“Cần phải tôn quý, đồng thời còn phải biết làm đầy, làm mới”

48

VNTN – Tết cổ truyền là một di sản quan trọng trong đời sống văn hóa dân tộc Việt, với những giá trị đã in sâu trong tâm thức cộng đồng, cùng những vấn đề đang được đặt ra trong bối cảnh đời sống hiện đại. Nhân dịp Tết Canh Tý 2020, chúng tôi có cuộc trò chuyện với GS.TS. NGƯT Vũ Anh Tuấn – giảng viên cao cấp Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chuyên gia nghiên cứu văn hóa dân gian, để hiểu sâu hơn về điều này.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GS. TS VŨ ANH TUẤN

Tết Nguyên đán là một trong những nét đẹp văn hóa mà dân gian đã gìn giữ và lưu truyền trong suốt hàng ngàn năm qua. Vậy, Tết bao hàm những ý nghĩa gì, thưa GS?

GS.TS.Vũ Anh Tuấn: Tết của dân tộc ta mang nhiều ý nghĩa. Tết cổ truyền của người Việt có những nét đặc trưng riêng, khó có thể hòa lẫn bởi cái lẽ xưa nay, đầu tiên và duy nhất trong một năm “tứ tán làm ăn” thì đây là dịp để cha con, chồng vợ, anh em có cái lẽ duy tình để mà trở về nơi ra đi, để sum vầy đoàn tụ. Xưa nhắc đến Tết còn là nhắc đến: “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”. Phân tích sao cho cùng được hết cái ý nghĩa câu nói trên, một câu đã từng ngàn năm lăn trên miệng người đời, giữa dòng đời chảy trôi từ từ chậm chạp không có bến bờ? Thế nên chỉ có thể nói Tết ta luôn hướng tới những điều tốt lành, những điều thánh thiện, mưa thuận gió hòa, người người làm ăn thuận lợi, khoẻ mạnh, sống lâu, học hành tấn tới, sự nghiệp thành đạt, cuộc sống gặp nhiều may mắn. Tết cũng mang ý nghĩa tìm về nguồn cội, nhớ ơn các bậc tiên tổ, tỏ lòng tôn kính các vị ân nhân có công tạo nghiệp cho gia đình, đất nước. Tết cũng là sự đón nhận niềm vui, sự hưởng thụ những giá trị văn hóathẩm mỹ, những thành quả có tính giải trí lành mạnh, trong sáng, tươi vui. Chỉ có Tết mới làm cho mọi điều không muốn có chẳng may đã gặp được rũ sạch bỏ lại vào năm cũ. Chỉ có Tết mới làm cho mọi ước muốn chưa thành có dịp được nhen lên, phập phồng hi vọng. Câu chuyện Tết cứ thầm thì mùa xuân như thế suốt xưa sau.

Tết có lẽ vốn chỉ chung những ngày cúng lễ gắn với thời tiết (Tết Nguyên tiêu Rằm tháng Giêng, Tết Thanh minh tháng 3, Tết Đoan ngọ tháng 5, Tết Trung thu tháng 8, Tết cơm mới tháng 10…).Vậy “Tết Nguyên đán” bắt nguồn từ đâu thưa GS?

GS.TS.Vũ Anh Tuấn: Có lẽ như hầu hết các nhà nghiên cứu văn hóa cổ truyền ở ta trước nay đều cho rằng tiếng “Tết” do tiếng “tiết” đọc chệch ra. Mỗi tiết là một khoảng khắc thời gian theo âm lịch trong năm gắn với thời tiết, khí hậu bám sát lịch tiết mùa vụ nông nghiệp (Tứ thời, bát tiết). Riêng tiếng “Tết” đi một mình là thường được dùng để chỉ Tết Nguyên Đán. “Nguyên” là khởi đầu, đầu tiên; “Đán” là sớm, buổi sớm. Tết Nguyên Đán là buổi khởi đầu, buổi sớm đầu năm, đầu tháng, đầu ngày của cả một năm. Tết là khoảng thời gian bắt đầu một năm mới. Sau này, khi có lịch dương truyền vào thì còn được gọi là “Tết ta” để phân biệt với “Tết tây” (đầu năm theo dương lịch) hoặc Tết Cả để phân biệt với các “Tết con” còn lại, đại thể là những cái Tết theo từng tháng như trên bạn đã nhắc đến.

Vậy xin GS có thể trao đổi chi tiết hơn, trong tâm thức dân gian, Lễ Tết dân tộc cổ truyền ở nước ta xưa nay đã được quan niệm như thế nào?

GS.TS.Vũ Anh Tuấn: Ở Việt Nam, chỉ tính trong khoảng thời gian từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay, ít nhất đã có ba thế hệ các nhà khoa học gia công lội ngược dòng tìm về cội nguồn. Chúng ta đã làm sáng lên được từ trong sâu thẳm quá khứ một nền văn hóa- văn minh cơ tầng Việt cổ bền vững, mà đỉnh cao của nó là sự thành tạo nhà nước Âu – Lạc, một quốc gia cổ đại được cho là xuất hiện sớm nhất và cũng hùng mạnh nhất thời ấy ở Đông Nam Á. Các lễ hội như thế bao đời nay đã diễn ra theo nhịp mùa đi như một lẽ tự nhiên trong dòng chảy của sự sống, của trời đất, của con người. Có ai nghĩ rằng để có được một hội Xuân như Tết Cả (Nguyên đán), một hội Thu như Tết trông trăng, ngưòi Việt cổ xưa đã phải thường nghiệm và lựa chọn từng thiên kỉ trên mảnh đất nóng ẩm, mưa nhiều và có hai mùa gió đặc trưng, nơi cây trái cỏ hoa cũng nhiều như giông bão. Làng định cư trồng lúa nước cùng cây có củ và bầu bí ra đời. Con người một nắng hai sương xay giã giần sàng từ đấy, buồn vui cùng hạt lúa. Khi đầu, người ta thuần dưỡng cây lúa nếp (Nhớ gia tiên cúng cơm nếp, xôi nếp), khi sau là cây lúa tẻ (cơm tẻ mẹ ruột). Nhưng ai biết từ giọt nắng đầu tiên vừa tỏa chiếu, từ hạt lúa đầu tiên vừa căng sữa nhú mầm, các món thức bánh nếp, bánh tẻ, chè kho, bánh gio, bánh giò, bánh dợm, cơm lam, kẹo lạc, kẹo vừng, bánh đa vừng ngào mật ngày 23 tháng Chạp đến những chiếc bánh chưng xanh buộc lạt hồng điều là cả một gia sản ngữ nghĩa biểu tượng có thể viết lại thành biên niên sử.
Câu chuyện tưởng chừng bị vùi lấp vĩnh hằng trong sương mù tiền sử đã được chúng ta dựng lại: Từ sơ kì đá cũ, do điều kiện địa nhiệt ẩm đã bắt đầu khiến con người để tồn tại phải thích nghi bằng cách hái lượm trội vượt hơn săn bắt. Đến khúc dạo đầu cuộc cách mạng đá mới Việt cổ, giữa sinh cảnh phồn tạp của thế giới muôn ngàn cây lá, trồng trọt đã trở thành nghề chính của con người, vượt trội hẳn nghề chăn nuôi vốn gặp nhiều dịch bệnh giữa nơi thường có thời tiết ẩm ướt và nóng lạnh thất thường. Cuộc sống định cư với kỹ thuật trồng ướt nương theo mùa vụ định hình. Con người trong bão giông lũ lụt thường xuyên trên ruộng đồng, nương vườn, gò bãi, từ thung lũng chân núi đến các châu thổ sình lầy, từ phía nam sông Dương Tử đến châu thổ sông Hồng đã phải tự thích nghi bằng việc tụ cư thành làng xóm tối lửa tắt đèn có nhau. Mỗi lễ Tết là một nét son tô điểm vào cuộc sống cổ truyền của ông cha chúng ta từ khi nông nghiệp đã trở thành sinh nghiệp theo chu kì “Xuân sinh, hạ trưởng, thu thụ, đông tàng” cùng thời gian khép mở.

Theo GS, thủ tục nghi lễ cho Tết cần phải thực hiện theo trình tự như thế nào để không “mất thiêng”?

GS.TS.Vũ Anh Tuấn: Trước Tết Nguyên đán mấy ngày, nhà nào cũng dọn dẹp bàn thờ, lau rửa, quét dọn nhà cửa, trang hoàng tu sửa từ trong nhà ra đến ngoài ngõ. Ngày 23 tháng Chạp là lễ tiễn Ông Táo lên Trời (cúng cá chép, mũ áo, hia, vàng hương, rượu). Lễ cúng tất niên (lễ hết năm) thường được tiến hành vào ngày 30, bây giờ thường làm sớm hơn giao thừa một đến hai ngày. Cúng tất niên rồi thì là bắt đầu thắp đèn hương suốt ba ngày Tết với mong muốn đón rước níu giữ tổ tiên cùng các vị anh linh về phù trợ. Và cùng với những lời đẹp đẽ trao nhau, xưa nay còn có tục mừng tuổi đầu năm mới, tục Tế Tổ tại Từ đường sáng mùng 3, tục hóa vàng tại nhà huynh trưởng chiều mùng 3 Tết như thể đã có lễ mừng gặp gỡ rồi nên lại phải có lễ để chia tay, tiễn biệt, sau đó còn có tục chúc thọ ngày 4 Tết, tiếp đó là các lễ khao cây, động thổ, xuống đồng…
Trong giao lưu ngày Tết, người ta cũng không quên lời thiêng bái vọng ơn nghĩa trời đất tổ tiên. Trong khói hương ấm áp, lòng người mở rộng. Thời nào, nhà nào cũng sẽ có một lớp người, một nhóm người đến một độ tuổi tác nào đó, sau một đời “xa quê” sẽ lại trở về để nối dài những phong tục truyền đời như lẽ thường vẫn thế. Tất nhiên, thời gian vô thường, rồi cái gì cũng có thể có thay đổi chứ, nhưng có lẽ không có gì thay đổi mà lại hết sức từ từ chậm chạp chứ không thể có đột biến như phong tục ngày Tết – mặc cho tôi hay các bạn đã có lúc vì một lý do nào đó đã muốn như thế.

Guồng quay của cuộc sống hiện đại khiến việc gói bánh chưng ngày Tết không còn như trước. Nhiều gia đình không có điều kiện chẻ lạt, vo đỗ, rửa lá dong để hưởng không khí Xuân trọn vẹn. Việc gói bánh chưng xanh ngày Tết có ý nghĩa gì đặc biệt, thưa GS?

GS.TS.Vũ Anh Tuấn: Phong tục gói bánh chưng, thờ bánh chưng vào dịp Tết như người đời lưu giữ trong truyền thuyết được cho là đã có từ thời vua Hùng Vương thứ sáu. Tục gói bánh chưng có nghĩa đây là thói quen từ lâu đời thể hiện nét đẹp văn hóa của Tết truyền thống, đã nhuần thấm vào trong tiềm thức của mỗi người trong chúng ta. Bánh chưng là biểu tượng ngày Tết mà không có bất cứ loại bánh nào có thể thay thế được. Mỗi dịp Tết Cả, mỗi gia đình đều thường tự gói và nấu nồi bánh chưng. Ý nghĩa thì như bạn biết đều đã có trong câu chuyện sự tích bánh chưng bánh dầy, vừa là sự trầm kết và thăng hoa các giá trị tinh túy của văn hóa vật thể của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, vừa thể hiện tinh thần cộng cảm, thể hiện triết lý sống theo cái tôi đoàn nhóm mỗi dịp Tết đến xuân về. Tuy nhiên, không gian và thời gian văn hóa đương đại đã khác xưa, tôi nghĩ hiện nay người quê cũng có thể không nhất thiết nhà nhà gói bánh chưng nhưng đã là Tết Cả thì vẫn nên giữ tục thờ bánh chưng, trên ban thờ vẫn nên có cặp bánh chưng, trên mâm cỗ Tết vẫn nên có món bánh chưng.

Trong công tác chuẩn bị Tết, không ít gia đình chú trọng đến tính cổ truyền. Quan niệm ba lễ trọng ngày Tết “Mồng một Tết cha, mồng hai Tết mẹ, mồng ba Tết thầy” hiện nay còn đúng không, theo GS?

GS.TS.Vũ Anh Tuấn: Đây là phong tục Tết. Trước đây thì đúng là phải thực hiện theo như vậy, không ai nghĩ rồi sẽ phải “sáng tạo lại”. Tức là: Sáng sớm ngày mùng một thắp hương, pha chè, bày cỗ cúng gia tiên. Cha mẹ, con cháu lần lượt khấn vái trước bàn thờ, rồi quây quần đông đủ chúc thọ ông bà, cha mẹ, mừng tuổi con cháu. Ngày mùng hai là ngày đi lễ và chúc Tết bên ngoại tức là bên họ đằng mẹ để tỏ lòng tôn kính, tri ân đối với tổ tiên đã sinh ra bà và mẹ mình. Là người Việt, chắc không mấy ai trưởng thành mà không nhớ đến câu cửa miệng “Phúc đức tại Mẫu”, mà đã chắc ai cũng đã hiểu hết ý nghĩa câu tục ngữ “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”! Ngày mồng ba là ngày dành cho thầy học – người dạy dỗ mình nên người.
Ngày nay, đương nhiên cái tinh thần ấy vẫn nên tôn trọng gìn giữ, song cách thức thì đã có thể thay đổi do thực tiễn của đời sống xã hội đương đại.Tuy vậy, là người đã có đến nửa thế kỷ làm nghề dạy học tôi nghĩ đây cũng là dịp nên khơi gợi các thế hệ thầy trò, học trò cũ gặp nhau, truyền cho nhau kinh nghiệm sống, làm thế nào để khỏi phụ lòng mong mỏi của thầy đối với trò, gìn giữ cho được tình cảm tôn quý của các thế hệ trò với thầy. Xã hội hiện đại ngày nay còn rất chú ý xây dựng một truyền thống mới là lấy ngày mùng 3 làm ngày các dòng họ quây tụ con cháu về Lễ Tổ xong là mừng thọ và khuyến học, tuyên dương khen thưởng cho các con cháu có thành tích cao. Đây cũng là một cách tôn sư trọng đạo trong thời hiện đại.

Không ít người cho rằng Tết ngày nay là những ngày nghỉ kéo dài. Tết như dịp để nghỉ ngơi “an dưỡng”, là dịp để cùng nhau đi du lịch, đi “phượt”. Vậy, chúng ta cần phải ứng xử với Tết cổ truyền ra sao để luôn giữ được giá trị văn hóa của dân tộc, thưa GS?

GS.TS.Vũ Anh Tuấn: Tập quán Tết cổ truyền hiện nay theo tôi vẫn được xem là một dạng tài nguyên văn hóa cần được gìn giữ và phát huy những mặt tích cực, những biểu hiện mang ý nghĩa hài hòa giữa các giá trị mang tính nhân loại muôn thuở với các giá trị bản sắc dân tộc tinh hoa vào cuộc sống đương đại. Trong xã hội hiện đại tôi nghĩ câu tục ngữ xưa vẫn còn nguyên giá trị, rằng “Mỗi cây một hoa, mỗi nhà một cảnh” nên nhà nhà có thể sắm Tết, đón Tết, ăn Tết chỉ trong một ngày giống nhau nhưng vẫn có những cách “chơi Tết” khác nhau, song ở đây vẫn có mẫu số chung. Đó là trong không gian an lạc, trong thời gian thiêng liêng, một niềm vui lâng lâng trong tâm tưởng con người lan tỏa khắp đất trời, cỏ cây tạo vật, mọi người đều như được lùi về thời điểm bình minh trước tạo thiên lập địa để lại bắt đầu từ khoảng khắc giao thừa (giao thời), mọi thức hôm qua sẽ đều cùng người mới lại thành cái hôm nay. Năm mới là niềm vui mới, là niềm hy vọng mới với những sáng tạo mới, thành tựu mới. Thế nên tôi vẫn nghĩ những nét phong tục Tết cổ truyền của dân tộc là biểu hiện của một tập quán mang tính giáo dục đạo đức và tràn đầy tinh thần nhân văn cao đẹp của dân tộc Việt Nam. Tết là bản sắc dân tộc, là gương mặt văn hóa cổ truyền Việt, các thế hệ cần phải tôn quý, đồng thời còn phải biết làm đầy, làm mới.

Xin trân trọng cảm ơn GS!

XUÂN PHƯƠNG (thực hiện)