Sóc đồng cỏ

100

VNTN – Colin Frizzell là một nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch người Canada. Ông là thành viên của Liên minh Nhà văn Canada và Liên minh Nhà văn Ireland. Sách của Colin đã nhận được sự hoan nghênh khắp Bắc Mỹ, được dịch sang tiếng Thụy Điển và Na Uy cũng như được đưa vào giảng dạy ở nhiều trường trung học ở Ontario. (Nguồn: eastoftheweb.com)

Bill khá đần độn. Cậu đã như thế gần như cả đời mình hay ít nhất cũng từ hồi tôi biết cậu, mà như thế thì cũng gần cái lúc cậu ta ra đời rồi. Giờ đa số mọi người đều nghĩ về Bill như thế, nhưng tôi thì không. Tôi nghĩ rằng hồi Bill còn nhỏ, cậu bị trúng quá nhiều bóng khúc côn cầu vào đầu thôi. Cậu không giỏi trượt băng nên người ta luôn quẳng cậu vào cầu môn. Không may cậu cũng không phải là một thủ môn giỏi. Nhưng điều đó không quan trọng vì kết quả cuối cùng cũng như nhau cả. Bill cần được quan tâm và thấu hiểu nhiều hơn một chút.
Cậu ta là một anh chàng to con. Không phải mập mà là cao và rắn chắc, và khi kết hợp điều đó với vẻ ngoài đần độn bên ngoài thì nhiều người thấy cậu hơi đáng sợ. Có vẻ mọi người chỉ mong cậu ta làm gì đó ác độc. Gần như người ta muốn cậu làm vậy để họ có lí do để cảm thấy điều họ cảm nhận về cậu.
Tôi biết Bill nhiều hơn thế. Tôi biết cậu ta dịu dàng như một con mèo con và ngây thơ như một đứa trẻ. Tôi biết rằng cậu ta không làm chuyện họ quy cho và tôi không định ngồi lại mà nhìn họ ngược đãi cậu. Chuyện đó không đúng.
Đó là lí do chúng tôi bắt tàu hỏa đi. Và là lí do vì sao lúc này tôi ngồi đối diện Bill, quan sát cậu nhìn ra ngoài bức tranh sơn dầu trống không vẽ một thảo nguyên trồng lúa mì. Thỉnh thoảng tôi thấy mắt cậu sáng lên và cậu mỉm cười như cười một câu nói đùa mà không ai hiểu được. Rồi vẻ mặt đó tan biến nhanh như khi nó đến và cậu sẽ chỉ nhìn cánh đồng chăm chú. Nếu mà thấy được cậu ta đang cười cái gì thì tôi sẽ bị nguyền rủa cho mà xem.
“Tôi lấy cho ông thứ gì nhé?” tôi nghe một giọng Pháp của người Canada. Tôi nhìn lên thì thấy một người phục vụ gầy và cao lêu nghêu đang đẩy một cái xe đồ ăn thức uống qua toa giữa.
“Không cảm ơn. Bill cháu có muốn gì không?”
Cậu chỉ lắc đầu. Bill là người ít nói. Người phục vụ đi tiếp mời chào những hành khách lãnh đạm còn lại mua hàng. Tôi quay lại với Bill ngay lúc nhìn thấy nụ cười toe toét ngớ ngẩn đó lại nở trên mặt cậu. Tôi nhìn ra cửa sổ nhưng chẳng thấy gì ở đó hết. Có lẽ cậu ấy nghĩ mặt trời giữa trưa đã thực sự biến cánh đồng lúa mì thành một biển vàng. Hoặc có lẽ vì chưa từng thấy thảo nguyên trước kia nên trong trí óc đơn giản của mình, cậu nghĩ rằng một biển vàng là thứ cậu đang thực sự ngắm nhìn, tàu lửa đã biến thành một chiếc thuyền và chúng tôi đang giương buồm đi vào một miền đất kì diệu tên là Toronto. Tôi thấy thèm cái kiểu như trẻ con mà cậu ấy dùng để nhìn thế giới quá.
Chúng tôi đã luôn là bạn bè, hoặc dù sao thì cũng tương tự. Tôi luôn chăm sóc cậu ta. Tôi chăm sóc cậu ta khi tôi kiếm được cho cậu ấy việc làm cho Marion Janson.
“Johnny, sao mình lại phải đi?” Bill hỏi với vẻ thật thà thiếu hiểu biết.
“Mấy người đó đuổi theo cháu. Và nếu họ tìm ra cháu thì không thể nói được là họ sẽ làm gì đâu.” Tôi đáp.
“Nhưng cháu đâu có làm gì để họ phải đuổi theo cháu đâu. Cháu đâu có làm hại bà Janson; bà ấy lúc nào cũng tốt với cháu.” Dường như sự bối rối trong giọng cậu có thêm chút đau khổ.
“Chú biết mà Bill, nhưng mấy người đó đã mặc định tâm trí rồi.”
“Có lẽ mình nên nói chuyện với họ,” cậu khẩn khoản.
“Khi một đám người đều tức giận vì cùng một chuyện thì gần như không thể nói lí với họ được đâu.” Tôi giải thích.
“Đáng ra chúng ta có thể thử mà,” Bill hờn dỗi quay trở ra cửa sổ.
Tôi có thể hiểu tại sao cậu buồn. Marion đã rất tốt với cậu. Chà, nói chính xác hơn thì bà ta đối đãi với cậu như đối đãi mọi người khác – thứ mà Bill không quen.
Cậu dọn sân nhà cho bà ta. Cắt cỏ, làm vườn, đại loại thế. Đó là một công việc tốt đối với Bill. Đó là lí do vì sao tôi tiến cử cậu làm việc đó. Tôi biết Marion gần được một năm kể từ hồi bà ta mới chuyển tới. Bà ta thừa hưởng một khoản tiền từ chồng mình và mua một ngôi nhà lớn kiểu Victoria trong nông trại ngay bên ngoài thị trấn. Nó cần được sửa sang và thế là tôi đến. Thật ra nó cần được trùng tu hơn là sửa sang. Tôi phải gỡ mớ đồ gỗ trong nhà ra và làm mới lại hết. Bà ta muốn mọi thứ phải trông như căn nhà chỉ mới xây thôi. Rồi bà ta muốn trang bị toàn đồ cổ để khi bước qua cửa nhà bà ta thì sẽ có cảm giác như bước vào quá khứ.
Tôi làm ở đó vài tháng thì hoàn thành mọi thứ. Trong thời gian đó tôi đã thực sự hiểu bà ta. Bà ta luôn khen sản phẩm tôi làm ra, bảo rằng tôi là một thợ thủ công giỏi. Thật hay khi nghe vậy, nhất là từ người đặc biệt như Marion.
Bà ta 47 tuổi, lớn hơn tôi 10 tuổi, nhưng mái tóc dài màu vàng khiến bà ta trông khá trẻ. Ông chồng quá cố lớn hơn bà ta 25 tuổi. Ông ta là đại sứ người Canada đã làm việc cho các sứ quán khắp thế giới. Tôi nghĩ Marion đã tới hầu hết những nước mà người ta có thể đi, những nước mà ai cũng muốn đi. Bà ta trang trí khắp nhà bằng những đồ lưu niệm có được từ những nơi mình đã tới.
Bà ta tự hào nhất về tấm thảm phương Đông của mình. Lần đầu tiên thấy tấm thảm đó tôi không biết phải nghĩ gì. Tôi sợ không dám chạm vào nó vì sợ làm hư. Rồi tôi trở nên thích thú với nó. Cái cách Marion trải nó ra rất phức tạp, mỗi lần nhìn nó tôi lại thấy cái mới và tôi không bao giờ mệt khi nhìn nó. Nó như một câu đố, một câu đố hiếm có và đẹp đẽ. Tôi chưa bao giờ ở gần thứ gì đẹp kì lạ đến thế. Sự tinh vi của hoa văn thực sự khá lừa đảo vì nó có mặt bên dưới cứng nhắc. Thật buồn cười vì với mọi sự phức tạp của mình nó lại thực sự không tốt hơn gì bất kì tấm thảm trải nhà nào khác, chỉ là bà ta nghĩ thế thôi.
Tấm thảm phủ lên sàn nhà mới làm xong trong phòng khách, nơi chúng tôi ngồi nói chuyện uống trà bà ta pha. Bà ta cũng pha trà cho Bill nữa. Trong một chừng mực, đó là thứ khiến chúng tôi mắc vào tình thế khó khăn này.

“Mình đang đi đâu thế?” Bill hỏi tôi với giọng vẫn còn chút oán giận. Cậu nói nghe như một đứa trẻ bĩu môi, kiểu như giọng “nhưng cháu không muốn” ấy.
“Toronto”, tôi đáp.
“Cháu không muốn đi Toronto,” cậu rên rỉ.
“Đâu có mấy người muốn đâu Bill, nhưng nơi tốt nhất để trốn là giữa cả đám người. Ở đó có nhiều khuôn mặt tới mức sẽ không ai thèm để ý đến chúng ta đâu.” Tôi giải thích.
Nói thế có vẻ không dỗ dành Bill được mấy. Tôi biết mình không đổ lỗi cho cậu. Bill đã quen với việc mọi người biết mặt mình dù họ có thích nó hay không lại là chuyện khác, nhưng họ biết nó, và Bill biết mặt họ. Đó là cuộc sống duy nhất Bill từng biết và cậu đã lớn lên rất thoải mái ở đó. Cảm thấy thoải mái ở một nơi quan trọng đối với người như Bill hơn đối với người ta. Bill dường như cần môi trường quen thuộc chỉ để có thể vượt qua được cuộc sống thường ngày của mình mà thôi.
Tôi cảm thấy có phần tệ khi đưa Bill đi xa khỏi nó. Cho dù tôi đang từ bỏ cùng cuộc sống đó để có thể chăm sóc cậu và giữ cậu an toàn nhưng đối với tôi nó vẫn sẽ dễ dàng hơn. Tôi chỉ không chắc là mình làm đúng. Tôi không thực sự biết cậu sẽ sống ở thành phố như thế nào. Tôi vừa ngồi đây lo lắng mọi chuyện vừa nhìn qua Bill. Nụ cười ngớ ngẩn đó lại xuất hiện trên mặt cậu lúc cậu nhìn ra cửa sổ. Tôi tự hỏi có chuyện gì đang diễn ra trong cái đầu chậm tiêu đó của cậu vậy.
Có lẽ cậu chỉ thích thú nhìn thảo nguyên, cái vùng trồng ngũ cốc của thế giới thôi. Và nhìn nó xem, với nó chỉ có sự bằng phẳng, cái hư vô và toàn bộ sự cô đơn. Ai lại nghĩ rằng trong cái tầm thường lại hàm chứa nhiều sự sống đến thế? Bill có vẻ thấy nhiều sự sống hơn là cái tầm thường, cậu còn có thể thấy cái vui trong đó. Có lẽ chính những bông lúa mì đong đưa mang lại cho cậu niềm vui đến thế. Có khi, đối với cậu đó là một buổi khiêu vũ hoành tráng và gió là tiếng nhạc hiệu bắt đầu một điệu van-xơ cho chúng nhảy ngay thời điểm lí tưởng. Lúc chăm chú nhìn Bill, tôi không thể nào không nghĩ thật tốt đẹp khi mọi thứ đều trong sáng và lúc đó thì vui vẻ thật dễ.
Lúc tôi làm xong nhà Marion thì bà ta hỏi tôi có biết ai có thể chăm sóc khoảnh sân cho bà ta không. Đó là lúc tôi tiến cử Bill. Tôi thậm chí còn thỉnh thoảng lái xe đưa Bill tới đó làm nếu thời tiết quá xấu mà cậu không đi xe đạp được. Những lúc như vậy tôi đều ghé qua chào Marion. Một thời gian sau tôi ghé qua đó vào giữa ngày chỉ để chơi. Tôi sẽ nhớ những lần viếng thăm đó lắm. Bà ta có vẻ rất lôi cuốn.
Với quãng thời gian ở bên nhau, tôi đã thực sự trở nên gắn bó với Marion. Bà ta thật xinh đẹp, luôn mặc những bộ váy tao nhã và có kiểu cách thượng lưu. Tuổi tác chỉ thêm vào cho bà ta vẻ tinh tế từng trải, làm bà ta càng thêm quyến rũ. Có lẽ do tôi ít đi du lịch và thiếu kiến thức về thế giới nên khiến bà ta có vẻ bí ẩn và làm tôi mù quáng đến thế.
Cái ngày chuyện đó xảy ra, tôi ghé qua chơi với bà ta. Chà, còn hơn một chuyến viếng thăm ấy chứ. Tôi muốn biết liệu bà ta có cùng cảm giác đối với tôi như của tôi đối với bà ta không. Mãi đến khi tôi nghĩ tới khả năng có gì giữa bà ta và tôi thì bí ẩn mới được vén màn và tôi thực sự nhận ra con người bà ta. Tôi đến ngay lập tức để nhận ra lòng tốt của bà ta thực sự trịch thượng như thế nào. Sự dịu dàng của bà ta là thứ người ta có thể dùng để đối xử với chó mèo. Đó là cách bà ta nghĩ về Bill và tôi, như thú cưng ấy. Thực tế tôi nghĩ rằng đó là cách bà ta nghĩ về đa số mọi người. Lúc nhận ra điều đó, tâm trạng tôi cứ thế mà bùng phát. Sự kết hợp giữa phản ứng của bà ta và cái nóng khiến tôi… lẽ ra bà ta không nên cười.
Hẳn chính cái nóng của ngày hôm đó là thứ khiến Bill cởi áo khoác ra khi cậu vào nhà uống trà và để quên nó trên lưng ghế. Bà túm lấy nó lúc rơi xuống đất. Người ta tìm thấy bà ta như thế. Máu đã biến mái tóc vàng của bà ta thành màu đỏ thẫm. Bộ váy đắt tiền của bà ta bị xé rách và tấm thảm phương Đông bị phá hủy. Vẻ mặt bà ta bình tĩnh đến kì lạ, nhất là khi cơ thể bà ta lại nằm quằn quại. Áo khoác của Bill bị tay bà ta siết chặt tới mức trông như thể bà ta đã xé toạc nó ra ngay trên lưng cậu vậy.
Tất nhiên tôi không nhận ra đó là áo cậu, đến khi họ tới tìm cậu thì nó mới lóe ra trong tâm trí tôi. Tôi biết rằng Bill không có cơ hội nào nếu họ bắt cậu, thế nên tôi làm cái điều bất kì người bạn tốt nào cũng làm. Tôi mang cậu ta đi khỏi đó. Biết rằng Bill sẽ không thể nào chăm sóc bản thân nên tôi quyết định mình nên đi cùng.
Tôi đoán cuộc sống giờ sẽ khác. Tôi đã luôn trông nom Bill nhưng giờ tôi sẽ phải chắc chắn là cậu cúi đầu xuống. Tôi đoán chúng tôi sẽ sống như mấy con sóc đồng cỏ kia với những cái đầu tôi cứ thấy hiện ra rồi biến mất. Tôi tự hiểu không biết đó là thứ khiến Bill cứ cười mãi.
“Bill, cái gì làm cháu cứ cười mãi thế?”
“Mấy con sóc đồng cỏ.” cậu vừa cười toe toét vừa đáp.
Thế đấy, tôi sẽ bị nguyền rủa mất thôi.

Truyện ngắn. Colin Frizzell

Trương Thị Mai Hương (dịch)