Lũ lụt trong thơ Việt

964

VNTN – Văn chương từ bao đời nay vẫn là tấm gương phản chiếu xã hội. Xã hội hiểu theo một nghĩa rộng, bao gồm cả những yếu tố thuộc về con người và những yếu tố thuộc về thiên nhiên. Bàn về thiên nhiên trong thơ, có một mảng mà văn chương nói chung, thi ca nói riêng không hề ngần ngại khi nhắc tới, đó là thiên tai. Nói về những tai họa do thiên nhiên mang đến, người Việt thường bị ám ảnh bởi hai yếu tố: thủy và hỏa, được hiện thực hóa qua câu thành ngữ “thủy hỏa đạo tặc”. Nước lớn tạo nên sức tàn phá khủng khiếp, không loại trừ bất cứ một quốc gia, dân tộc nào. Thậm chí, cả lịch sử loài người từng hứng chịu một trận Đại hồng thủy như huyền tích mà Kinh Thánh đã kể lại, sau này tiếp tục được khoa học hiện đại chứng minh là có thật. Bài viết này, vì thế, sẽ thử bàn về lũ lụt ở trong thơ người Việt, đưa ra một bức tranh toàn cảnh về tai họa do nước mang lại được miêu tả trong thi ca, theo một hành trình từ tục ngữ ca dao đến văn chương bác học.

1.Từ trong tục ngữ, ca dao, ông cha ta đã đúc kết những kinh nghiệm quan sát các hiện tượng hàng ngày để đưa ra những dự báo về lũ lụt, về mưa bão: Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão; Tháng bảy kiến đàn, đại hàn hồng thủy. Như vậy, tháng 7 âm lịch được xem là tháng có khả năng xảy ra mưa bão nhiều. Nhưng đối với xứ ta thì mưa bão có lẽ không chỉ đến vào tháng 7 mà còn có thể rải rác và kéo dài đến tận tháng 10. Một số câu ca khác đã chứng tỏ điều này: Ông tha mà bà chẳng tha/ Vẫn còn lũ lụt mùng Ba tháng Mười; Tháng Sáu nam dòn/ Tháng Bảy mưa bãi/ Tháng Tám mưa giông/ Tháng Chín mưa ròng/ Tháng Mười lụt lớn.

Thời trung đại, thế kỷ 15, tác giả Nguyễn Húc dưới triều vua Lê Thái Tổ (1429) đã ghi lại trận lũ hung hãn vào mùa thu ở phủ Triệu Phong: Gió thu nổi trận ào ào/ Phập phồng mái lá, rào rào mặt sông/ Trận mưa ập xuống hãi hùng/ Tràn khe ngập suối mịt mùng trời mây.

Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18 ít thấy lũ lụt được miêu tả trong thơ. Nhưng cho đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 thì lũ lụt tiếp tục trở lại với mật độ khá dày đặc. Thi hào Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ miêu tả lũ lụt trong thơ nhiều hơn cả ở giai đoạn này: Tỵ trước tỵ này chục lẻ ba/ Thuận dòng nước cũ lại bao la/ Bóng thuyền thấp thoáng dờn trên vách/ Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà/ Bắc bậc người còn chờ chúa đến/ Đóng bè ta phải rước vua ra/ Sửa sang việc nước cho yên ổn/ Trời đã sinh ra ắt có ta (Vịnh nước lụt). Hai năm Tỵ mà tác giả nhắc đến là năm Quý Tỵ (1893) và Ất Tỵ (1905), cách nhau 12-13 năm, vùng Nam Hà đều có lũ lụt lớn do vỡ đê sông Hồng, mùa màng mất mát, nhiều người chết đói. Tuy thế, trong bài thơ trên, giọng điệu tác giả vẫn còn khá bình tĩnh, tự tin, nghĩ rằng có thể vượt qua được cũng như khẳng định trách nhiệm và bổn phận của mình. Nhưng cho đến bài Nước lụt Hà Nam thì giọng điệu đã chuyển thành ai oán, buồn thương, xót xa cho cuộc sống của nhân dân: Quai Mễ Thanh Liêm đã lở rồi/ Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi/ Gạo dăm ba bát cơ còn kém/ Thuế một vài nguyên dáng vẫn đòi/ Tiếng sáo vo ve chiều nước vọng/ Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trôi/ Đi đâu cũng thấy người ta nói/ Mười chín năm nay lại cát bồi. Trong cơn hoạn nạn, nhà thơ viết những lời ân tình hỏi thăm bè bạn: Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu/ Lụt lội năm nay bác ở đâu/ Mấy ổ lợn con rày lớn bé/ Vài gian nếp cái ngập nông sâu (Nước lụt hỏi thăm bạn).

Một số nhà Nho khác trong giai đoạn này như Nguyễn Sĩ Giác, Lê Trung Đình, Ngô Đức Kế cũng có những miêu tả sống động về lũ lụt, thể hiện tấm lòng thương cảm với cuộc sống lầm than của muôn dân, mong sao vận hạn sẽ qua mau, mong sao những hoàn cảnh khó khăn sẽ được giúp đỡ: Đê vỡ nhà trôi nước ngập sâu/ Thôn quê khôn xiết nỗi cơ cầu/ Mùa không, đồng trắng pha màu nước/ Năm đói, người xanh rõ sắc rau/ Một mẫu vườn hoang cây đổ kín/ Bốn bề mưa lạnh dế kêu sầu/ Những thương khắp tỉnh trung châu lụt/ Ai biết Thần Châu ngập đã lâu! (Cảnh lũ lụt năm Ất Mão ở Bắc Hà – Nguyễn Sĩ Giác); Mưa từng chặng nước từng hồi/ Bốn mặt non sông nước phủ rồi/ Lũ kiến bất tài tha trứng chạy/ Đám rêu vô dụng kết bè trôi/ Lửng lơ rừng thẳm không chim đậu/ Ngất ngưởng lầu tây có chó ngồi/ Nỡ để dân đen vùi máu đỏ/ Nào ông Hạ Võ ở đâu ôi (Nước lụt – Lê Trung Đình); Này những ai, này những ai/ Ai có nghe rằng việc thủy tai/ Tỉnh Bắc, tỉnh Đông, cùng tỉnh Thái/ Ruộng ngập, nhà chìm, thây chết trôi (Ngô Đức Kế, 1924). Sau Ngô Đức Kế, Tản Đà thi sĩ cũng buông những lời mong mỏi, van cầu: Hỡi ai ai! Là những người/ Ông ở trong nước, bà ở ngoài nước/ Có nhiều cho nhiều, ít cho ít/ Cứu kẻ bần dân lúc thủy tai.

Trên đây là quang cảnh và tình hình lũ lụt ở Bắc Kỳ. Còn miền Nam cũng hứng chịu những trận lũ lụt lớn, trải từ cuối thế kỷ 19 sang đến nửa đầu thế  kỷ 20. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu thốt lên ai oán: Liu riu rừng quạnh nghe chim hót/ Lổm xổm giường cao thấy chó ngồi/ Nỡ để dân đen chìm đắm mãi/ Này ông Hạ Vũ ở đâu rồi? (Nước lụt). Đến nửa đầu thế kỷ 20, nhạc sĩ Hoàng Việt một lần nữa tái hiện quang cảnh lũ lụt qua ca từ của nhạc phẩm nổi tiếng Lên ngàn, vẽ lên trước mắt chúng ta nỗi bi thương của lũ lụt vùng Nam bộ: Nước ngập đồng xanh lúa chết. Gió mưa sập đổ mái nhà. Bao nhiêu gia đình tan hoang. Đau thương lệ rơi chứa chan. Và gần đây hơn nữa, một thi sĩ đương đại là Trịnh Bửu Hoài tiếp tục viết những câu thơ xa xót u hoài hoang hoải mênh mang trên những ngày bão lũ: Thương trăng vỡ trên đồng nước nổi/ Gió thu ào khóc giữa mưa giăng/… Ai biến đồng xanh thành biển cả/ Cánh dế ngày xưa bỗng lạc đàn/… Bến sông giờ đã chìm trong lũ/ Em giạt về đâu trong mưa giông (Trên đồng tứ giác).

Ở miền Trung, Phan Bội Châu đầu thế kỷ 20 có bài Văn tế đồng bào Nghệ Tĩnh chết vì lũ lụt, giọng văn đau đớn, bi thiết: Sông vàng máu đỏ, chết đã quá oan/ Nước mặn đồng chua, sống càng thêm cực/ Chật làng xóm chứa đầy là oan quỷ, tha hồ khóc khóc rên rên/ Thây trâu bò cũng sạch với Diêm Vương, vắng ngắt rì rì tắc tắc/ Thương những kẻ mất vợ mất chồng, mất anh em cha mẹ/ Bới đất tìm nhưng sợ ngục nhiều tầng/ Xót vì ai không cơm không cháo, không nhà cửa ruộng vườn/ Kêu trời hỏi biết chồng thang mấy bậc! 

2.Quay trở lại không gian miền Bắc, trong thời kỳ Thơ Mới lãng mạn (1932 – 1945), mưa lũ có in dấu ít nhiều trong thơ của thi sĩ chân quê Nguyễn Bính (1918 – 1966). Mở đầu bài thơ Định mệnh, ông viết: Mưa ba hôm ngập thị thành/ Khóc ba hôm cả lòng anh ngập rồi. Từ mưa lớn của thiên nhiên đã chuyển sang mưa lũ của tâm hồn, của lòng người. Cũng tương tự như cảm giác trên là tâm trạng thi sĩ trong một bài thơ khác, chữ lụt xuất hiện nhưng không diễn tả về nước mà là về sương và lá, quan trọng hơn là cảm giác lũ lụt trong một tâm hồn bơ vơ, cô đơn và hoang mang: Tôi tưởng rồi tôi quên được người/ Nhưng mà thảm lắm! Tú Uyên ơi/ Tôi vào sâu quá! Vào xa quá/ Đường lụt sương mờ lụt lá rơi…(Diệu vợi). Sau này, các nhạc sĩ Trần Thiện Thanh và Quốc Dũng cũng nói về những cơn mưa lũ trong tâm hồn qua những nhạc phẩm nổi tiếng: Khi người yêu tôi khóc trời cũng giăng sầu. Cho từng cơn mưa lũ xoáy trong tâm hồn (Khi người yêu tôi khóc), Từ em đi mãi đường mây xa tít mù. Lòng anh hiu hắt giăng đầy cơn mưa lũ (Hoang vắng).

 

Ảnh minh họa

Sau 1975, một thi sĩ lục bát đậm chất đồng quê khác là Đồng Đức Bốn cũng tả về lũ lụt trong thơ qua sự kiện vỡ đê. Khác với những người đi trước, Đồng Đức Bốn chuyển sự quan tâm từ cuộc sống hiện thực sang cuộc sống tâm linh, đau đáu về mộ phần của những người đã khuất trong cơn mưa bão, cụ thể là phần mộ của chính cha mình: Ối mẹ ơi vỡ đê rồi…/ Đồng ta trắng xóa cả trời nước trong/ Trâu bò thất thểu long đong/ Trên bè tre rối bòng bong xoong nồi/ Ối mẹ ơi vỡ đê rồi/ Mộ cha liệu có lên trời được không/ Sao chưa thấy chiếc thuyền rồng/ Chở con với mẹ qua giông bão này (Vỡ đê). Bài thơ in dấu sự kiện lũ lụt của đời sống hiện thực năm 1986, khi hàng loạt các tỉnh miền Bắc Việt Nam bị vỡ đê như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng…, nhiều tỉnh miền núi và trung du cũng thiệt hại nặng nề như Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lai Châu, Quảng Ninh, Phú Thọ… Cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng với hàng chục ngàn hecta lúa và hoa màu bị mất trắng. Lũ lụt đã làm 121 người chết, 491 ngôi nhà bị cuốn trôi, 12.571 ngôi nhà bị ngập. Trận lũ lịch sử này cũng đi vào trong một tiểu thuyết nổi tiếng của văn xuôi hiện đại Việt Nam là Thời xa vắng của Lê Lựu, tác phẩm gây tiếng vang lớn đương thời, được chuyển thể thành phim năm 2003 và đoạt giải Cánh diều Bạc năm 2004.

3.Tôi muốn dành một phần riêng để viết về sự chuyển di lũ lụt từ tác phẩm văn xuôi sang thơ trong một trường hợp rất đặc biệt của văn học Việt Nam. Câu chuyện truyền thuyết nổi tiếng Sơn Tinh Thủy Tinh vốn có tự lâu đời, phản ánh sự chống chọi đương đầu và chiến thắng trước thiên tai lũ lụt của người Việt, đã được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy nhiều năm qua và hiện thời là một tác phẩm nằm trong chương trình Ngữ văn 6, tập 1, qua phần văn bản của GS Huỳnh Lý. Phần tả về Thủy Tinh gây lũ lụt gói gọn trong khoảng năm câu: “Thần hô mưa gọi gió, làm thành dông bão rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn đánh Sơn Tinh. Nước ngập ruộng đồng, nước ngập nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước (…) Từ đó oán nặng thù sâu, hàng năm Thủy Tinh làm mưa gió, bão lụt, dâng nước đánh Sơn Tinh. Nhưng năm nào cũng vậy, Thần Nước đánh mệt mỏi chán chê không thắng nổi Thần Núi để cướp Mỵ Nương, đành rút quân về.”. Từ câu chuyện thần thoại này, đã có tới hai thi phẩm nổi tiếng cùng nhan đề được viết nên của hai thi sĩ tài danh trong lịch sử thi ca Việt Nam, cách nhau 41 năm. Đó là Sơn Tinh Thủy Tinh trong tập Ngày xưa (1935) của Nguyễn Nhược Pháp (1914 – 1938) và Sơn Tinh Thủy Tinh (1976) của Huy Cận (1919 – 2005).

Sơn Tinh Thủy Tinh của Nguyễn Nhược Pháp gồm 165 câu thất ngôn. Những cảnh tượng mưa lũ xuất hiện hai lần trong tác phẩm. Lần thứ nhất là khi Thủy Tinh làm phép thuật mang tính chất trình diễn, khoe tài trước mặt Hùng Vương và Mỵ Nương: Thủy Tinh khoe thần có phép lạ/ Dứt lời, tay hất chòm râu xanh/ Bắt quyết hò mây to nước cả/ Dặm chân rung khắp làng gần quanh/ Ào ào mưa đổ xuống như thác/ Cây xiêu, cầu gẫy nước hò reo/ Lăn, cuốn, gầm, lay, tung sóng bạc/ Bò, lợn và cột nhà trôi theo. Và lần thứ hai mới là cuộc chiến thực sự để đòi cướp lại Mỵ Nương: Sóng cả gầm reo lăn như chớp/ Thủy Tinh cưỡi lưng rồng hung hăng/ Cá voi quác mồm to muốn đớp/ Cá mập quẫy đuôi cuồng nhe răng/ Càng cua lởm chởm giơ như mác/ Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao/ (…) Thủy Tinh năm năm dâng nước bể/ Đục núi hò reo đòi Mỵ Nương/ Trần gian đâu có người dai thế/ Cũng bởi thần yêu nên khác thường.

Sơn Tinh Thủy Tinh của Huy Cận cũng là một bài thơ dài viết theo thể thất ngôn, gồm 151 câu. Khác với Nguyễn Nhược Pháp, Huy Cận miêu tả cuộc đối đầu giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh kỹ lưỡng hơn qua nhiều dòng thơ, mức độ trực tiếp, dữ dội và quyết liệt được nhấn mạnh nhiều hơn qua hai lần Thủy Tinh làm phép thuật: Thủy Tinh chậm chân gào uất hận/ Cưỡi sóng thần hô nước dâng cao/ Thúc thủy quái cá kình cá sấu/ Đuổi Sơn Tinh vừa vượt qua đèo/ Mỵ Nương ngoái trông làn sóng dữ/ Xót thương oán hận lệ thầm gieo…/ Thuỷ Tinh được thể vung gươm sáng/ Chỉ núi Tản Viên hò kéo mau/ Cả bọn thuồng luồng và rắn rết/ Phun độc vào trong nước đỏ ngàu/ Nước dềnh vênh bao vây núi Tản/ Lưng núi nay còn vỏ hến hàu/ (…) Thuỷ tinh nổi giận phùng to má/ Phun phun mưa gió bão nổi lên/ Lũ thuỷ quái trồi lên đục phá/ Rồng nghiến răng nước réo ngày đêm/ Nước ngập khắp ruộng đồng trắng xóa/ Mà Thuỷ Tinh chưa hả lòng ghen/ Những cột sóng dựng ngang đầu núi/ Nước dâng hoài mỗi lúc một cao… Tương ứng với hai đoạn thơ trên cũng là hai đoạn miêu tả tài phép của Sơn Tinh oai dũng hiên ngang, đánh bại Thủy Tinh cùng tất cả các loài yêu quái thủy tộc: Sơn Tinh giữa phong ba bão táp/ Vươn mình lên cao lớn dị thường/ Đầu gần chạm mái trời bóng rợp/ Lan dài xa trên mấy cánh đồng/ Đứng sừng sững trên đầu núi Tản/ Mắt thâu nhìn biển rộng mênh mông/ Sơn Tinh thúc tù và hối hả/ Khắp ngả rừng hổ trắng nai vàng/ Theo voi xám kéo rừng từng mảng/ Về hộ đê chặn đứng nước tràn/ Nghe tù và nhiều cây cổ thụ/ Tự nhổ lên đi tới đê ngăn/ Voi cùng dân nhổ cây bẩy đá/ Ném xuống sông cá sấu thuồng luồng/ Cùng bạch tuộc chết trôi như rạ/ Máu đỏ loang khắp cả một vùng/ Voi nghểnh vòi voi cười hể hả/ Thủy Tinh nghe tím ruột bầm gan/ (…) Sơn Tinh ghé vai không biết mỏi/ Nâng núi lên cao mấy ngọn sào/ Mị Nương ngồi núi như ngồi kiệu/ Nhìn Sơn Tinh yêu, phục xiết bao/ Hai chân trụ bám hai đầu núi/ Chàng nghiêng mình nhổ cụm núi lao/ Xuống sông Đà chặn dòng thác lũ/ Sông giật mình sủi bọt trắng phau/ Sông bị nghẽn đổi dòng chạy thoát/ Ngựa bất kham cương giật quay đầu/ Bao thuỷ quái rụng rời bỏ chạy/ Sơn Tinh tung lưới sắt ngang sông/ Mỗi loài một tiếng xin tha chết/ Túm lưới tròn chàng dắt bên hông/ Thủy Tinh chạy theo dòng nước rút/ Vung búa đồng Sơn Tinh phóng mau/ Vai trúng búa Thủy Tinh gầm rú/ Gặp sóng cồn vội nép mình theo/ Rồi lẩn trốn trùng trùng sóng biếc/ Mặt tái xanh xơ xác cánh bèo.

Cuộc chiến Sơn Tinh – Thủy Tinh kết thúc, trả lại vẻ đẹp bình yên muôn thuở cho Tản Viên, cho Phong Châu. Dĩ nhiên Thủy Tinh chưa quên thù cũ, hằng năm vẫn dâng nước, nhưng không bao giờ có thể dành phần thắng. Tư tưởng của nhân dân ta qua câu chuyện có thể thấy rõ ràng: một cuộc chiến đấu bất tận để chống lại thiên tai địch họa, cuộc sống của muôn dân có thể ít nhiều bị ảnh hưởng, bị tàn phá; song sức sống mãnh liệt, ngoan cường của người Việt luôn là điều có thật, sẽ vượt lên để chiến thắng những khắc nghiệt của thiên nhiên. Đó cũng là ý chí, là nghị lực và lòng lạc quan vô bờ mà cha ông ta đã gửi gắm qua thiên truyện này: Bão lụt dứt trời quang mây tạnh/ Núi Tản Viên như ngọc xây thành/ Sông lạch chảy như thêu chỉ gấm/ Trên cánh đồng lúa mượt màu xanh/ (…) Năm năm Thuỷ Tinh còn hung hãn/ Dâng nước hoài băng phá ruộng đồng/ Không được Mị Nương lòng oán hận/ Đảo điên xáo động những dòng sông/ Vua Hùng phong Sơn Tinh rể quý/ Núi Tản nghìn năm trấn Biển Đông.

4.Như vậy, có thể thấy, lũ lụt cũng là một đề tài được thi ca Việt từ trước đến nay hết sức quan tâm. Lũ lụt có mặt từ trong tục ngữ ca dao, thơ ca trung đại, Thơ Mới lãng mạn nửa đầu thế kỷ XX cũng như cả trong ca từ ca khúc và cả thơ ca hiện đại sau 1975. Các tác phẩm không chỉ phản ánh lũ lụt như một hiện tượng của thiên nhiên mà còn gửi gắm vào đó nhiều thông điệp như niềm tin chiến thắng thiên tai địch họa của con người, ca ngợi và khẳng định sức mạnh tinh thần lớn lao của con người. Đề tài về lũ lụt cũng mang đến cho chúng ta nhiều lát cắt của tâm trạng con người trong đời sống, giống như những va đập dữ dội và mãnh liệt của cảm xúc trong tình yêu đôi lứa, thế thái nhân sinh. Nhưng sau hết thảy, có thể thấy, tình yêu đời, tình yêu cuộc sống vẫn là điều lớn lao nhất mà bao thế hệ thi sĩ đã truyền tải trong những áng thi ca, dù mỗi tác phẩm có viết về lũ lụt hay bất cứ đề tài nào.

Đỗ Anh Vũ