Trách nhiệm xã hội của nhà văn

221

VNTN – TRONG NHIỀU ĐIỀU MÀ NGƯỜI VIẾT QUAN TÂM THÌ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI LUÔN LÀ MỘT VẤN ĐỀ RẤT ĐƯỢC CHÚ TRỌNG. XOAY QUANH VẤN ĐỀ NÀY, NHÀ VĂN HỒ THỦY GIANG ĐÃ CÓ CUỘC TRÒ CHUYỆN CÙNG VỚI NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CAO THỊ HỒNG, NHÀ THƠ PHẠM VĂN VŨ. VỚI TINH THẦN ĐỐI THOẠI CỞI MỞ, TẤT CẢ VÌ MỤC ĐÍCH HƯỚNG ĐẾN CÁC GIÁ TRỊ SÁNG TẠO, BÀN TRÒN VĂN CHƯƠNG CỦA VNTN SỐ XUÂN CANH TÝ TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU ĐẾN QUÝ ĐỘC GIẢ NỘI DUNG CUỘC TRAO ĐỔI NÀY.


NHÀ VĂN VIẾT VĂN VÌ TIỀN HAY VÌ LÝ TƯỞNG?
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Nếu tính từ bài thơ được đăng báo vào năm 1966 và truyện ngắn đầu tay năm 1967 thì đến nay tôi đã cầm bút được 53 năm rồi. Nhưng ở đây không phải là bàn về tuổi sáng tác dài hay ngắn, càng không muốn nói tuổi nghề sẽ đồng nghĩa với chất lượng. Nhưng có một chuyện mà nhiều bạn viết trẻ hôm nay có thể ít biết là ngày xưa, tuy rất nghèo, cả nước nghèo, nhưng rất nhiều người viết hồi ấy không mấy ai chú ý đến nhuận bút. Được bao nhiêu cũng không tính toán. Cũng không ít tác giả được in mà không thấy tòa soạn trả nhuận bút. Cũng không sao, không ảnh hưởng gì đến chuyện viết lách. Chưa thấy ai viết thư đòi nhuận bút. Ngày ấy, viết văn là để phục vụ một cái gì đó, nói một cách hoa mỹ một tẹo thì là vì lí tưởng. Ví như, viết về đề tài giáo dục là để phục vụ cho sự nghiệp trồng người, viết về công nhân là với mục đích cho người công nhân yêu nghề hơn. Nhưng cũng là nói vậy thôi, chứ chắc gì tác phẩm của mình được như mình mong muốn. Không rõ các bạn trẻ bây giờ có giống chúng tôi hồi ấy?

Nhà văn Hồ Thủy Giang

Nhà thơ Phạm Văn Vũ: Chuyện này thì tôi suy nghĩ có khác một chút với nhà văn Hồ Thủy Giang đấy ạ. Tôi cho rằng, đúng là nhuận bút rất khó nuôi sống tác giả, nhưng nó lại cần được xem như là một yếu tố thể hiện giá trị tác phẩm. Nếu anh cho rằng tác phẩm của mình hay, mà nhuận bút thấp, thì hoặc là tác giả đã lầm, hoặc là các tòa soạn báo, nhà xuất bản đã sai. Chúng ta hay than phiền rằng văn chương không bán được, rằng bạn đọc thờ ơ, nhưng tôi tin câu chuyện không nằm ở phía thị trường, nó nằm ở phía người viết. Khi rút ví mua một tờ báo, một quyển sách, ai cũng có lí do. Bạn đọc có thể bỏ sót một cuốn sách hay, nhưng thường rất ít khi bỏ tiền mua một cuốn sách dở.
Còn về chuyện lí tưởng trong sáng tác, tôi nghĩ đơn giản, có lí tưởng chưa chắc có tác phẩm hay, nhưng một tác phẩm hay thì tự nó đã cất chứa lí tưởng, theo cách của nó.

Nhà thơ Phạm Văn Vũ

Nhà văn Hồ Thủy Giang: Đó chỉ là câu chuyện của 40, 50 năm về trước thôi. Thời ấy người viết chúng tôi hay ảo tưởng và “hoa mắt”. Nhưng có điều này tôi muốn bàn với các bạn đồng nghiệp rằng tôi rất ngờ rằng, văn chương ngày nay không còn mấy tác dụng nữa. Hay nói một cách khác, vì không có hoặc quá ít độc giả mà trở thành như vậy. Văn chương ngày nay giống như những phát súng chỉ thiên. Tôi nói sự thật này không nhằm hạ thấp văn chương mà để nói về nỗi buồn chung và cũng là để chúng ta không nên quá ảo tưởng. Trong tình trạng ấy thì tác dụng và trách nhiệm xã hội là thế nào? Xin các bạn hãy cùng tôi đàm luận về vấn đề này. Liệu có phương pháp nào cải thiện được cái điều khá trái ngang nhưng lại đúng là một sự thật buộc phải thừa nhận ấy không? Tôi muốn có những ý kiến khác biệt, thậm chí trái chiều hơn là sự đồng thuận.
Nhà thơ Phạm Văn Vũ: Bất kể cái gì cũng đều có giá trị “thực”, giá trị “phải chăng” của chính nó. Văn chương cần và phải đối diện sự cạnh tranh giá trị với các lĩnh vực khác (phim ảnh, ca nhạc, thậm chí là các game show…), như một quy luật không thể khác được. Chúng ta nên chấp nhận thực tế rằng, nhà văn có vị trí của nhà văn, thợ sửa điện nước có vị trí của thợ sửa điện nước. Vấn đề là anh có làm tốt công việc của mình hay không mà thôi.
Nếu nhà văn thực sự viết hay, thì có nghĩa tự anh đã thể hiện trách nhiệm xã hội của mình. Còn nếu không có tác phẩm chất lượng, thì có lẽ văn chương “tự lâm nguy”, trước khi những thứ khác làm cho nó “lâm nguy”. Tác phẩm hay vẫn có thể ít bạn đọc, và tác phẩm dở thì chắc chắn không có bạn đọc.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Nhưng lại có một vấn đề khác, văn chương bán chạy đã chắc gì là văn chương đích thực? Điều này đã được thực tế chứng minh rồi. Nước ta cũng như nhiều nước khác cũng không quá khuyến khích loại văn chương thương mại đấy thôi.
Thực ra mỗi loại tác phẩm văn chương chỉ thích ứng với từng nhóm bạn đọc thôi. Chẳng thế mà đã có nhà văn nói một cách đầy kiêu hãnh và… bất lực rằng: “Sách tôi in 3000 bản những chỉ cần 3 độc giả là đủ”. Thiết nghĩ, không nên tuyệt đối hóa bất cứ chuyện gì. Nhiều nhà văn, nhà điện ảnh thế giới cũng như Việt Nam đang hướng tới những tác phẩm vừa mang tính nghệ thuật cao siêu vừa đại chúng. Nhưng có lẽ đó vẫn là một con đường dài. Thực tế là vậy, với suy nghĩ của tôi thì có lẽ cũng không có cách nào khác là phải viết cho hay hơn, hấp dẫn hơn, viết về những điều độc giả quan tâm. Tôi thích gọi văn chương là “hàng hóa của tâm hồn”.
Nhà thơ Phạm Văn Vũ: Tất nhiên, cũng phải nói thêm, tôi đánh giá cao mẫu nhà văn viết được theo ý của mình mà vẫn được thị trường đón nhận, hơn là kiểu đáp ứng được thị trường nhưng lại chẳng còn là mình. Điều này, nói đương nhiên dễ hơn làm…

VĂN NGHỆ “PHỤC VỤ” CHÍNH TRỊ VÀ “TỰ DO SÁNG TÁC” – HIỂU THẾ NÀO CHO ĐÚNG?
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Đúng vậy. Đó luôn là mơ ước của người cầm bút. Về việc này, riêng tôi cảm thấy hình như văn học dân gian từng thành công hơn chúng ta. Sang một vấn đề khác. Hiện nay người ta hay bàn tới việc văn nghệ có phục vụ chính trị hay không? Nhà nghiên cứu văn học Cao Thị Hồng đã có một bài viết trên Văn nghệ Thái Nguyên nói về việc này, chị có ý kiến gì thêm?
Nhà nghiên cứu văn học Cao Thị Hồng: Trên thực tiễn, không phải chỉ có nhà chính trị mới có ý thức chính trị mà chính trong bản thân mỗi nghệ sĩ vốn cũng mang sẵn những ý thức chính trị sâu sắc. Ý thức chính trị này được thể hiện vào sáng tác, đó là tư tưởng riêng, tư tưởng thẩm mỹ của nghệ sĩ, và như một hệ quả tất yếu, từ những tư tưởng nhân đạo lành mạnh, cởi mở sẽ sinh ra những ý thức chính trị lành mạnh, hiện thực. Ý thức nghệ thuật không phải là sản phẩm hay nội dung đặc biệt của ý thức chính trị mà là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, phát triển song song với ý thức chính trị và các kiểu ý thức khác. Chúng có tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển, vì sự tốt đẹp của cuộc sống con người. Câu hỏi đặt ra với chúng ta hiện nay là: nằm trong sự quản lý của thiết chế chính trị, văn nghệ sẽ phục vụ cho sự phát triển của xã hội và con người như thế nào? Tôi đồng ý với quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Văn nghệ và Chính trị là hai hình thái ý thức xã hội bình đẳng với nhau trong việc thực hiện vai trò đối với xã hội, ý thức chính trị và ý thức văn nghệ là những người bạn đồng hành trên con đường nhân loại đi tìm hạnh phúc. Tiếng nói chính trị và tiếng nói nghệ thuật bổ sung cho nhau, làm thăng bằng đời sống tinh thần của xã hội, chúng có đặc thù tư duy khác nhau, đối tượng phản ánh khác nhau… Ngày nay, chúng ta vẫn đánh giá cao chức năng giáo dục con người của văn nghệ, song đó không phải là sự giáo dục theo công thức giáo điều buộc người ta phải tuân thủ mà ở đây mang ý thức tự giác cao. Thiết nghĩ, muốn “phục vụ” được chính trị, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội thì trước hết văn nghệ phải ý thức được đầy đủ thiên chức của mình. Đó không đơn thuần chỉ là chức năng tuyên truyền mà quan trọng hơn hết đối với ý nghĩa sự tồn tại của văn học nghệ thuật là thiên chức đánh thức tâm hồn, tình cảm của con người.

Nhà nghiên cứu văn học Cao Thị Hồng

Nhà văn Hồ Thủy Giang: Đúng vậy. Chức năng giáo dục của văn học, mà đúng ra phải là chức năng tự giáo dục. Để bàn thêm về văn nghệ có phục vụ chính trị hay không, tôi nghĩ, chính trị, với ý nghĩa là một khoa học thì cũng giống như văn học, đều là thượng tầng kiến trúc, nên chỉ có sự tương tác, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Nhưng chính trị trong ý nghĩa là một chính thể thì nó sẽ phải hướng đạo văn chương. Lúc này, chính trị với văn chương sẽ có chung một mục đích là kiến tạo đất nước, xây nền hạnh phúc cho nhân dân… Một ví dụ nhỏ, năm ngoái, tỉnh nhà có chủ trương tri ân, tôn vinh những đội viên Đại đội 915 hi sinh trong công cuộc chống Mỹ và đã được sự ủng hộ hết mình của nhiều văn nghệ sĩ ở Thái Nguyên, đã thu hái được nhiều thành quả đáng giá. Thì đó là sự phục vụ chính trị kịp thời và hiệu quả chứ đâu có phải là sự minh họa chính sách hoặc cho rằng viết “theo chỉ đạo” như một vài người lầm tưởng. Bác Hồ nói văn nghệ không ra ngoài kinh tế, chính trị hẳn là trong cái ý đó.
Nhà nghiên cứu văn học Cao Thị Hồng: Còn một vấn đề nữa cũng đáng bàn là ngày nay nhiều người hay nói đến vấn đề “quyền tự do sáng tác”. Với trách nhiệm của người cầm bút chúng ta nên hiểu vấn đề này thế nào cho đúng? Tôi đồng ý là tự do ngôn luận, biểu đạt nói chung và tự do sáng tác nói riêng được coi trọng rất cao trong xã hội thông tin và xã hội tri thức. Tự do sáng tác nằm trong quyền tự do văn hóa và tự do diễn đạt, vì thế tự do sáng tác cũng là một trong những quyền quan trọng nhất của con người.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Bên cạnh tự do sáng tác còn là trách nhiệm xã hội của nhà văn, liệu có khi nào có sự “va chạm” giữa hai lĩnh vực này?
Nhà nghiên cứu văn học Cao Thị Hồng: Tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần đặc biệt, ra đời bởi sự thôi thúc bên trong của người nghệ sĩ, và là mục đích tự thân của họ. Do đó nó mang đậm cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ trong điều kiện được tự do sáng tác – một điều kiện quan trọng, không thể thiếu, tự do chính là khởi điểm cho sáng tạo. Tuy vậy, không có tự do vô giới hạn, không thể có bất cứ quyền tự do nào mà lại không thực hiện với một trách nhiệm tương xứng. Đó là chân lý mà nhân loại đã thừa nhận từ lâu. Trong tư duy triết học kinh điển mácxit, tự do và tất yếu là một cặp phạm trù biện chứng. Không bao giờ có tự do tuyệt đối độc lập đối với tất yếu khách quan. Con người chỉ có được tự do thật sự khi hiểu được các quy luật của tất yếu khách quan. Đối với những người viết chân chính – đó là tự do trong giới hạn của một lẽ sống chân chính, của mục tiêu cao quý của nghệ thuật vì hạnh phúc của nhân dân, vì lẽ công bằng cho con người và tiến bộ xã hội. Như vậy, chúng ta cần xác định nguyên tắc: Tự do của người nghệ sĩ phải đi cùng với tuân thủ luật pháp, tự do gắn liền với trách nhiệm của công dân với cộng đồng dân tộc. Không có tự do vượt lên luật pháp, vượt lên quyền dân chủ và quyền con người. Và chỉ có trên nguyên tắc này vấn đề tự do dân chủ mới tránh được sự lạm dụng, đời sống văn hóa, văn nghệ mới được quản lý một cách khoa học và hợp lý. Phát huy vai trò của văn hóa chính trị để xây dựng một nền văn nghệ mang tính nhân văn, dân chủ góp phần thúc đẩy, phát triển văn hóa nước nhà.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Tôi thấy ở ta có một hiện tượng là mỗi khi tỷ lệ tội phạm hàng năm có sự giảm xuống thì hầu như người ta đều nghĩ đó là thành tích của ngành giáo dục, các ngành về luật pháp, của hội phụ nữ, thanh niên, của gia đình… chứ không thấy ai nói rằng có sự đóng góp của văn chương (dù rất nhỏ). Vậy là rất buồn đấy. Người ta quên mất rằng giả sử có mười người mang trong mình mầm mống tội ác nhưng nếu họ được đọc “Những người khốn khổ” của Victor Hugo thì có thể 5 người sẽ không biến thành tội phạm. Chắc hẳn Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du tạo ra bao giọt nước mắt cảm thông, xót xa của nàng Kiều cùng những nhân vật khác cũng đã từng làm “hiền từ hóa” biết bao con người. Như vậy, hóa ra trách nhiệm xã hội của văn chương không hề nhỏ, nếu đó là những tác phẩm có thể động đến lương tri con người. Và ngược lại, nếu là loại văn chương đen tối thì có khi phản tác dụng.
Nhà thơ Phạm Văn Vũ: Văn chương có ưu thế và sức mạnh đặc biệt, nó là hành trang quý báu để con người hướng đến tỉnh thức, trưởng thành, khai phóng, trở thành chính mình. Chỉ có điều, một mình văn chương không thể gánh vác quá nhiều sứ mệnh như chúng ta mong muốn đâu. Câu chuyện tỉ lệ tội phạm mà ông vừa nói đến có lẽ còn liên quan rất nhiều vấn đề rộng lớn khác nữa. Chúng ta đã chuẩn bị như thế nào cho sự lớn lên của trẻ nhỏ? Chúng ta đã quan niệm như thế nào về việc xác lập và lựa chọn các giá trị trong đời sống? Chúng ta đã hành xử như thế nào để xây dựng pháp luật và xây dựng một lối sống tôn trọng pháp luật? Đấy, còn nhiều thứ lắm, đừng “giao phó” cho văn chương.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Ý tôi muốn nói, dù nhỏ thôi nhưng xã hội không nên quên “công lao” của văn chương về chuyện này. Nhà triết học kiêm nhà văn Von-te thế kỉ thứ XVIII có nói “Tôn giáo là sợi dây cương của toàn nhân loại”. Vậy về mặt nào đó cũng có thể nói văn chương là sợi dây cương của nhân loại. Theo tôi, cái này chính là sứ mệnh cao nhất của người cầm bút.
Nhà thơ Phạm Văn Vũ: Vâng, và tôi chỉ muốn bàn thêm, người cầm bút sẽ chỉ thực hiện được sứ mệnh với cuộc sống khi mà trước hết anh thực hiện được sứ mệnh với chính bản thân mình – một người viết.

“UỐNG MỘT CHAI BIA NGON VUI HƠN ĐỌC MỘT CUỐN SÁCH DỞ”
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Ngày trước không ít người cho rằng văn chương là một thứ gì đó rất thiêng liêng chứ không ai nói văn chương là hàng hóa dù là hàng hóa đặc biệt đi nữa. Các bạn nghĩ sao về câu chuyện này? Còn ý kiến của riêng tôi thì văn chương, trước khi nó là cái gì gì đó có phần thiêng liêng thì nó cũng vẫn là hàng hóa, vì nó vẫn là một cuốn sách cụ thể bằng vật chất, có giá bìa đàng hoàng, có bán/mua. Mặt khác, nó chính là thứ hàng hóa phục vụ tinh thần con người.
Nhà nghiên cứu văn học Cao Thị Hồng: Về vấn đề này, thiết nghĩ, khái niệm “tác giả như là nhà sản xuất” của chủ nghĩa Marx theo thời gian vẫn tỏa sáng nhiều thông điệp mang ý nghĩa sâu sắc. Trong xã hội công nghiệp, nghề viết văn được đặt bình đẳng với tất cả các nghề nghiệp khác với tư cách làm ra sản phẩm cho xã hội. Nhà văn cũng là một công nhân, có nghĩa là anh ta cũng phải bỏ công sức lao động để kiếm tiền nuôi bản thân mình và gia đình, thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu về vật chất. Sản phẩm của nhà văn mang tính đặc thù đó là tác phẩm (được xuất bản thành sách). Sách là sản phẩm hàng hóa bình đẳng như mọi thứ hàng hóa khác tức là được bán – mua trên thị trường để kiếm lợi nhuận; Khi đã trở thành sản phẩm hàng hóa sách cũng phải tuân thủ theo quy luật nghiệt ngã của thị trường, ở đây không có ưu tiên, không có sự hỗ trợ nào ngoài sự hiện hữu của chất lượng sản phẩm.
Khi sách đã trở thành hàng hóa thì nhà văn với tư cách là người sản xuất sản phẩm phải biết chấp nhận và vượt qua thử thách nghiệt ngã của cơ chế thị trường. Thị trường đồng nghĩa sự lạnh lùng, vô cảm và sự sòng phẳng của đồng tiền. Với tư cách là hàng hóa, đương nhiên sách cũng phải cạnh tranh bình đẳng trên thương trường như các loại hàng hóa khác về chất lượng, mẫu mã, hình thức, nội dung, quảng cáo …
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Tôi hoàn toàn tán thành ý kiến của nhà lí luận Cao Hồng. Chỉ có điều đáng buồn là ngày hôm nay người ta thích bỏ ra 100 nghìn để uống bia hơn là để mua sách.
Nhà nghiên cứu văn học Cao Thị Hồng: Nhà văn muốn chinh phục thị trường, thu về lợi nhuận thì chỉ còn cách duy nhất là phải sản xuất ra thứ hàng hóa chất lượng cao. Ở đây, tài năng của nhà văn và sự đầu tư nghiêm túc chất xám vào văn chương sẽ là điều kiện tiên quyết để có một sản phẩm thắng lợi trên thương trường. Bên cạnh đó cũng phải chú trọng tới tất cả các khâu khác cho tới khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Chính vì vậy, để tồn tại và phát triển, người theo nghiệp viết văn phải đủ bản lĩnh và năng lực văn hóa cần thiết để nhận biết rõ vị trí của mình, từ đó phát huy cá tính, ráo riết hơn trong những kiếm tìm sáng tạo nghệ thuật của mình. Nhà văn phải thừa nhận và chấp nhận vị trí, vai trò của mình như một nhà sản xuất bán sản phẩm và coi tác phẩm văn học như một loại hàng hóa, thấu hiểu quy luật thị trường, thích ứng với nó để tồn tại. Và chỉ khi nào được như vậy, mỗi nhà văn Việt Nam mới thực sự được sống và viết với tài năng, tâm huyết, với đích thực con người chính mình và có trách nhiệm cao với công chúng tiếp nhận tác phẩm.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Còn ý kiến của Nhà thơ Phạm Văn Vũ thì thế nào?
Nhà thơ Phạm Văn Vũ: Tôi không ủng hộ sự sa đà bia rượu của khá nhiều người như hiện nay. Nhưng quay lại câu chuyện đang bàn thì tôi nghĩ, chỉ có một cách thôi, là nhà văn phải làm sao cho người ta thấy thích cuốn sách của mình hơn chai bia. Tại sao không nghĩ uống một chai bia ngon còn vui hơn là đọc một cuốn sách dở nhỉ?
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Đúng vậy. Nhưng cũng có người chỉ uống bia mới thấy sướng thôi, chứ văn chương (cả hay lẫn dở) thì hãy đợi đấy! Nhưng nếu có vậy cũng không sao. Xã hội mà. Từ nãy đến giờ ta bàn đến “Trách nhiệm xã hội” của văn chương quả nghe rất đao to búa lớn. Thực ra, so với nhiều hình thái ý thức xã hội khác, văn chương cũng chỉ là một góc rất nhỏ. Chính trị, tôn giáo, triết học… hay nói hẹp lại ngay như là các ngành thể dục, thể thao hoặc truyền thông, báo chí, du lịch… có vẻ còn sâu sắc và nhất là sự trực tiếp hơn văn chương rất nhiều.
Nhà thơ Phạm Văn Vũ: Cái gì tồn tại cũng đều có lí của nó, tất nhiên rồi. Vấn đề là mỗi người có làm tốt lĩnh vực của mình hay không mà thôi.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Đây đó có một số người bàn đến ngày cáo chung của văn chương. Nhưng tôi nghĩ, từng nhà văn, nhiều nhà văn có thể cáo chung, nhưng văn chương thì không. Văn chương đích thực tự nó sẽ biết cách vượt qua số phận, sẽ tìm cách biến thể và chọn một hình thức để tiến đến gần con người hơn. Ví như giữa thế kỉ thứ XX, các nhà văn của phong trào Tiểu thuyết Mới mà các đại biểu của nó là A. Grillet và M. Duras đã tiên phong trong việc mở đường cho sự lai tạo giữa văn chương và điện ảnh, hoặc sự sáng tạo phương pháp hiện thực huyền ảo của các nhà văn Châu Mỹ la tinh. Cái này thì mỗi nhà văn đều phải suy nghĩ. Suy cho cùng thì đó cũng là một trách nhiệm của nhà văn đối với xã hội.
Nhà thơ Phạm Văn Vũ: Tôi tin rằng tự thân văn chương [đúng nghĩa] luôn có đời sống của nó, vấn đề cần bàn hơn là ứng xử của chúng ta với các giá trị mà thôi.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Đúng vậy! Chúng ta đã có một cuộc trao đổi rất thẳng thắn và bổ ích. Cảm ơn nhà nghiên cứu văn học Cao Thị Hồng và nhà thơ Phạm Văn Vũ!

HỒ THỦY GIANG (thực hiện)