VNTN – Đã ba ngày, con xám không về ăn cơm. Nó đang chửa. Bà Niên lẩm bẩm. Lũ câu trộm chuyên lượn lờ trưa tối quanh bản Nà Mò.
Cuối năm nay, giá thịt lợn thổi cao như quả bóng bay thằng Tí hay chơi. Các mặt hàng khác ăn theo đội giá, thịt chó không là ngoại lệ. Bản trên, nhà dưới kêu mất chó liên tục. Mà con xám thì núc ních. Đúng là vận đen đủi, cả con chó sắp nằm ổ chúng cũng không tha. Hay là…
Bà Niên ngước nhìn dải đồi trước mặt, nơi có bãi Vàn Gà, Vàn Cút, Vàn Nim,… nơi đất trống đồi trọc chỉ một mình ông Đeo ở. Có khả năng lắm chứ. Ông ta từng đến nhà bà để nhận tiền phun thuốc sâu thuê mà bà nợ từ vụ thuốc lá năm ngoái. Thấy cái đầu rậm tổ quạ, con xám sủa dữ dội. Ông Đeo cầm cây hua lấy hua để nó cũng không tha. Nó nhe răng trắng nhởn để giữ của nhà bà, để bảo vệ lãnh thổ và xua đuổi người lạ. Bà đã đi khắp bản, khắp đồng trũng, bãi ngô, bờ cao, bờ thấp tìm con chó mà không thấy tăm hơi.

 

Chiều thả trâu ra đồng, bà tìm chỗ đông đông ngồi tán gẫu. Gió mùa đông bắc rít từng cơn trên các thửa ruộng bậc thang khiến người ta cứ muốn xích lại gần nhau, tìm củi khô chất thành đống để sưởi lửa. Người vui tính đi thăm rẫy về vứt cho vài củ sắn bở, xin châm nhờ điếu thuốc lá cuốn cho đỡ nhạt mồm. Việc bà Niên mất chó, ai cũng đều biết. Câu chuyện lại rôm rả dưới chân đồi. Mùi sắn nướng thơm nức.
– Lâu rồi không thấy ông Đeo xuống bản đâu vớ! Ở trên Vàn Gà một mình chắc thành người rừng rồi lô.
Bà Tám khục khục cười. Bà Niên ra điều biết chuyện:
– Chả ở trên đó thì ai thèm chơi với chứ? Bản thân lão ta cũng còn biết xấu hổ mà bỏ bản đi.
– Ấy, bà làm như mình lão Đeo đi tù về ấy. Tại lão lành quá bị người ta lừa xách hộ ma túy thôi.
– Điêu, tham lam thì chết!
Bà Niên mạnh miệng kết luận như thế khi nghĩ đến con chó xám đã mất tích của mình để kết thúc câu chuyện về lão Đeo. Xưa, nhà lão sát vách nhà bà, làm sao bà không biết. Đeo năm nay ngoài bốn mươi, bằng tuổi em trai bà. Đeo hiền lành nhất bản Nà Mò, là con út trong gia đình sáu anh chị em. Bố mất sớm. Mẹ sợ con trai không lấy được vợ liền nhờ mối lái kiếm cho cô gái hơn Đeo năm tuổi. Hai đứa con, một trai, một gái nhanh chóng ra đời trong hai năm. Đeo chỉ biết ăn rồi ở nhà trông con cho vợ chạy chợ kiếm đồng ra đồng vào. Rồi mẹ mất, hai đứa nhỏ đến tuổi đi học. Đeo theo đám bạn đi làm cửu vạn ngoài thị trấn. Bà chủ cửa hàng xi măng bị chột một mắt thấy Đeo vạm vỡ, khôi ngô liền đem lòng si mê. Mụ vứt cho Đeo món tiền to, xui về nhà bỏ vợ để về làm ông chủ cùng mụ. Đeo kể cho vợ nghe, bà Niên cũng có mặt ở đấy. Thanh – vợ Đeo vứt quả ngô đang tẽ hạt dở xuống thúng, đứng phắt dậy bảo với chồng:
– Số anh sướng nhé! Em cho tùy chọn, anh muốn làm thế nào thì làm.
Bà Niên thấy thế đành bỏ về nhà. Đeo không ra thị trấn nữa, ngày ngày đưa con đi học rồi nấu nướng giặt giũ. Bẵng đi đến một hôm, cả bản Nà Mò xôn xao cái tin Đeo bị công an bắt, tòa tuyên án bảy năm vì tội vận chuyển ma túy. Bà Niên không tin nổi vào tai mình. Cái thằng lù đù như cối xay, có dáng đi lao đầu về phía trước, ai bảo gì cũng một dạ hai vâng giờ thành ra thế. Bà có lần nằm vắt tay lên trán, nghĩ lời tiên đoán của bà hàng xóm đã khuất núi mà thấy nổi gai ốc: Nó khổ chứ sướng gì? Cái năm đói deo dắt lại cầm tinh con hổ. Pá nó đi khai sinh cho con đặt tên là Đo: mang nghĩa đầy đủ, ấm áp thì gặp cái lão đặt bút say rượu, thêm chữ e vào thành Đeo: một thân, cô độc. Khổ cả đời thôi! Ừ khổ. Người Tày ai cũng chịu được khổ. Bà cũng khổ chứ vui sướng gì? Nuôi lợn chật chuồng thì một trận dịch tả châu Phi tràn qua, quét sạch. Lợn mất, tiền hết. Nuôi chó. Chó mất. Bà chưa thấy ngày may mắn đang lơ lửng ở nơi đâu. Cô Thanh không chịu nổi lời người đàm tiếu về chồng, đã đem con xuống thị xã, vừa buôn bán vừa nuôi hai đứa ăn học. Năm năm sau, Đeo được ra tù. Bỏ ngôi nhà gạch đã mọc rêu, cỏ rậm kín lối đi giữa bản Nà Mò, Đeo lên đồi ở. Nơi đó gần Đông Slấn (rừng thiêng) nên chẳng ai dám bén mảng tới.
***
Nắng chiều đông trốn bặt trong màu trời đục như nước vo gạo. Trời u ê mặt mày. Những khóm dã quỳ ven bờ mương chưa đủ sắc làm bừng sáng núi đồi. Gió rít ngọt. Gốc rạ khô xơ xác. Những đàn trâu có nhiều nghé đã ọ ọ gọi nhau hướng về chuồng. Bà Niên mới nhỏm dậy, phủi bụi ở quần đưa mắt tìm trâu. Con trâu cái đứng lim dim cho con bú. Còn con trâu đực biến đâu mất tăm. Bà cất tiếng nghé ngọ. Bà Tám quang quác:
-Gọi gì nữa cái mụ điếc lửng kia! Nó húc nhau với trâu của tôi rồi lồng lên chạy hướng Vàn Gà rồi lô!
Bà Niên vò đầu bứt tóc, muốn khóc không khóc được. Ôi trời đất ơi! Đừng nói mất thêm con trâu là tết nhất đến nơi bà chỉ còn nước cắn thóc ăn trừ. Quên cả sợ, quên cả lạnh, bà kịp dặn bà Tám lùa hai mẹ con trâu về chuồng hộ mình rồi ba chân bốn cẳng nhằm hướng đồi mà chạy. Leo hết con dốc với những bụi guột rậm quá gối, bà Niên há miệng ra thở. Lối đi lâu ngày thành cỏ. Cỏ tranh ố vàng quanh những ngôi mộ khổng lồ phủ đầy hoa cỏ đĩ trắng. Bà ghét nhất cảnh đi tìm trâu. Bà mà tìm được mày thì mai trói trong chuồng nhai rơm khô cho biết xác. Cái giống trâu đực ăn no rửng mỡ! Những cây xau xau lá đỏ ối trút lạo xạo.
Rừng vắng không tiếng cò vạc gì kêu. Đỉnh đồi quang đãng. Bên kia sườn là Vàn Gà. Gọi là Vàn Gà vì trước giờ chỉ toàn cỏ tranh mọc. Bãi rộng đến nỗi người già cứ nhát trẻ con rằng sườn đồi đó có hổ dữ ở. Hổ sợ phân chim bám vào thân thối da thối thịt nên tìm vạt tranh làm chỗ nghỉ ngơi. Chỉ cần ai ngửi thấy mùi khét khét của vải cháy hoặc mùi măng chua là liệu thần hồn. Bà Pựt phán bà Niên không có số bị hổ vồ, đi rừng vô tư. Hai năm trước, bà Niên hay lên đây cắt cỏ tranh về lợp chuồng trâu. Cái giống cây đến lạ, lá bé tí, dài ngoẵng mà khi bện vào nhau thành tấm dày thì chẳng giọt mưa nào chui lọt. Mái tranh lâu mục hơn lợp rơm. Nhưng kìa, sau dãy hàng rào gai dứa dại, kim anh, Vàn Gà cơ man nào sắn, chuối. Những vạt cỏ tranh đã biến mất từ bao giờ. Rễ cỏ tranh cắm sâu dưới đất, sót một đốt thì thành cây, lên được cây lại thành khóm thành vạt mà tay ai kì công nhặt sạch? Bà dỡ cái tấm liếp làm cổng bước vào, con đường mòn dẫn xuống một cái lán nhỏ lợp mái tranh. Một người đàn ông đầu rậm rù đang ngồi xổm đan liếp. Nhác thấy tiếng chó sủa, ông ta quay lại, đứng dậy nhìn. Bà Niên mãi mới nhận ra người hàng xóm năm nào. Người đàn ông lắp bắp:
– Bá… bá Niên, bá tìm trâu phải không?
Bà mừng rỡ, gật đầu rối rít:
– Phải phải!
– Nó ở bên kia kìa!
Đeo chỉ về phía Đông Slấn. Trời ạ! Bà đã hơn năm chục tuổi đầu chưa một lần dám đặt chân vào khu rừng thiêng ấy. Nét sợ hãi hiện lên trên khuôn mặt. Như hiểu ra, Đeo bảo:
– Bá vào lán đi, em sang bắt nó về cho.
Rồi Đeo khoác mõ dao bên sườn, lù lù xuống dốc. Con chó vàng ngưng sủa, nằm gác mõm lên chiếc ghế chủ nó vừa ngồi. Cái giống đến khôn. Bà Niên sực nhớ đến con xám của mình, nhìn quanh quất chẳng có dấu vết gì. Bà nhón chân vào lán xem Đeo ăn uống ra sao. Một siêu nước chè, một niêu cơm vét sạch, một mảnh chăn cũ trên chiếc giường kê gần bếp đỏ than. Bà thấy mũi mình cay cay. Khi đưa chân ra ngoài lán, bà thấy những buồng chuối già được cắt xuống xếp gọn gàng quanh đống rơm. Mình đem chuối đi bán hộ chú ấy kiếm ít lời, mua hộ chú ấy vài bộ quần áo chứ sống thế này thì… Ấy, một gia đình đang tốt đẹp bị sóng gió dập vùi trong khoảnh khắc. Ai biết được ngày mai mình sẽ ra sao?
-Bá về nhé, trâu em buộc trên cổng rồi.
Tiếng Đeo nói làm bà Niên giật bắn mình. Bà gật đầu lia lịa, quên mất câu cảm ơn, vội leo lên đỉnh đồi trước khi trời tối hẳn.
Hôm sau, bà lên nói về ý định của mình. Đeo im lặng hồi lâu rồi buông một câu:
– Dạ. Bá làm thế nào thì làm.
Bà Niên thắng to. Dúi món tiền và đồ đạc vào tay Đeo, bà vui vẻ:
– Ây dà, cứ sống như chú đây lại hay, chả lo ai trộm cắp gì. Ở bản giờ phức tạp lắm né, tôi mất con chó xám đang chửa đấy. Tết sắp đến rồi không biết bọn trộm có vào chuồng bế nốt con lợn còi vừa tậu không nữa.
Đeo lặng lẽ cười trừ. Ánh mắt buồn rười rượi.
– Em chẳng còn gì đâu! Chẳng còn gì!
Bà cũng thấy mủi lòng. Chiều, bà rủ cả chồng con lên làm vài chuyến xuống đồi. Trong lúc hai bố con khiêng chuối đi, Đeo gọi bà Niên lại bảo:
– Bá theo em đến chỗ này.
Hai người qua Vàn Nim nơi có đồi sim đã ngủ đông, đến những gò đất nổi cạnh ruộng bậc thang trông được tới bản Nà Mò.
– Chú đi săn chuột ăn à?
– Vâng, chuột đồng to lắm bá. Thịt ngon hơn thịt gà. Con Vàng bắt chuột chưa trượt phát nào. Ấy mà một lần nó săn hụt.
Bà Niên nhìn những cái hang chuột đen ngòm ở gò đất. Đeo ơi, chú đến nông nỗi này sao? Không dám bước chân về làng sợ bị người ta xua đuổi. Cái rét luồn qua gáy tê tái. Bà Niên theo bước Đeo đến dừng lại ở góc ruộng.
– Nó kìa bá.
– Cái gì?
– Bá xem xem è.
Một cái hang chuột bị khoét cho tơi tả. Lối vào mòn dấu nhưng sâu hun hút. Bà Niên thở dài, toan bỏ đi:
-Có gì đâu mà xem?
Đeo vẫn đứng đấy, cất tiếng gọi:
– Míc ều! Míc ều ều! Chậc chậc!
Tức thì có tiếng gừ gừ. Tiếng í ắng từ trong lòng đất. Bà Niên vội vàng chạy tới gọi rối rít:
– Bấc! Bấc!
Từ cái hang chuột, con chó xám chui vụt ra, chồm cả hai chân lên người bà rên ư ử. Nó ngoáy tít cái đuôi như muốn khoe thành tích trong lòng đất.
Thì ra trong một lần dẫn con Vàng đi săn, Đeo biết được trong cái hang chuột trống hoác ấy có con chó cái vừa đẻ con. Chẳng phải chuyện của mình, ông mặc kệ nhưng cũng không quên quay lại vài lần vứt cho nắm cơm trộn chuột nướng. Bà Niên mừng như bắt được vàng. Sau ngày hôm ấy, bà đi khắp bản kể về cái hang chuột và nói tốt về Đeo.
– Tại nó lành quá ấy chứ, ai lại người ta nhờ cầm hộ cặp lồng qua cầu treo cho bạn bận cắt tóc cũng cầm mà không hề biết ma túy giấu trong đó. Tôi biết nhé, chắc con mụ mắt chột gài bẫy thôi. Tôi biết nhé. Ai bảo ông ấy có tính ăn cắp là tôi chửi vào mặt cho. Người bản Nà Mò không làm thế. Cô Thanh sẽ về thôi. Tôi biết nhé!
Và chả ai bảo, bà nhảy xe khách xuống tận thị xã tìm bằng được cô Thanh, kể hết sự tình. Mong cô về gặp chồng dù chỉ một lần. Bà thấy mình làm như vậy thì năm mới đến sẽ may mắn hơn bao giờ hết.

TRUYỆN NGẮN. HOÀNG THỊ HIỀN