Khi cổ vật kể chuyện lịch sử

50

(Đọc “Gốm” của Nguyễn Hữu Nam, Nxb Văn học)

VNTN – Tròm trèm gần 200 trang, có thể xếp Gốm của Nguyễn Hữu Nam vào thể loại tiểu thuyết ngắn. Ngắn, tinh, gọn mà lạ, độc, hay, tiểu thuyết của Nguyễn Hữu Nam giàu sức gợi và nên thơ như chính nhan đề của tác phẩm: Gốm.
Gốm gây ấn tượng trước hết với cấu trúc văn bản gồm 12 phần, 12 mảnh ghép của những câu chuyện văn hóa, lịch sử liên quan đến 12 gam màu/tông màu, 12 tuyệt tác gốm sứ. Gốm còn đặc biệt bởi tác phẩm là bản hòa âm của 12 cái tôi đồ vật kể chuyện trong vai trò chứng nhân của những thăng trầm lịch sử, thăng trầm văn hóa.
Lấy bối cảnh chính từ triều đại của vị vua thứ 9 triều Nguyễn, Đồng Khánh; lấy đề tài chính từ quá trình chế tác gốm sứ ở hai lò gốm Phước Tích và Long Trường, cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Hữu Nam đã dựng lại một giai đoạn đáng chú ý của dân tộc qua những đối thoại, giằng co, mất mát từ văn hóa đến chủ quyền trong cuộc chiến giữa Đông và Tây, giữa nước Pháp mẫu quốc và xứ sở An Nam thuộc địa. Tác phẩm cũng là sự hòa trộn của các diễn ngôn văn hóa, nghệ thuật, chính trị… trên cái nền của những câu chuyện về yêu thương, thù hận, về tình phụ tử, nghĩa vua tôi, về hòa bình, chiến tranh, về khát vọng tự do cho quê hương, cho nghệ thuật.
1. Gốm – chứng nhân của lịch sử
Câu chuyện lịch sử trong Gốm được mở đầu bằng lời kể của Màu lam ngọc – Bộ bình pha cà phê, kiệt tác mà triều đình Pháp gởi tặng hoàng đế An Nam (Đồng Khánh) nhân kỉ niệm hai năm ngày đăng cơ; và kết thúc bằng lời tự thuật của Màu da lươn – bộ trà cụ, một lưu vật theo chân cựu hoàng Hàm Nghi, lúc này đã mang thân phận lưu dân, trong những buổi trà đàm cách xa cố quốc. Giữa hai lời kể, hai thân phận đế vương ấy là những biến động của lịch sử dân tộc, lịch sử đời người gắn liền với phong trào Cần Vương. Sự khác biệt về thức uống (cà phê và trà), về chất liệu gốm sứ (Pháp hay An Nam) của hai tuyệt tác gốm sứ ở hai dân tộc trở thành những kí hiệu để nhận diện hai vị hoàng đế An Nam, một thân Pháp, cầu Pháp và một bài Pháp, chống Pháp. Xen giữa lời kể của các bộ công cụ pha chế thức uống này là lời kể của Màu son đỏ – Om Phước Tích về số phận của những đồ gốm sứ bị tiêu hủy bởi cơn cuồng nộ của các nghệ nhân An Nam trước những sản phẩm bị vẽ sai lệch, gây tổn thương lòng tự tôn dân tộc. Xen giữa những năm tháng trị vì của vua Đồng Khánh còn là câu chuyện về vua Hàm Nghi, qua lời kể của Màu chàm: miếng gốm mệnh lệnh, chứa đựng bí mật về lời hiệu triệu Cần Vương; miếng gốm do Cựu hoàng trao lại và hé lộ nơi cứ trú của Ngài.
2. Gốm – biểu tượng của tình yêu
Trong tiểu thuyết của Nguyễn Hữu Nam, gốm còn được xem là biểu tượng của tình yêu. Màu nâu đất: tiểu sành và Màu đen: cây trâm cài tóc, một hội tụ vẻ đẹp mộc mạc của gốm sứ Chiêm Thành, một là kết quả tinh xảo của gốm sứ Việt, trở thành vật chứng tình yêu của cô gái người Chăm xinh đẹp Sử Mây và chàng thợ gốm làng Phước Tích Võ Hạc. Qua lời kể của chiếc tiểu sành và chiếc trâm cài tóc, món đồ mà Sử Mây và Võ Hạc tự làm để dành tặng nhau, số phận của tình yêu và của con người thời tao loạn được lồng ghép khéo léo vào số phận của lịch sử, của dân tộc. Võ Hạc vì chống lại sự xâm lăng văn hóa qua những món đồ gốm lai căng, vì tham gia phong trào Cần Vương mà bị giết chết. Sử Mây cũng vì âm mưu giết chết tên khâm sứ Pháp mà bị bắn chết, khiến tất cả các vũ nữ trong tòa khâm đều chịu chung số phận giống nàng. Qua lời kể của gốm sứ, những bất hạnh của cá nhân trở thành một phần tất yếu trong nỗi bất hạnh của dân tộc. Dù vậy, vẻ đẹp của những vật chứng tình yêu ấy cũng như vẻ đẹp của những con người giàu nhiệt huyết bảo vệ đất nước, bảo vệ văn hóa dân tộc… đã khiến các câu chuyện kể của gốm sứ trở thành những huyền thoại về văn hóa, lịch sử.
3. Gốm – tuyên ngôn về nghệ thuật
Tiểu thuyết của Nguyễn Hữu Nam còn là một bản tụng ca về vẻ đẹp của gốm sứ. Có vẻ đẹp đến nao lòng của Màu lam – chiếc tô sứ mang niên hiệu Thiệu Trị hay Màu hoàng thổ: cái chóe gắn với những ngày còn tại vị của Hàm Nghi – những đồ vật cung đình thân thuộc, giản dị mà vô cùng tinh xảo, hoàn mĩ. Có vẻ đẹp sặc sỡ và uyên áo của Màu vàng: cốc uống cà phê, chiếc cốc đồng kỉ vật của Willehm Westle khi được phủ lên một lớp men màu, kết quả của những nhát bút lạnh lùng, cuồng nộ nhưng vẫn chứa đầy tài năng và sự hoa mĩ của Hoàng Đông khi rắp tâm giết hại ông, chưa kịp đồng cảm với người cũng cùng mang chung nỗi đau bởi quê hương đang ngập ngụa trong khói thuốc súng của quân xâm lược.
Cũng là đồ gốm sứ phương Tây được trang trí bởi người nghệ sĩ An Nam, Màu trắng – lọ độc bình, qua lời tự thuật của mình đã ý thức rõ về sự “cò cưa giữa hai bên bờ ranh giới của sự khác biệt” giữa ông chủ lò gốm Long Trường người Pháp và nghệ nhân gốm sứ Phước Tích Hoàng Đông khi bọn họ “không thôi nghĩ cách làm sao trang trí cho tôi thật toàn bích”. Khác với ông chủ trước luôn vỗ ngực tự cho mình đến từ xứ sở văn minh và thuộc về dân tộc đi khai hóa thuộc địa, bóp nghẹt sự sáng tạo của những nghệ nhân An Nam, Willehm Westler đã cho phép và kích thích Hoàng Đông tự do sáng tạo. Bởi “nghệ thuật đích thực chính là nghệ thuật được thoát thai từ tâm hồn của người nghệ sĩ hoàn toàn được tự do sáng tạo, không vấp phải bất kì một rào cản, chịu sự chi phối bởi bất kì một thế lực nào… Không tôn giáo, quốc gia, dân tộc, cường quyền, cá nhân nào có thể cưỡng đoạt quyền tự do sáng tạo của nghệ sĩ. Nếu có, đồng nghĩa với tội ác”. Đã có một quan niệm xác đáng về lẽ tồn vong của cái đẹp, của nghệ thuật, qua những câu chuyện của cổ vật, của gốm sứ.
Cũng đã có những khước từ cực đoan, dứt khoát khi không chấp nhận một cái đẹp lai tạp, mất bản sắc. Với đường nét, hình khối và màu sắc đã tạo nên sự hoàn mỹ tuyệt đối đến mức có thể quyến rũ ngay cả những ai dửng dưng trước vẻ đẹp của phù điêu trang trí, ngoại trừ đám thợ gốm trong xưởng luôn rắp tâm hủy hoại, Đa màu: Phù điêu Hổ phù lại kể một câu chuyện lịch sử khác từ những va chạm, đụng độ về văn hóa, về quan niệm nghệ thuật. Bất kể là niềm tự hào của Jean – Pierre Outers, và được gắn ghép công phu từ những mảnh gốm nhiều màu sắc đến độ quyện chặt vào nhau như thể đúc ra từ một khối gốm, bức phù điêu Hổ phù mang vẻ đẹp theo phong cách Tây Phương cuối cùng vẫn bị đập nát cùng toàn bộ các đồ gốm sứ khác vốn được tạo tác để trang trí điện Ngưng Hy theo nguyện vọng của Đồng Khánh khi muốn lập nơi thờ phụng cha mình. Trong con mắt của các người thợ gốm làng Phước Tích tài hoa Võ Hạc, bức phù điêu kia chỉ là “đứa con lai được sinh ra từ cuộc hôn phối của Bạch quỷ với những thợ gốm vong bản, những kẻ trơ trẽn đến mức gạt bỏ lòng tự tôn dân tộc khi chạm tay vào thớ đất sét và men màu”. Phải chăng, những chối bỏ quyết liệt, cực đoan của Võ Hạc chính là biểu hiện của tinh thần phản ứng dân tộc trước những xâm lăng về văn hóa, về chủ quyền. Tuyên bố của Võ Hạc “tôi phải giết chết lão già đó”, “tôi không để cho lão có thêm bất kì cơ hội nào hủy hoại hay xâm lấn hay chà đạp lên lòng tự tôn của chúng ta nữa” chính là biểu hiện cao nhất của sự khước từ, chối bỏ văn hóa. Với anh và với những người Việt yêu nước, khó có thể có tranh luận, đối thoại, dung hòa, thỏa hiệp với ngoại bang, với kẻ thù, dù chỉ ở việc chấp nhận một cái đẹp theo kiểu khác.

 

Và đặc biệt nhất trong 12 cổ vật gốm sứ có lẽ là Tam lam: bức tranh gốm, bức tranh gốm truyền thần đầu tiên của nhà vua thích dùng rượu vang trong mỗi buổi ngự thiện và thích họa chân dung của mình như những người Pháp quyền thế, Đồng Khánh – nhưng có đôi mắt của cựu hoàng Hàm Nghi, một vị vua yêu nước. Trong quá trình chạm khắc, tạo tác bức chân dung, Hoàng Đông đã vô cùng “chật vật và khó nhọc”, “không dễ dàng thỏa hiệp ngay với một con người đã bắt tay với ngoại nhân để đàn áp những người yêu nước chân chính”. “Không có bất kì một đặc điểm, một tính cách nào ở con người này khiến chàng tìm thấy sự ngưỡng vọng để tôn vinh và ca ngợi bằng hình ảnh, đường nét và sắc màu”. Phải chăng, nghệ thuật không thể ra đời nếu thiếu những rung động từ tình yêu thương, lòng ngưỡng mộ, sự trân quý. Hoàng Đông chỉ có thể chạm khắc những đường nét tuyệt mỹ, bay bổng và sống động khi đem sự ngưỡng vọng về cựu vương và dồn tụ hết tâm huyết của mình vào đôi mắt của bức chân dung gốm sứ, làm cho nó trở nên lung linh nhờ vẻ đẹp của tinh thần. Bức tranh gốm vẽ chân dung Đồng Khánh chỉ thực sự trở thành tuyệt tác gốm sứ nhờ vẻ đẹp của đôi mắt… Hàm Nghi. Có chút đánh tráo ở chi tiết của “người mẫu”, có những viện cầu cảm xúc từ ước mơ, hoài vọng thay vì từ những sự thật hiển nhiên. Trong tiểu thuyết của Nguyễn Hữu Nam, gốm sứ không chỉ kể chuyện lịch sử, chuyện văn hóa mà còn đưa ra các tuyên ngôn về nghệ thuật.
* * *
Với 12 cổ vật, mười hai người kể chuyện xưng tôi, Gốm của Nguyễn Hữu Nam là một mảnh ghép tuyệt đẹp của một cấu trúc trần thuật ngỡ rời rạc mà đan quyện, thống nhất; ngỡ khô khan, xơ cứng mà lại hết sức uyển chuyển, trữ tình. Gốm có lối viết của việc sử dụng thủ pháp mà như không có thủ pháp, của những sắp xếp thông minh, nhiều dụng ý mà vẫn như chuyện được tự kể, tự chảy một cách tự nhiên. Gốm là một tiểu thuyết lịch sử… lạ lùng so với các tiểu thuyết lịch sử truyền thống và cả tiểu thuyết tân lịch sử. Bởi lịch sử không là trục chính, dù tác giả đã xác lập ngay từ bìa sách rằng đây là tiểu thuyết lịch sử. Bởi sự kiện, chi tiết lịch sử chỉ được điểm xuyết vừa đủ, đủ để chính xác mà không giảm tính hư cấu của tác phẩm, đủ để huyễn hoặc, mờ ảo để các câu chuyện văn hóa, lịch sử vẫn đủ sức khơi gợi sự đồng sáng tạo, sự nghi hoặc từ độc giả. Bởi, để chốt lại tác phẩm, người kể chuyện tác giả đã lên tiếng, một lần duy nhất trong suốt tác phẩm, vừa khẳng định lại vừa gieo thêm sự ngờ vực, hoang mang: “Cảm ơn! Vâng, rất cảm ơn bạn đã theo dõi câu chuyện của tôi cho đến thời điểm này. Lòng kiên nhẫn của bạn chắc chắn sẽ được đền đáp bằng trí tưởng tượng phong phú, khả năng tư duy hay đúc kết một số kinh nghiệm gì đây cho cuộc sống. Bạn có thể không cần tin vào tất cả những gì tôi kể trên đây. Nhưng bạn nên tin những gì tôi sẽ kể tiếp sau đây. Đơn giản vì nó được lấy từ Nguyễn sử”. Sự chập chờn gây men ngờ vực vốn đặc trưng của thể loại tiểu thuyết đã được thể hiện khéo léo qua tiểu thuyết Gốm của Nguyễn Hữu Nam. Cái nhìn của tiểu thuyết cũng được rộng mở và nhiều chiều kích hơn khi được soi từ nhiều điểm nhìn, được kể bởi nhiều giọng điệu.

……………………………..
* PGS.TS, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Huế

Thái Phan Vàng Anh*