Nhìn tôi ngay mặt

386

VNTN – Khay thức ăn không chỉ rơi xuống nền nhà. Nó kêu loảng xoảng và làm văng bữa ăn trưa của ông ta tứ tung. Tự phục vụ hay quá, tôi nghĩ. Ông lại đang nhìn tôi nữa rồi.
Ông đứng bất động nhìn xuống chỗ thức ăn vương vãi. Bất chợt tôi đứng dậy đi về phía ông. Tôi đã không định, không có ý muốn giúp ông. Tôi gọi người đàn bà đứng phía sau quầy. Bà ta mím môi, và đem một cái khăn vải đến dọn dẹp chỗ thức ăn tung tóe. Tôi nhặt các bát đĩa, đặt chúng lên khay. Quần ông có một chỗ ướt sũng nước và qua đó người ta có thể thấy đầu gối ông xương xẩu như thế nào. Các phần cơ thể khác của ông cũng như vậy. Toàn cơ thể ông xương xẩu làm cho cái áo vét của ông lỏng lẻo và cái quần dài thì lụng thụng. Đôi vai lom khom và hai cánh tay dài thậm thượt. Ông cười với tôi. Một nụ cười thật tuyệt vời làm tươi nét mặt già nua của ông và làm tôi ngạc nhiên.
“Cám ơn.”
Tôi ấn cái khay trả cho ông và trở lại bàn của tôi.
Tôi làm việc ở một công ty xuất bản lớn và ăn trưa tại nhà ăn của công ty. Tôi đã để ý đến ông vì ông cứ chằm chằm nhìn tôi. Ông có vẻ khác lạ, khó hiểu. Tóc ông cắt không khéo, quần áo ông mặc thì lỗi thời và chẳng có gì hấp dẫn; quần nhung kẻ quá ngắn, sờn chỗ đầu gối và áo thun bạc màu, có chỗ bị xơ. Ông thường ngồi một mình và chăm chú ăn. Hoặc là ông đọc và ghi chú gì đó.

 

Vài hôm sau vụ làm rớt khay thức ăn, ông dừng lại bên bàn tôi đang ngồi cùng anh bạn phụ trách sửa mo rát bản in thử, và hỏi ông có thể ngồi chung không. Tôi nói các ghế đã có người và tiếp tục ăn. Ông xin lỗi và mang khay thức ăn của ông đi nơi khác.
“Sao lại vậy, Leanna?”, Mark hỏi.
“Chẳng sao cả. Chỉ là em thích chọn người cùng ngồi trong giờ ăn của em.”
“Dù sao nói vậy cũng hơi ác với ông già đó.”
Tôi nhún vai.
Chính Mark là người kể thêm cho tôi biết về ông ta. Anh ta đã đi đâu đó để xin một điếu thuốc lá. Lúc anh trở lại bàn, tôi đang chúi đầu xem báo thời sự.
“Một người thú vị đấy. Phụ tá biên tập. Đã đi khắp nơi trên thế giới”, Mark nói.
Tôi tỏ ra quan tâm đến tin tức hơn nên Mark im lặng và hút hết điếu thuốc.
“Ông ấy hỏi tên cô”, anh ta nói.
“Vậy hả?”
“Ừ.”
“Rồi anh nói gì?”
“Tên Leanna, dĩ nhiên.”
Tôi gấp tờ báo lại. “Tôi có cả đống việc chiều nay.”
“Ông ấy nói cô trông quen quen”, Mark nói. “Giống một người ông ấy đã biết.”
“Một người ông ấy đã biết?”
“Ừ. Có thể đó là một chiến lược. Có thể ông ấy thích cô đấy.”
“Thích tôi? Nhưng ông ấy già mà.”
“Chỉ già đủ để làm cha cô.”
Tôi mang khay thức ăn của tôi rời khỏi bàn. Tôi đã không làm nhiều việc chiều hôm đó. Tôi cứ ước gì Mark đã không nói những gì anh đã nói. Già đủ để làm cha cô.
Tuần tiếp theo tôi mang theo một quyển sách để đọc trong giờ ăn trưa. Khi tôi vào thang máy ở tầng làm việc của mình, ông ấy đã có trong thang máy. Ông chào tôi vì vậy tôi phải chào lại nhưng tôi không cười. Chỉ có hai chúng tôi trong thang máy vì vậy tôi hơi lo lo. Tôi tự hỏi có nên ra ngoài ở tầng kế tiếp và đi cầu thang bộ xuống nhà ăn hay không. Đừng sợ, tôi thầm nhủ. Việc ông ấy nhìn mình chằm chặp không có nghĩa là ông ấy sẽ làm chuyện gì khác.
“À, một trong hai chúng ta có nên ấn nút cho thang chạy hay là ta sẽ đứng đây cả ngày?”
Tôi bận tâm suy nghĩ những gì ông ta sẽ làm và chờ ông làm chuyện gì đó, đến mức tôi quên bẵng mình cần phải làm gì. Tôi cảm thấy mình như một con ngu và ý nghĩ này làm tôi nhoẻn cười dù tôi không muốn. Ông cười đáp lại, đôi mắt xanh của ông hằn nếp nhăn về phía chỗ tóc bạc nơi tai và làm ông có vẻ… hay hay. Rồi có một tiếng phịch vang lên. Là do quyển sách của tôi rơi xuống sàn thang máy. Tôi cúi xuống và ông cũng cúi xuống, và chúng tôi cụng đầu. Đúng lúc đó, thang máy giật nhẹ để dừng và cửa tự động mở rộng. Tôi khá lúng túng, tôi bước ra, đi thẳng đến hàng người đang xếp hàng nơi quầy. Tôi gọi món mà không cần nhìn thực đơn và mang khay thức ăn của tôi đến một bàn chỉ còn một ghế trống. Tôi thở phào nhẹ nhõm và bắt đầu ăn. Nhưng món xà lách tôi nuốt không trôi vì thấy mấy người ở bàn đã ăn xong và sắp đi. Tôi nhìn về phía quầy. Ông ta đang trả tiền và trong vòng một giây, mắt ông sẽ đảo quanh phòng tìm tôi. Tôi cúi đầu xuống. Chờ. Ông sẽ ngồi xuống bàn tôi với khay thức ăn của ông bất kỳ lúc nào.
Truyện ngắn Úc, Tân Tây Lan, Tân Ghi nê, và các đảo lân cận Nam Thái Bình Dương. Cuốn sách của tôi xuất hiện trước mắt tôi. Những ngón tay của ông là những ngón tay dài nhất tôi từng thấy và móng tay của ông được làm móng. Tôi đã không nghĩ ông bận tâm.
“Cô để quên nó trong thang máy”, ông nói. “Tôi ngồi đây được chứ?”
Giọng ông dịu dàng. Vỗ về. Tôi nói gì đây? Các bàn khác đầy người cả nên tôi gật đầu. Ông nói chúc ngon miệng và bắt đầu ăn. Tôi vẫn luôn nghĩ là ông chăm chú ăn. Nhưng khi tôi nhìn, tôi thấy ông chọn những miếng nhỏ, ghim chúng và cẩn thận đưa lên miệng.
“Cô đã ở đó hả?”
“Ở đâu?” tôi bối rối. Từ việc làm rớt cuốn sách, cụng đầu và những chuyện khác.
“Ở Úc, Tân Tây Lan.”
Tôi nhìn ông và lại nghĩ đến những gì Mark đã nói là tôi làm ông nhớ đến một người nào đó. Một người Úc? Có thể là một bạn gái cũ hay là vợ ông?
“Đó không phải là một câu hỏi khác thường”, ông nói. “Cô đã đủ lớn để du lịch đến đó. Và nhà văn Katherine Mansfield, Janet Frame, chắc là có mặt trong cuốn sách.” Nụ cười của ông tươi tắn.
“Không, tôi không có đến đó, còn họ thì có góp mặt trong tập truyện.”
Đó là cách sự việc bắt đầu. Ông hỏi tôi một câu hỏi, gật đầu khi tôi trả lời và rồi hỏi câu hỏi khác. Tôi phát khẩu, nói về việc đọc sách báo và tất cả những việc tôi thích.
Nhiều ngày sau đó Malcolm đi tới bàn chúng tôi với khay thức ăn của ông và tôi tự động nói còn một ghế trống. Mark nhìn tôi và tôi cảm thấy máu dồn lên gò má.
Sau đó, Malcolm thường ngồi chung với chúng tôi, ông và tôi nói về nhiều chuyện. Chúng tôi cũng kể một ít về chính mình. Tôi kể cho ông biết mẹ tôi đã một mình nuôi tôi như thế nào từ lúc bắt đầu thời kỳ Hippie. Ông nói ông đã lập gia đình trong thời kỳ đó nhưng ly dị vài năm sau. Mark hỏi tôi làm sao mà tôi và Malcolm lại có nhiều chuyện để nói như thế được.
“Nói chuyện với ông ấy thì dễ dàng thôi. Và ông ấy đọc nhiều.”
“Hai người có khá nhiều chuyện để nói, tôi chẳng có dịp nào để mở miệng suốt giờ ăn trưa.”
“Có đấy. Anh mở miệng để cho thức ăn vào.”
Một hôm vào giờ ăn trưa Malcolm hỏi tôi có thích dự một buổi đọc sách với ông không.
“Hum… Tôi không biết nữa.”
“Sách của tác giả Amelia Turner. Vào chung khảo giải thưởng Booker Prize hồi năm ngoái.”
Tôi rất muốn đi. Mặc dù tôi không còn nghĩ Malcolm khá lạ kỳ, nhưng tôi thật không chắc chắn tôi có muốn đi sánh đôi cùng ông hay không.
“Sau đó, tôi sẽ nấu cho chúng ta món cà ri. Cô có thích cà ri không?”
“Tôi thích.”
“Tôi cũng vậy. Vậy là đồng ý?” ông hỏi và nở nụ cười nhẹ nhàng của ông.
Tôi không ngạc nhiên là tôi đã gật đầu.
Sau buổi đọc sách và bữa ăn chiều với món cà ri, tôi vào phòng khách của Malcolm, ở đó có nhiều sách hơn bất kỳ giá sách của người nào khác tôi từng biết. Tôi bắt đầu đọc các tựa sách.
“Tự chọn đi,” Malcolm nói.
“Cám ơn. Nhưng nếu tôi đọc một cuốn sách, tôi phải thêm nó vào bộ sưu tập của tôi.”
“Lạ thật, tôi cũng vậy.”
“Tôi ghét không có sách. Chúng là… những người bạn.”
“Nghe như cô có vẻ cô độc nhỉ,” Malcolm nói.
Tôi quay lại rút ra một cuốn sách.
“Phải không?”
“Phải không về chuyện gì?”
“Cô độc phải không?”
Tôi nhún vai. “Không thực sự như thế.”
“Không thực sự vậy thì sao?”
Giọng tôi hờ hững khi tôi trả lời câu hỏi của ông. “Tôi kén bạn. Không có nhiều bạn lắm.”
“Tôi sẵn lòng nghe”, Malcolm nói và ngồi xuống, tay chỉ cái ghế bành đối diện ông.
“Thời thơ ấu của tôi thì… mẹ tôi thích đi đây đi đó. Bà không bận tâm phải gắn bó với nơi nào. Tôi thì ghét như vậy! Sách là những người bạn trung thành, nên tôi vùi đầu vào sách.”
“Trời, nói nghe quen quen.”
Tôi ngồi vào ghế bành.
“Tôi có cha mẹ rất chi là lý thuyết suông”, Malcolm nói. “Sau này nghĩ lại, đó có thể là một sai lầm. Họ yêu thương tôi theo cách suy nghĩ mơ hồ của họ và để mặc tôi tự trưởng thành. Vì thế tôi tìm đến sách.”
“Thế thì cũng là cô độc,” tôi nói.
Khi tôi ra về, tôi lấy theo vài cuốn sách của Malcolm.
Tình bạn của tôi và Malcolm phát triển nhưng sự tò mò của tôi vẫn còn nguyên. Tôi đã làm ông nhớ đến ai? Nhớ đến mẹ tôi sao? Nếu vậy, liệu ông có phải là cha tôi? Mặc dù mẹ tôi không hề quan tâm đến sách, nhưng tôi và mẹ giống nhau không thể phủ nhận được, ngoại trừ chiều cao. Bà không kể nhiều cho tôi biết về người là cha tôi. Thông minh, bà chỉ thường nói thế. Dù vậy có một lần, khi tôi mắc bệnh thủy đậu, nóng và ngứa, bà đã động lòng trả lời.
“Ông ấy như thế nào?”
“Một người gầy nhất.”
“Mẹ đã gặp bố ở đâu?”
“Trong một công viên. Mẹ đang mong có làn da rám nắng thì có những tờ báo bay tấp vào mặt mẹ, rồi thêm những tờ báo bay vào người mẹ tới tấp. Mẹ hơi ngán ngẩm thì một người đàn ông chạy lại.” Anh ta chụp lấy chụp để nhưng không chụp được hết những trang báo. Vậy là anh ta dừng, vẻ tuyệt vọng hiện trên nét mặt. Trông buồn cười lắm, và mẹ cười.”
“Rồi sao nữa?”
“Mẹ giúp anh ta. Mẹ và anh ấy rượt theo mấy trang báo đó. Khi bọn mẹ ngồi lấy lại hơi thở, anh ấy bảo mẹ, anh ấy là sinh viên. Anh ấy khá thông minh. Mẹ không nhớ anh ấy theo học ngành gì. Một ngành học nào đó mà mẹ chưa từng nghe nói đến.”
“Sao mẹ không lấy ông ấy?”
“Lấy ông ấy? Chúa ơi, Leanna, mẹ đâu sẵn sàng để lấy chồng và ông ấy không phải là loại người mẹ muốn lấy để chung sống lâu dài.”
“Ông ấy trông như thế nào hả Mẹ?”
“Chúa ơi, thôi hỏi đi nhóc. Ngủ đi.”
Tuy nhiên bà nhìn thấy sự thất vọng của tôi, và nói bà sẽ viết ra tất cả sự thật cho tôi. Bà sẽ bỏ những trang viết đó vào một bì thư sẽ được mở ra khi bà qua đời. Tôi sung sướng với lời nói đó. Trong một chuyến đi trên xa lộ trơn trượt vì trời mưa của bà đến Pháp để nghỉ cuối tuần, bà bị tai nạn giao thông và chết tại chỗ. Lúc đó tôi hai mươi ba tuổi và sống tự lập nhưng khi tôi lục lạo các thứ trong căn hộ của bà, tôi lại cảm thấy mình như một đứa bé. Tôi tìm bì thư bà đã nói nhưng không thấy gì. Trong một thời gian dài sau đó, cái chết của mẹ tôi và việc không biết cha tôi là ai, làm tôi cảm thấy như thể tôi đang trôi dạt trên môt đại dương không thấy bến bờ.
Vào một buổi ăn trưa tôi quyết định hãy can đảm lên và hỏi Malcolm tôi làm ông nhớ đến ai.
“Tôi gặp nàng khi tôi là một sinh viên,” ông nói.
“Bà ấy học chung trường với ông sao?”
“Ôi, lạy Chúa, không phải đâu. Sự khác biệt là điều thu hút tôi đến với nàng. Nàng thì… khá khác.”
“Còn ông thì giống như thế nào?” tôi hỏi.
“Như thế nào à? Khá giống như bây giờ. Chúi đầu vào sách, một chút cô độc. Không hấp dẫn lắm. Không phải là loại người sống động như nàng.”
“Kể tiếp đi,” tôi nói.
“Nàng mang thai. Tôi thật sự sung sướng cho tới khi nàng nói nàng không cần sự giúp đỡ của tôi. Mặc dù vậy, tôi nghĩ nàng sẽ đổi ý khi bào thai phát triển nhưng khi tôi cố gắng để gặp nàng, nàng bảo tôi cứ để mặc nàng. Tôi rất tổn thương nhưng chấp nhận sự từ chối của nàng không muốn dính líu tới tôi. Vài tháng sau, tôi nhận một việc làm ở New York. Tiền lương kém cỏi nhưng tôi nghĩ đó là giải pháp tốt nhất.”
“Rồi có tốt không?” tôi hỏi.
“Không. Khi tôi quay lại, hai mẹ con đã bỏ đi. Không để lại địa chỉ để liên lạc.”
“Vậy là ông không biết được đứa con là trai hay…?”
“Một cô bé?” Malcolm hỏi.
Tôi gật đầu.
“Là một cậu con trai,” ông nói. “Tôi ước chừng ngày sinh và đã đến phòng Hộ tịch để tìm ra.”
Tôi ngồi đó, cố tiếp nhận những gì Malcolm đã nói. Tôi cảm thấy như mình bị cán qua xẹp lép bởi một chiếc xe tải.
“Tôi đã có một đứa con hiện sống ở đâu đó mà tôi không biết gì về nó”, Malcolm tiếp tục. “Tôi thật ngu ngốc. Thà cứ bỏ mặc đi thay vì cứ chờ tham gia vào cuộc sống của con trai tôi.”
“Tôi nghĩ có thể con ông là một bé gái.”
“Cô nói sao?”
“Có thể con ông là một cô gái. Là tôi.”
“Cô nghĩ tôi là… cha cô?”
“Sách, cà ri, tôi thì cao ráo. Chúng ta… cùng thích nhiều chuyện như nhau.”
“Đúng là ta có nhiều điểm chung nhưng tôi không phải là cha cô đâu.” Ông nhìn tôi. “Tôi rất tiếc làm cô thất vọng, Leanna.”
Tôi cố mỉm cười.
“Chúng ta không là ruột thịt nhưng có thể có mối quan hệ khác.”
“Là gì?”
“Cô không nghĩ được là gì sao?”
“Uh uh.”
“Là bạn bè.”
“Bạn bè sao?”
“Bạn bè nhìn cô ngay mặt suốt nhiều tuần.” Malcolm dùng cụm từ đó làm tôi bật cười.
“Hãy cứ xem tôi là bạn cho vui”, ông nói.
“Được mà”, tôi nói. “Trước giờ tôi đã xem chúng ta là bạn rồi.”
Rồi tôi cười. Và nụ cười của tôi trở nên tươi và ấm áp khi ông cười đáp lại.

Truyện ngắn. Glynis Gertsch (Nam Phi)
Võ Hoàng Minh (dịch)