Chạy trốn

384

VNTN – Giải thưởng văn học Di dân và di công được Bộ Văn hóa và Ủy ban người nhập cư Đài Loan tổ chức thường niên từ năm 2014 nhằm hướng tới sự giao lưu văn hóa, sự thấu hiểu, cảm thông với những cộng đồng người nhập cư đến từ các quốc gia khác nhau đang sinh sống trên đất Đài Loan. Đặc biệt, Giải thưởng muốn giúp những bộ phận thiểu số trong xã hội được cất tiếng nói về đời sống của họ. Giải thưởng văn học Di dân và di công năm 2019 có gần 500 thí sinh từ các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kong, Việt Nam, Indonesia… tham gia. Tác giả Nguyễn Nhật Huy – Hội viên Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên đã giành Giải thưởng “Thanh thiếu niên bình chọn” hai năm liên tiếp với 2 truyện ngắn “Thịt người” (2018) và “Chạy trốn” (2019).
VNTN trân trọng chúc mừng tác giả Nguyễn Nhật Huy và giới thiệu với bạn đọc truyện ngắn “Chạy trốn”.

Ngôi chùa nằm chênh vênh trên đỉnh núi. Trăng vành vạnh xuyên thẳng qua những mái ngói mục nát. Đây là nơi xa xôi mà chắc chẳng ma nào thèm đến. Ngôi chùa đa phần bằng gỗ và dấu vết thời gian đã bải hoải trên thân. Trong những đêm sương và trăng cùng ghé qua, chùa phát sáng long lanh. Tấm gỗ quanh chùa đen bóng tuyệt không có một họa tiết nào. Nó mộc mạc và đơn giản. Chính giữa là bức tượng phật khá lớn bằng đá. Hai hốc mắt tượng không biết vì thời gian hay ai khoét đi chỉ thấy sâu trũng lại một màu đen tê tái.
Tôi đã cùng đường. Tôi đã chạy mấy ngày mấy đêm lang thang nơi núi rừng này. Tôi gục ngã và thiếp đi. Trí nhớ lẫn lộn, con dao đâm xuyên qua người đó. Máu. Rất nhiều máu bắn còn khô vương lại trên má. Tôi không sẵn sàng nhận hình phạt. Tội lỗi. Tôi không có tội. Con dao mờ mờ trong đêm, tôi cắt một lát bánh lên ăn để đủ tỉnh táo căng cặp mắt sưng mọng mà đi. Có tiếng suối gần đây. Tôi tiếp tục chạy đến lúc lê trên đất vì khát và đói. Tôi không nhận ra phương hướng. Tất cả mọi thứ đều là sương núi lạnh lẽo. Tay tôi chạm vào một hư vô hay một bậc thang.

Tôi là người dân Nghệ An – Việt Nam. Nghe họ hàng rủ nên tôi bỏ sang Đài làm giúp việc trông người già. Khi đi, tôi phải cắm sổ đỏ ngân hàng và vay anh em bạn bè các nơi để có đủ 150 triệu làm thủ tục xuất khẩu lao động. Quê tôi nghèo lắm nên phải đi. Dù chả biết Đài Loan ra làm sao nhưng cứ liều. Ở nhà làm cật lực ngày không ra mấy chục bạc. Thấy người môi giới bảo sang Đài Loan làm vớ vẩn tháng cũng mấy chục triệu. Thế là đi thôi. Ở Việt Nam tôi còn đứa con nhỏ đang học cấp hai và bố mẹ già. Ngày hôm nay là ngày thứ năm tôi chạy trốn khỏi cảnh sát Đài. Tôi đã giết kẻ đầy đọa và hành hạ tôi.
Ánh sáng lóa cắn vào đôi mắt sưng húp. Tôi tỉnh dậy thấy bậc thang u ám mà mình phơi sương cả đêm qua. Lạnh đến chân như thắt lại. Tôi lê từng bậc vào trong uể oải. Tôi nhìn thấy bức tượng phật lớn bằng đá có hai hốc mắt sâu hoắm. Mạng nhện lắc lư trên đôi môi im lặng. Nhìn ra ngoài cửa sổ đã gãy cánh thấy mọi sự như đóng băng. Cành cây phủ kín hai phần ba chùa. Quả là nơi lý tưởng để chạy trốn.
Loay hoay cuối cùng cũng nhặt được ít lá lót thành cái ổ để đêm đỡ lạnh. Mấy mảnh chai lọ vỡ đủ đựng nước suối để dùng. Nguyên thủy sẽ không có tội ác. Tôi không có tội. Cút đi. Tôi không cần thế giới này. Tôi đã tìm ra bình yên. Bức tượng này là thật. Cái bát này là thật. Tôi hài lòng lắm vì không phải đối mặt với sợ hãi gì nữa. Sự an toàn hoàn hảo khỏi phán xét. Tôi chợt nhớ những ngày đầu tiên đặt chân lên hòn đảo này. Mọi thứ đều hoa lệ. Mọi thứ đều đẹp đẽ hơn mảnh đất quê tôi rất nhiều. Quê tôi mùa nào cũng nắng cháy trời. Chẳng cây gì sống được. Những ngày đầu tôi sang đã bị gom vào cái nhà như cái chuồng chó. Mà giới lao động cũng gọi đấy là chuồng chó thật. Có khi nam nữ ở lẫn. Cũng có khi được tách riêng. Mấy đêm đầu tiên tôi thức trắng. Tôi sợ mất tiền. Ở nơi đất khách quê người này mấy tháng đầu chưa có việc. Tiếng không biết. Mất tiền là chết đói. Đôi khi ôm tiền ngủ thiếp đi lại giật mình tỉnh giấc. Chưa kể bị lừa. Lúc chưa sang thì họ hứa hẹn chế độ ăn ở, sinh hoạt thế này thế nọ. Sang rồi thì họ cắt hết tiền này, bắt đóng tiền khác. Có khi mấy tháng trời còn chưa có việc, chúng tôi chỉ ăn cơm trộn muối mang từ nhà sang.
Cả ngày bải hoải vì chưa quen sự yên lặng chết chóc ở nơi này. Tôi tự nhủ vẫn còn hơn là đối mặt với những gì đã qua. Con dao và một bông hoa đổ gục. Tôi bắt đầu khám phá nơi mình định sẽ sống. Sau bức tượng đá là một căn hầm. Tôi châm một ngọn nến cháy dở và cúi mình luồn xuống. Đường tối. Vách đá long tong rêu nước. Mờ mờ chân tôi vấp phải gì đó và ngã xoài ra. Chống tay dậy lại chạm vào cái gì trơn trơn, ghê ghê. Ghé đèn sát lại thì thấy một bộ xương. Một bộ xương nửa đen nửa trắng. Tôi sợ và chạy vụt lên trên như không quan tâm bóng tối. Tôi lặng nghĩ: chắc ai đó cũng chạy trốn như mình mà bỏ mạng tại đây chăng. Nỗi sợ làm tôi ngồi thu mình lại và nép vào chân tượng Phật.
Đêm. Run cầm cập. Trăng rọi qua mái trống. Ngôi chùa như hút hết ánh trăng. Tôi gồng mình hứng những trận gió núi thê thiết rồi chìm vào giấc ngủ. Hình như có bóng tối kéo lấy chân tôi. Màu đen dần cô lại thành hình người không ra người, quỷ không ra quỷ. Cười gằn:
“Ta sẽ trả lại hết. Trả lại hết. Những gì ta phải chịu. Các người đè lên ta. Xích ta lại. Ta đói khát. Ta chết nhưng ta sẽ trả cả vốn lẫn lãi”.
Con dao đâm phập xuống. Hình như máu chảy nhưng máu cũng đen. Tôi không kêu thành tiếng. Tôi cố bò ra cửa sổ để nhảy xuống cho thoát khỏi cơn kinh hãi này. Dao cứ đâm loạn xạ. Ánh đen tuyền cắt cả màn đêm. Ánh sánh từ trăng rọi vào. Tôi bừng tỉnh. Hóa ra là mê. Tôi mơ thấy lão chủ gớm ghiếc của tôi. Khuôn mặt lão đầy mụn cóc và làn da lủng bủng. Hàm răng hắn to bạnh và đôi mắt sâu hun hút. Tại sao tôi gặp hắn ư? Bởi vì tôi đã bỏ trốn. Bỏ trốn để mong ở lại Đài Loan lâu hơn, mong kiếm được nhiều tiền hơn. Tôi còn cả một gia đình phải gánh trên vai, cả một khoản nợ khổng lồ. Tôi nhận việc trông nom lão già ấy. Lão giàu lắm nhưng tính khí vô cùng quái đản. Bình thường thì không sao nhưng khi lão ta lên cơn khó ở là cả cái bỉm toàn cứt người ném thẳng vào mặt tôi. Thằng con lão thì hau háu chỉ chờ có dịp là nhìn trộm tôi tắm. Thực ra công việc cũng không có gì ngoài việc lau rửa cho lão. Tôi bị cấm ra ngoài phần vì tôi sợ bị cảnh sát bắt phần vì lão không muốn. Tôi như bị giam lỏng. Ghê hơn là mùi của lão rất kinh. Những ngày đầu tôi chực nôn vì cái mùi khăn khẳn, khai khai ấy. Gọi là người bệnh chứ tôi thấy lão to khỏe như con trâu mộng. Khi tôi lau đùi cho hắn nhiều lần lão quờ tay túm lấy ngực tôi rồi dí sát cái mặt phè phè đầy nhớt vào tóc tôi. Cũng tính trốn đi tìm việc khác nhiều lần nhưng vì sợ cảnh sát bắt và tôi cũng không biết ai ở nơi này nên cũng cắn răng ở lại.
Tôi quỳ trước mặt tượng Phật. Người sẽ che chở tôi chứ? Tôi chỉ là một chúng sinh bé mọn trên cõi này. Cũng như hạt bụi. Cuộc đời nhỏ bé vậy đấy. Lần đầu, nhìn từ ô cửa máy bay, tôi thấy kiếp người nhỏ bé quá. Chỉ như hạt bụi, hạt cát. Tôi hát khe khẽ một đoạn nhạc Trịnh Công Sơn buồn bã:
“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai vươn hình hài lớn dậy?
Ôi, cát bụi tuyệt vời, mặt trời soi một kiếp rong chơi.
Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi?
Ôi, cát bụi mệt nhoài, tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi?”
Phật ư? Ở nơi xa lạ này, với một kẻ không căn cước, một kẻ phạm tội như tôi, chỉ còn hy vọng mong manh sự che chở từ Người. Một ngày nữa trôi qua, tôi cảm thấy kiệt sức. Tôi nằm dài ra dưới chân tượng Phật. Gió thổi vào ào ảo. Ngoài cửa sổ những bóng anh đào nở như muốn khóc. Tôi soi mình xuống mặt nước. Đôi mắt tôi thâm quầng vì mất ngủ. Ngày xưa, ở quê mẹ tôi cũng bảo: “Đời mày rồi sẽ buồn. Mắt mày đen lắm.”. Tôi lại bật khóc nhớ lại đêm ấy.
Lão chồm lên người tôi khi tôi đang say ngủ. Cái mùi khăm khẳm mà không nước tẩy nào rửa được sộc vào mũi tôi. Tôi vùng vẫy nhưng lão già tưởng ốm đau lại khỏe lạ kì. Hằn ghìm tôi xuống bằng đôi tay như kẹp sắt. Lão bắt đầu xé quần áo. Lão nhay nghiến đau rát bầu ngực tôi. Tôi sực nhớ con dao ở đầu giường vì mẹ tôi ngày xưa bảo: “Ngủ không ngon là do tà ma. Để con dao đầu giường sẽ xua được tà mà. Tôi vớ lấy con dao và đâm túi bụi rồi vùng chạy”.
Đêm hôm nay tôi không còn nhớ được tôi đã chạy trốn bao nhiêu ngày. Tôi đói và khát vô cùng. Tôi muốn mặc kệ tất cả. Tôi nhìn lên tượng Phật. Vẫn gỗ đá vậy. Vì đâu tôi nên nông nỗi này. Ngôi chùa bé lại như cái quan tài, như cái hộp diêm. Cảm giác thật chết chóc. Ngày tôi bỏ trốn tìm việc làm, bọn môi giới cũng nhét tôi vào cái hòm như vậy để tránh cảnh sát. Nó thực sự là một cảm giác như nằm trong quan tài. Một cảm giác chết chóc. Tôi bất mãn. Tôi thù hận. Tôi trèo lên và tạc cho tượng Phật một đôi mắt. Người nhìn rõ rồi chứ. Đó là kiếp sống của tôi đấy.
Ta tha thứ cho các người rồi đấy. Giết ta đi. Sự đời ta không cần nếm nữa. Giết bằng dao đừng giết bằng cái u tịch vây khốn này. Bức vách kia nổ tung ta đi. Ta có tội. Ta là quỷ. Tôi chán nản chạy trốn rồi.
Mệt mỏi. Tôi lại thiếp đi lúc nào không hay. Một tấm vải trắng bay nhè nhẹ theo gió phủ lên tôi. Da thịt tôi bung ra. Cặn bẩn hình như vón lại và bị tấm vải hút đi. Nhìn vào mảnh gương đồng thấy mình trơ xương và hai hốc mắt. Tôi là bộ xương trắng. Tôi không đau. Chỉ như có từng giọt đang chảy trên mặt sóng rồi lặng lẽ bất động. Trăng vòi vọi trên cao xuyên qua sương trên đỉnh chùa.
Đến bây giờ ta đang đi đến đáy trăng. Sẽ không còn sương và bóng tối. Ta thanh sạch không cần nghi ngờ. Đó là nơi cuối cùng mà ánh sáng vĩnh viễn bất diệt trong veo. Nhưng sao các người vẫn phán xét ta. Ồ không, ta điên rồi. Đáy trăng sao lại mở ra hố đen thế kia. Ta tưởng đây là đáy. Trăng đẹp quá cũng vô tình quá.
Ngày cuối cùng khi tôi bị mang đi. Tôi vẫn cố nhìn theo mái chùa đổ nát. Người sẽ che chở tôi chứ?
** *
Tôi làm phiên dịch viên cho chị K tại đồn cảnh sát. Thật sự ngậm ngùi cho tình cảnh của chị. Giờ đây chị phải đối mặt với công lý cho tội ác của chị nhưng công lý của nhân loại xem chừng khó định nghĩa. Nó là những nan giải đề khi tội ác có muôn hình vạn trạng. Kiếp sống của muôn hình vạn trạng. Càng ngày tôi càng cảm thấy bối rối khi kết luận về một con người. Nghe chị kể về môi giới lao động, tôi lại buồn. Người Việt lừa người Việt. Để đi lao động hay du học đôi khi họ phải trả những cái giá cắt cổ. Đi lao động hay đi du học đối với người nghèo là giấc mơ đổi đời nhưng cũng là canh bạc. Có khi trắng tay mà về hay tiền mất tật mang. Đôi khi tôi ước giá như Việt Nam không phải trải qua những cuộc chiến tranh ác liệt với Pháp và Mỹ thì giờ nước tôi đã không quá nghèo, người dân không phải li tán khắp nơi để kiếm ăn như vậy. Ước là ước vậy thôi, tôi cũng biết cái thế giới này đâu cũng có bất công. Trời bắt đầu chuyển sang sắc thẫm. Tôi nhìn chị bé nhỏ, gầy gò ngồi co lại một góc. Hai quầng mắt trũng sâu. Làn da xanh xanh, tái tái như thiếu nắng. Hai gò má cao cộng với đôi mắt to sâu thẳm làm chị càng trông gầy hơn. Tưởng như bóng tối nặng nề như cái lồng đè lên dáng người chị, bọc lấy, nuốt chửng chị. Cuộc đời vẫn như vậy. Dẫu ở đâu cũng luôn bị bủa vây bởi nhọc nhằn. Tôi nghe tiếng thở dài thật khẽ từ chị: “Ừ thì đi về đâu cũng là thế nhưng phải sống thôi”. Tôi không biết nói sao với chị nữa. Bàn giao công việc, tôi trở về nhà.
Tôi biết ở quê tôi, còn nhiều mảnh đời từa tựa như chị. Tôi đi bộ lững thững về. Trời hôm nay mưa nhẹ nhẹ. Thoáng một bóng chim trắng muốt bay qua mái ngói ngôi nhà cũ và biến mất trong mù mưa.
Đêm. Tôi mê sảng. Một giấc mơ kì lạ. Tôi biến thành con bồ câu và bị nhốt vào trong một chiếc lồng. Tôi đói và khát. Tôi bay như điên và va đầu vào những chấn song. Máu tôi tứa ra. Xung quanh tôi là muôn vàn những cái lồng chim như vậy. Những con chim phát điên tự mổ vào da thịt mình. Thoáng chốc những bàn tay từ không trung thò vào tóm lấy chúng tôi. Bẻ cổ. Tôi giật mình tỉnh giấc. Mồ hôi đẫm áo. Đồng hồ chỉ 2 giờ sáng. Tôi không sao quên được đôi mắt đầy ám ảnh của chị K. Tôi hay chị cũng chỉ là những con bồ câu kia sống trên một cõi đời quá mênh mông và cũng chật hẹp về thân phận. Bỗng dưng tôi muốn trở về.
Tôi đáp chuyến bay VJ 940 về Việt Nam. Máy bay xuyên qua khoảng mây xám và tôi thấy ánh sáng rực rỡ của mặt trời. Xung quanh là mây trắng cùng tiếng động cơ vo ve. Tôi ghét thời gian bay. Đó là lúc tôi xa loài người nhất nhưng cũng cảm thấy trống trải nhất. Tôi cảm thấy sự vô nghĩa của đời người. Tôi thậm chí nhớ cả những nhọc nhằn của kiếp sống. Tôi nhìn với xuống. Sau những đám mây, Đài Loan nhỏ xinh. Tôi thấy chị K mỉm cười gày guộc.
Hình như một bóng chim chớp nắng bay qua hay là ảo ảnh của một linh hồn xa xứ.

Truyện ngắn. Nguyễn Nhật Huy