Tuyệt kĩ vô chiêu

21

VNTN – Vô chiêu là một thuật ngữ trong tiểu thuyết võ thuật Kim Dung dùng để chỉ người đã đạt đến độ “thượng thừa” về kĩ thuật. Nghĩa là đòn đánh ra không cần vận dụng một chiêu thức cụ thể nào, tiện đâu đánh đấy nhưng mang lại hiệu quả rất cao và đối phương không thể chống đỡ. Tôi nghĩ vô chiêu có thể áp dụng trong văn học khi nhà văn viết nhuần nhuyễn như không, viết rất kĩ thuật mà lại như không có kĩ thuật nào cả.
Nhà văn Paul Auster, nhà cách tân tiểu thuyết nổi tiếng của nước Mỹ từng tâm sự rằng, khi viết ông chỉnh sửa bản thảo rất nhiều, sửa đến khi nào cảm thấy những lời mình viết ra tự nhiên như không, không cảm thấy bất kì sự khiên cưỡng hay lên gân nào mới thôi. Nghĩa là lời văn hoàn toàn tự nhiên, nhà văn dùng kĩ thuật, dùng lao động cơ học để biến những dụng ý có tính toán của mình thành một thứ văn trôi chảy, “trong suốt”, tự nhiên như nước mưa hay ánh nắng và người đọc không cảm thấy bất cứ sự can thiệp nào.

 

Nhà văn Hồ Anh Thái cũng có lần kể rằng, có độc giả than phiền rằng ông viết văn ngẫu hứng quá, cảm tưởng như có gì viết nấy mà không cần phải nghĩ ngợi quá nhiều. Hồ Anh Thái lại cho rằng lời nói ấy là khen nhiều hơn chê. Vì sao, vì khi nhà văn viết ra trôi chảy tự nhiên thì cảm xúc và kĩ thuật của người viết đã chín muồi. Mỗi dòng viết ra đã được hun đúc từ trong tiềm thức hoặc lưu trữ sẵn trong não bộ, chỉ đợi có cơ hội là tuôn ra và không phải ai cũng làm được.
Tôi thích các nhà văn viết thật kĩ thuật, nghĩa là cảm phục những tác giả có sự dàn dựng cầu kì, tinh vi, các chi tiết trong tác phẩm ăn khớp với nhau như một bộ máy vô cùng phức tạp nhưng vẫn hoạt động trơn tru. Một cái lá cây xuất hiện ở đầu cuốn tiểu thuyết dày cả trăm trang rồi có thể lại vẫn dùng ở đoạn kết, một vết chân trên cát tưởng như mơ hồ ở đoạn mở đầu lại dẫn đến những kết cục lớn lao. Những ví dụ kiểu đó có thể thấy ở những bậc thầy, ví dụ như Victor Hugo, Milan Kundera… Đó là những nghệ nhân của kĩ thuật viết văn, tiểu thuyết của họ như một công trình kiến trúc có tổng thể rất hoành tráng mà vẫn được chăm chút ở những chi tiết rất nhỏ để hài hòa với bối cảnh lớn.
Nhưng tôi lại cũng thích những nhà văn viết rất kĩ thuật mà lại cảm giác không dùng kĩ thuật gì hết, nghĩa là nó rất tự nhiên, vô chiêu. Tất nhiên vô chiêu cũng có vài loại. Loại thứ nhất là đầu tư rất nhiều cho kĩ thuật và lao động cơ học, biến nguyên liệu từ một tảng đá xù xì, thô nhám thành một cô gái có thân hình tuyệt mĩ và người xem không cảm thấy có bất cứ sự đục đẽo nào trên tác phẩm đó, cảm giác nó đã có sẵn trong thiên nhiên và người ta chỉ việc mang về và trưng bày. Đó là cái cách của Paul Auster và đa số các nhà văn khác cố gắng đạt tới điều đó. Sử dụng lao động nghệ thuật một cách tối đa để tiến tới sự hoàn mĩ tự nhiên.
Thông thường ta vẫn gặp những kiểu văn trúc trắc, dấu vết kĩ thuật rất rõ. Đó vẫn có thể có những tác phẩm hay, thậm chí là những tác phẩm rất lớn. Ví dụ như bộ tiểu thuyết vĩ đại của Victor Hugo: “Những người khốn khổ” hoặc kể cả ở những cuốn như “Lao động biển cả”, “Nhà thờ Đức bà Paris” của ông. Nhà văn hầu như không bao giờ đưa ra những chi tiết thừa, những đoạn dẫn nhập dài miên man hoặc những chi tiết rất nhỏ ở đầu chuyện tưởng rằng được viết cho đủ trang hay thoảng qua nhưng xuyên suốt tác phẩm hoặc đến tận cùng, nhà văn vẫn sử dụng những chi tiết hoặc đề dẫn ấy thuyết phục và chính xác. Đó là cái tài của nghệ thuật dàn dựng, bố cục, xếp đặt. Nhà văn giống như một kiến trúc sư tài năng và mẫn tiệp, chăm chút đến từng những họa tiết trang trí nhỏ nhất trên một tòa lâu đài khổng lồ.
Làm được như Victor Hugo là quá vĩ đại và khó lặp lại nhưng đứng về góc độ nghề nghiệp bây giờ tôi lại thấy đó là những kĩ thuật quá lộ liễu. Bạn đọc thông thường và ngây thơ vài lần đầu bắt gặp có thể phục lăn tài tác giả. Nhưng những người có nghề và hay “săm soi” dần dần sẽ đoán ra được ý định của nhà văn. Tôi sẽ dự đoán được câu chuyện sẽ đi theo hướng nào và những chi tiết “gài bẫy” sẽ được dùng ở đâu. Về mặt kĩ thuật, tôi thấy Victor Hugo và F. Dostoivsky rất giống nhau. Hai người khổng lồ này thường có những dàn dựng lộ liễu và dễ bị bắt bài. Ta chỉ cần đọc độ hai cuốn của tác giả là có thể dự đoán được đường hướng của những cuốn khác. Victor Hugo và Dostoivsky thường tạo ra những sự bất ngờ và ngẫu nhiên, nhưng sự bất ngờ và ngẫu nhiên này lại quá tính toán và dàn dựng và vì thế nó thiếu một sự tự nhiên vốn có. Và có thể nói thêm rằng, một trong lí do mà văn học trinh thám hoặc hình sự đôi khi không được đánh giá cao bằng văn học chính thống bởi nó quá dàn dựng, quá gài bẫy người đọc.
Một trong những nhân vật vĩ đại nhất của “trường phái vô chiêu” là Franz Kafka. (Tất nhiên Franz Kafka sinh ra trước Kim Dung rất lâu và tôi chỉ muốn tìm một ví dụ). Franz Kafka viết ra những câu chuyện chẳng có gì là giống với hiện thực cả. Đa số những truyện ngắn và tiểu thuyết của ông mang tính bịa đặt, phi lí hoàn toàn, khó có thể tồn tại những việc và hiện thực xảy ra trong đời hoặc ít nhất là vào thời ông sống. Nhà văn bịa đặt hoàn toàn, bịa đặt “trắng trợn” mà người đọc vẫn không tỏ ra nghi ngờ hoặc không muốn nghi ngờ. Người ta chấp nhận các câu chuyện của ông mà không thấy khiên cưỡng hoặc cảm thấy nó quá lố. Người đọc như bị thôi miên và chấp nhận việc đó. Vì sao vậy, vì Kafka viết rất tự nhiên, cảm giác ông không dùng chiêu thức hay kĩ thuật nào cả, người đọc thấy những gì nhà văn viết ra như nước chảy, không có dàn dựng gì cả hoặc ít nhất không bị cái ấn tượng ấy ám ảnh.
Đây chính là sự khác thường và độc đáo của F.Kafka mà người ta đã tôn vinh ông là một những nhà cách tân tiểu thuyết vĩ đại nhất của thế kỉ XX, xếp “cùng mâm” với Marcel Proust và James Joyce. Nhưng có đúng F.Kafka là nhà cách tân cùng với hai người kia? Marcel Proust và James Joyce thì đúng rồi còn Kafka, tôi không nghĩ ông là nhà cách tân tiểu thuyết. Kafka là một thiên bẩm, cảm giác ông không cần rèn luyện gì nhiều, ông viết khác thường, lạ lẫm nhưng cứ thế tuôn ra, tự nhiên vô cùng. Nếu ta muốn lần dò những dấu vết kĩ thuật trong đó thì hầu như không có. Và tôi cho rằng một trong những lí do quan trọng mà Kafka từng có ý định thiêu hủy bản thảo của mình và đã di chúc cho người bạn của mình là Max Brod làm điều đó, là vì chính ông cảm thấy bất lực hoặc chán chường với kiểu viết của mình. Thứ văn này nếu đọc một cách thoáng qua hoặc không được trang bị ít nhiều lí thuyết, hoặc chút kinh nghiệm thì nói chung rất khó để “tiêu hóa”.
Một lần tôi hỏi nhà văn Nguyễn Bình Phương cuốn tiểu thuyết nào được chính tác giả yêu thích nhất. Ở thời điểm tôi hỏi, Nguyễn Bình Phương chưa xuất bản “Mình và họ” và “Kể xong rồi đi”. Lúc đó Nguyễn Bình Phương trả lời tôi rằng, là cuốn “Ngồi”. Tôi hỏi tại sao là “Ngồi”. Nguyễn Bình Phương trả lời rằng, vì nó là cuốn nhuyễn nhất. Nhuyễn tức là tự nhiên nhất, còn các cuốn khác của anh, ví dụ “Thoạt kì thủy”, tôi không thích lắm vì dấu ấn kĩ thuật và ý đồ của tác giả khá lộ liễu.
Qua ví dụ ở Paul Auster, Nguyễn Bình Phương và ở nhiều tác giả khác nữa thì thấy rằng người viết luôn mong tác phẩm của mình trôi chảy một cách tự nhiên nhất. Rất nhiều kĩ thuật trong đó nhưng được tinh luyện ở mức cao nhất và người ta không cảm thấy nó nữa. Trong tiểu thuyết “Tiếu ngạo giang hồ” của Kim Dung, khi nhân vật Phong Thanh Dương nói với Lệnh Hồ Xung rằng: “Nếu không ra chiêu thì đối phương sẽ đỡ kiểu gì?” đã khiến Lệnh Hồ Xung phải giật mình. Sự giật mình của Lệnh Hồ Xung vì câu nói ấy rất “kinh điển” và nó cũng là một trong những triết lí võ thuật quan trọng bậc nhất trong tiểu thuyết của Kim Dung: lấy vô chiêu thắng hữu chiêu. Còn vô chiêu trong viết văn có thể hiểu rằng đó là một kĩ thuật viết đã ở mức tinh luyện, rất cao, điêu luyện mà lại tự nhiên như không, không sờn gợn hay tạo dấu vết gì hết.
Tất nhiên vô chiêu sẽ còn một ý khác mà tôi phải nói cho kín kẽ. Có những kiểu vô chiêu là tác giả quá non nớt, viết mà không biết mình sẽ viết như thế nào. Khi gặp một tình huống phát sinh không đưa ra được giải pháp xử lí hợp lí để cho câu chuyện trôi đi mất kiểm soát, hoặc dễ dãi, tùy hứng. Tác phẩm rơi vào kiểu viết “thả rông”, không định hướng, không làm chủ được nhân vật và câu chuyện. Kiểu viết này thường rơi vào tình huống: ban đầu tác giả muốn câu chuyện dẫn đến điểm A nhưng thực tế viết lại dẫn đến điểm M, nghĩa là quá xa và mất phương hướng so với mục tiêu ban đầu. Tình trạng này thường xảy ra ở những người mới viết hoặc chưa có đủ một sự rèn luyện chuyên nghiệp hoặc chưa đủ trưởng thành.
Còn đạt đến độ “vô chiêu” hiểu theo nghĩa “tuyệt kĩ” thì xảy ra hai trường hợp. Thứ nhất là ví dụ của Paul Auster và đa số các nhà văn, đó là người viết phải khổ luyện rất lâu cả về cảm xúc cũng như kĩ thuật thì tác phẩm mới đạt tới mức độ tự nhiên như ý muốn. Còn trường hợp thứ hai là những người như Kafka. Tôi tin rằng thiên tài người Do Thái không phải mấy khổ luyện để đạt tới cảnh giới này. Sự khác thường của Kafka chính là thiên bẩm, Kafka đã rất may mắn được thừa hưởng một “điểm vượt” nào đó mà lịch sử văn học không dễ gì lặp lại, viết rất khó mà lại như không. Tuyệt kĩ vô chiêu có lẽ vì thế là ước mơ của rất nhiều người cầm bút.

Uông Triều