cách sử dụng nên giới thiệu được với khách hàng. Rồi chúng tôi nhận sửa chữa những món đồ hỏng hóc nữa.
Tôi làm kinh doanh theo phép tính cộng, chậm mà chắc. Những ngày về Hà Nội đi buôn (1994), tôi gặp được người bạn chiến đấu năm xưa đang kinh doanh và là nhà phân phối cho hãng điện tử Samsung. Thế là bắt tay hợp tác với nhau. Ấn tượng với hiệu quả tiêu thụ, thấy được năng lực, cách bày biện, doanh số cửa hàng cao, đại diện phía Hàn Quốc tiếp xúc và thích tư duy, chiến lược của tôi nên đã đãi ngộ cho tôi làm đại lý cấp 1, đưa sang Hàn Quốc tham quan thị trường, học hỏi cách thức bán hàng. Đến năm 2000, hãng JVC của Nhật cũng tìm đến tôi để mở rộng thị trường của họ. Thấy phương thức kinh doanh rất minh bạch và thuận lợi nên tôi chuyển hẳn sang làm đại lý phân phối hàng Nhật. Được họ đãi ngộ đi tham quan nhiều nước châu Âu, hỗ trợ kinh phí thuê mặt bằng kinh doanh hàng tháng… Năm 2004, cửa hàng được mở rộng và có đông nhân viên, tôi đã tìm hiểu để thành lập Công ty TNHH Thương mại điện tử Quang Thái. Duy trì hình thức kinh doanh bán buôn, làm nhà phân phối là chính và có cửa hàng bán lẻ. Thành công đạt được cũng là nhờ có bệ đỡ từ các tập đoàn như vậy.

Ông Phạm Văn Quang nhận Bằng khen “Doanh nghiệp xuất sắc – Doanh nhân tiêu biểu, năm 2018, của UBND TP. Thái Nguyên.

Khi dấn thân vào thương trường, tôi xác định nó khốc liệt không kém chiến trường. Nhưng hay ở chỗ, những kinh nghiệm trận mạc khi áp dụng vào kinh doanh cũng rất có lợi. Cái ý chí của người lính là đề cao khát vọng, niềm tin cho những dự tính. Ở chiến trường kế hoạch một thì biện pháp phải mười, trong kinh doanh cũng vậy, phải có chiến lược và nhiều biện pháp thực hiện để đi đến đích. Nhưng tôi cũng phải đấu tranh thay đổi tư duy, hạn chế tối đa cái “tôi” là chỉ huy trong quân đội đi. Cóp nhặt từng đồng, tôi phải đi lắp đặt từng chiếc ti vi, nghe phàn nàn, cáu gắt từ khách hàng nhỏ tuổi hơn mình. Năm 2009, việc kinh doanh bị ảnh hưởng do hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, tưởng như cơ nghiệp đi hết. Nhưng cũng nhờ sự quyết đáp mạnh mẽ mà xoay xỏa qua được, đến năm 2011 tình hình ổn định thì tiếp tục gây dựng lại.

Dẫu biết “thương trường như chiến trường”, song điều gì đã cho ông động lực để dấn thân như vậy?

Ông Phạm Văn Quang: Phải thẳng thắn mà nói, tôi là người có bản lĩnh kiên định, luôn tin tưởng ở bản thân. Khi làm kinh doanh, những giá trị được sản sinh, cụ thể là tài chính – nó có động lực thúc đẩy rất lớn. Khi tôi có cơ sở vật chất tốt, đời sống đủ đầy hơn, con cái được chăm lo ăn học đàng hoàng, có điều kiện lo cho sức khỏe… Đồng thời nó cũng tạo điều kiện để tôi có thể tham gia đóng góp vào xã hội, ủng hộ người khó khăn, giúp đỡ đồng đội, bạn bè… Được chia sẻ cảm thấy vui vẻ, cảm nhận mình vẫn rất tươi trẻ dù ở tuổi thất thập cổ lai hy rồi.

Michael Gerber – người sáng lập công ty đào tạo kỹ năng kinh doanh nổi tiếng thế giới từng nói đại ý rằng, những doanh nhân nhìn đâu cũng thấy cơ hội trong khi nhiều người khác chỉ thấy toàn khó khăn. Ông nghĩ sao về điều này?

Ông Phạm Văn Quang: Nó đúng tuyệt đối đấy. Hiện nay tôi không chỉ kinh doanh, phân phối mặt hàng điện tử điện lạnh, mà còn đầu tư thêm các lĩnh vực khác như thời trang, làm đẹp… Tôi luôn nhìn thấy cơ hội để tìm ra thứ người dùng cần chứ không phải bán thứ mình có.

Trân trọng cảm ơn ông đã dành thời gian trò chuyện cùng VNTN. Kính chúc ông luôn dồi dào sức khỏe, có nhiều thành quả trong công việc và niềm vui trong cuộc sống!

-Ông Phạm Văn Quang, sinh năm 1947, hiện sống tại tổ 21, phường Phan Đình Phùng, TP. Thái Nguyên.
-Nguyên là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 197 Bắc Thái.
-Hiện là Giám đốc Công ty TNHH Thương mại điện tử Quang Thái; Chủ tịch Hội Doanh nghiệp thành phố; Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên; Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ người tiêu dùng tỉnh.
-Được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Kháng chiến hạng Ba; nhiều bằng khen, giấy khen của Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam, của UBND tỉnh Thái Nguyên vì đã có thành tích cống hiến cho cộng đồng doanh nghiệp, sự nghiệp doanh nghiệp…

LÊ ĐÌNH (thực hiện)