Cựu chiến binh

426

VNTN – Bên ngoài khung cửa sổ thấp có thể nhìn thấy ba cây hồ đào cao thấp không đều trong một đồng cỏ rực rỡ sắc xuân. Xa xa, tiếng chuông cũ kỹ, ảm đạm của nhà thờ làng thấp thoáng trên những tán thông. Một con ngựa trầm ngâm đứng dưới bóng râm cây hồ đào, uể oải vung đuôi. Ánh mặt trời ấm áp tạo thành một dải vàng trên sàn cửa hàng tạp hóa.
“Ông có nhìn thấy lòng trắng mắt của chúng không?”, người đàn ông ngồi trên thùng xà phòng hỏi.
“Làm gì có”, Henry già nua đáp giọng trầm ấm. “Chỉ là thấy nhiều hình dạng bay qua, và tôi đi tới nơi mà chúng xuất hiện đông nhất. Bùm!”
“Ông Fleming”, người bán tạp hóa nói – giọng nói kính cẩn của anh ta thể hiện phần nào về vị thế xã hội của ông già – “Ông Fleming, ông chưa bao giờ sợ hãi trước những trận chiến phải không?”.

Người cựu binh nhìn xuống cười xòa. Quan sát cử chỉ của ông, cả nhóm người xôn xao. “Chà. Tôi nghĩ là tôi,” ông trả lời “đôi khi cũng khá rùng mình. Tại sao ư, trong trận chiến đầu tiên tôi tưởng bầu trời sụp đổ. Tôi nghĩ rằng thế giới sắp kết thúc. Cứ cho là tôi sợ đi.”.
Mọi người đều cười. Có lẽ điều này có vẻ lạ lùng và thú vị với họ khi lão già thú nhận như vậy, và trong cách cười của họ có lẽ chứa nhiều sự ngưỡng mộ hơn là nếu lão Fleming tuyên bố rằng ông ta luôn là một chúa tể. Hơn nữa họ biết rằng lão là một trung sỹ có kỷ luật, vì thế quan điểm của họ về chủ nghĩa anh hùng của lão là chắc như đinh đóng cột. Chẳng ai biết rõ một trung sỹ được xếp hạng như thế nào, nhưng nó tạm được hiểu là họ có được những ngôi sao của thiếu tướng. Bởi vậy, khi ông già Henry thừa nhận rằng ông đã từng sợ hãi, đã có người cười.
“Vấn đề là,” ông già nói, “tôi thấy tất cả bọn chúng đều bắn vào mình. Đúng vậy, tôi nghĩ tất cả lính trong quân đội khác đều nhắm vào mình, mình tôi thôi. Và các anh biết đấy, đó quả thật vô lý. Tôi muốn giải thích cho chúng rằng tôi là một đồng chí tốt, vì tôi nghĩ chúng có thể từ bỏ việc tấn công tôi. Nhưng tôi đã không thể giải thích, và chúng cứ tiếp tục vô lý – Blim!- Blam! Bùm! Thế là tôi chạy!”.
Hai nếp nhăn nhỏ hình tam giác xuất hiện ở khóe mắt. Rõ ràng ông đang nhấn mạnh tính hài hước trong câu chuyện này. Tuy vậy, ở dưới chân ông, Jim bé nhỏ, cháu nội của ông tỏ ra hoảng hốt. Hai bàn tay nó nắm chặt lại, và đôi mắt mở to kinh ngạc trước câu chuyện khủng khiếp mà người ông tuyệt nhất của nó đang kể.
“Đó là ở Chancellorsville. Tất nhiên sau đó tôi đã quen với nó. Đó là việc của trai tráng mà. Thậm chí, có rất nhiều gã trai cảm thấy bình thường ngay từ đầu. Tôi đã từng phải làm nhiệm vụ ngay sau khi “nhập bọn”, như người ta nói bây giờ; nhưng lúc đầu tôi khá bối rối. Giờ thì đã có Jim Conklin trẻ trung, con trai của lão Si Conklin – từng làm xưởng thuộc da, chẳng ai trong số các anh nhớ về ông ta – ồ, ông ta đã thâm nhập ngay từ đầu như thể sinh ra để làm điều đó. Nhưng với tôi thì khác. Tôi phải làm quen với nó.”
Khi Jim bé bỏng đi dạo cùng ông nội, nó có thói quen nhảy trên vỉa hè bằng đá, trước ba cửa hàng và khách sạn của thị trấn, và cược rằng nó có thể tránh được các khe nứt. Nhưng ngày hôm nay nó bước đi chậm rãi, bàn tay nắm chặt các ngón tay của ông nội. Thi thoảng nó lơ đãng đá vào những cây bồ công anh cong trên lối đi. Bất cứ ai cũng có thể nhận ra nó đang bối rối.
“Con ngựa của Sickles đang ở trên bãi cỏ kìa, Jimmie à.”, lão già nói. “Con có ước được sở hữu một con như thế không?”.
“Ừm”, cậu bé nói với vẻ thiếu hứng thú. Nó tiếp tục suy tư. Rồi cuối cùng nó đánh bạo hỏi: “Ông ơi, sự thật có đúng như những gì ông kể với mấy người kia không?”.
“Gì cơ?” ông nội hỏi. “Ta đã nói gì với họ nhỉ?”
“Ồ, về việc ông đã bỏ chạy ấy.”
“Sao chứ, đúng rồi, đó là sự thật, Jimmie à. Đó là trận chiến đầu tiên, và nó để lại những dư âm kinh khủng, cháu biết đấy.”
Jimmie dường như thấy choáng váng bởi thần tượng, theo ý muốn của riêng nó, nên bước đi lảo đảo. Kiểu lý tưởng trẻ con vững chắc của nó bị tổn thương.
Lúc này ông nội cất tiếng: “Con ngựa của Sickles đang đi uống nước. Con có muốn một con ngựa như của Sickles không, Jimmie?”.
Cậu bé chỉ trả lời: “Nó không đẹp như những con của chúng ta.” Rồi nó chìm trong im lặng ủ rũ.
***
Trong số những người làm thuê là một người đàn ông Thụy Điển, cố gắng lên tỉnh vì vài mục đích cá nhân. Ông già cho mượn một con ngựa và chiếc xe độc mã nhếch nhác. Dường như một trong những mục đích của gã Thụy Điển là được uống bí tỉ.
Sau khi dập tắt một vài cuộc cãi vã sôi nổi của những người nông dân và trẻ con trong khu nhà, ông già đã có một giấc ngủ bình yên cho tới khi bị đánh thức bởi tiếng kêu ở cửa bếp. Ông túm lấy quần dài, và họ vẫy về phía sau khi ông chạy về phía trước. Ông có thể nghe thấy giọng gã Thụy Điển, la hét và khóc lóc. Ông nhấn nút bằng gỗ, và, khi cánh cửa bật mở, người Thụy Điển, như một kẻ điên, vấp ngã trong đó, khóc lóc và rít lên: “Chuồng ngựa cháy rồi! Cháy! Cháy! Chuồng ngựa cháy rồi! Cháy! Cháy!”.
Khuôn mặt ông già biến sắc nhanh chóng một cách không thể tả. Không phải là khuôn mặt ông nữa, nó đã trở thành mặt nạ, xám ngoét với nỗi kinh hoàng ở miệng và mắt. Ông khàn giọng hét lên dưới chân cầu thang ọp ẹp, và ngay lập tức, những người đàn ông ùa đến như tuyết lở. Chẳng ai để ý lúc đó bà lão với bộ quần áo ngủ đứng ở cửa phòng, la lên: “Chuyện gì thế? Chuyện gì thế? Chuyện gì thế?”.
Khi họ lao về phía chuồng ngựa, nó hiện lên trước mắt họ với một vẻ như thường lệ, uy nghi, khá bí hiểm trong đêm tối. Chiếc đèn xách của gã Thụy Điển bị đổ ụp tại một điểm trước sân cửa chuồng. Nó chứa trong mình cơn hỏa hoạn khủng khiếp, và thậm chí trong lúc kích động, một số người chạy cảm nhận một cơn chấn động yếu ớt trong tâm trí họ khi thấy chiếc đèn xách bị đổ này. Trong những trường hợp thông thường, nó là một tai họa.
Nhưng những con gia súc trong chuồng hỗn loạn giẫm đạp lên nhau, xôn xao như một bầy ong vỡ tổ. Ông lão đẩy mạnh cánh cửa lớn, và một ngọn lửa vàng chồm ra khỏi một góc và lan nhanh, điên cuồng trùm lên bức tường màu xám cũ. Quả là thú vị, khủng khiếp, ngọn lửa độc nhất này, tựa những ngọn cờ hoang dại của kẻ thù chết chóc và chiến thắng.
Đám đông hỗn loạn từ gác xép chạy đến mang theo tất cả thùng chứa của trang trại. Họ quăng thùng lên trên giếng. Đó là một cái máy đã cũ và ì ạch, do lâu ngày không động đến. Nó đã quen cái kiểu ra nước nhỏ giọt. Những gã đàn ông xông đến, nguyền rủa nó; nhưng nó cũng tiếp tục làm đầy các thùng khi cái trục quay kêu lên cọt kẹt sau nhiều lần biểu tình của những gã đàn ông điên cuồng.
Cầm con dao trong tay lão Fleming tự chui vào chuồng ngựa, nơi làn khói ngột ngạt xoáy theo luồng không khí, và có thể nghe thấy tiếng rào rạo kinh khủng của những ngọn lửa, đầy những âm thanh căm hờn và chết chóc, một khúc ca trọn vẹn của sự hung bạo.
Lão quăng tấm chăn lên đầu một con ngựa già, cắt dây buộc sát máng cỏ, dắt con ngựa ra cửa và đá nó vào chỗ an toàn. Lão quay lại với một tấm chăn, và giải cứu một trong số những con ngựa khác. Lão lôi được năm con ngựa đi, và tự mình chạy ra ngoài, với áo quần bốc cháy. Lão không có râu, và gần như hói đầu. Họ đổ năm thùng nước lên người lão. Con trai cả của lão chưa kịp đổ thùng nước thứ sáu thì ông lão đã quay đi và chạy xuống tầng hầm của chuồng, nơi buộc những con bò. Một số người thấy lão chạy thậm thọt, như kiểu một số con ngựa điên đã thúc mạnh vào mạng sườn lão.
Những con bò, với cái đầu bị trói trong những cột xà, đã tự giằng ra, siết cổ, tự làm hại chính chúng – liều mạng làm bất cứ thứ gì mà bản năng của cơn sợ hãi kinh hoàng có thể gợi ý cho chúng.
Rồi, cũng tại cái giếng này, những gã đàn ông cũng làm tương tự khi cứu một người. Những bàn tay của họ như phát điên. Họ trở nên mất kiểm soát để lao vào những tình huống nguy hiểm.
Ông lão thả con bò gần cửa ra vào, và nó quá sợ hãi đã đâm vào người Thụy Điển. Người Thụy Điển chạy tới chạy lui lắp bắp. Anh ta với lấy một thùng sữa rỗng, bám vào bằng cơn hăng hái vô thức, dữ dội. Anh ta hét lên như một người đi lạc khi ở dưới móng guốc của những con bò, và thùng sữa lăn lóc trên sàn, tạo thành một ánh sáng bàng bạc trong bóng tối.
Lão Fleming lấy cái nĩa, đâm vào con bò và kéo người Thụy Điển bị liệt ra ngoài. Khi họ giải cứu tất cả những con bò, có một con mà nó đã tự siết cổ chặt đến nỗi không nhích được một inch, họ quay trở lại trước chuồng, đứng buồn bã, thở dài bởi những nỗ lực cuối cùng.
Nhiều người chạy đến. Một số người thậm chí đi đến nhà thờ, và từ xa, tiếng chuông báo động đã vang lên. Một ngọn lửa đỏ thẫm kéo dài trên bầu trời, khiến những người ở xa có thể đoán được đám cháy ở đâu.
Những ngọn lửa dài kêu lên những âm thanh lộp độp đều đều nghe não nề. Cơn gió xoáy những đám khói và bụi bay vào mặt những người đến xem. Hình dạng chuồng ngựa cũ được phác thảo bằng màu đen giữa những khối lửa màu cam này.
Và người Thụy Điển quay lại, khóc lóc như một thứ vũ khí của tội đồ: “Ôi những con ngựa! Những con ngựa! Ông đã bỏ quên những con ngựa rồi!”
Lão Fleming loạng choạng. Đó là sự thật: họ đã bỏ quên hai con ngựa ở ngăn chuồng phía sau. “Này các cậu”, lão nói, “tôi phải cố đưa chúng ra ngoài.” Rồi họ la hét về phía lão, lo sợ thay cho lão, rùng mình vì cảnh tượng trước mặt. Họ gào lên với nhau: “Tại sao chứ, chắc chắn là chết!”; “Ông ấy sẽ không thoát ra được đâu!”; “Gì vậy, chỉ có tự sát mới đi vào đó!”. Lão Fleming nhìn vào những cánh cửa mở như mất hồn. “Những con vật bé nhỏ đáng thương!” lão nói. Lão lao vào chuồng.
Khi mái nhà rơi xuống, một luồng khói lớn bay lên bầu trời, tựa linh hồn vĩ đại của người đàn ông già đã được giải phóng khỏi cơ thể – chiếc bình nhỏ bé – và giờ đây nó phồng to như thần đèn trong truyện cổ tích. Khói bốc lên từ ngọn lửa, và có lẽ bóng đêm khó tả của vũ trụ không có bất cứ quyền lực nào có thể làm mờ nhạt màu sắc của linh hồn này.

Truyện ngắn. Stephen Crane (Mỹ)