Chuyện ít biết về hai liệt sỹ hy sinh tại Lưu Xá

403

VNTN – Đêm Noel 24/12/1972, 60 đội viên Đại đội 915, Đội 91 thanh niên xung phong Bắc Thái đã anh dũng hy sinh trong trận bom B52 của máy bay Mỹ khi đang làm nhiệm vụ giải tỏa hàng hóa tại khu vực ga Lưu Xá, Thái Nguyên. Ít người biết bên cạnh 60 đội viên đó còn có thêm 2 người của Công ty lương thực Bắc Thái, một người là cán bộ quản lý, một người là thủ kho, được điều động cùng các lực lượng thanh niên xung phong giải tỏa số hàng hóa còn tồn đọng. Tuy nhiên, sau những thay đổi về mô hình tổ chức và giữa bộn bề công việc phải giải quyết sau chiến tranh, hình ảnh của các anh còn ít được nhắc tới.

1. Chúng tôi tìm về nhà liệt sỹ Lê Quang Hòa tại xóm Tân Thịnh, xã Tân Phú, thị xã Phổ Yên giữa ngày mưa, con đường bê tông uốn lượn từ triền đê xuống các ngõ xóm mềm như dải lụa. Thật may mắn bà Ngô Thị Thanh vợ liệt sỹ và cô con dâu đang ở nhà. Sau khi thắp hương cho chồng, vừa tiếp chuyện chúng tôi, bà vừa lau nước mắt:
“Tôi và ông nhà cùng sinh năm 1938. Năm 14 tuổi cha mẹ đã sắp đặt cho chúng tôi nên vợ nên chồng. Gọi là vợ chồng nhưng chúng tôi còn bé, vẫn nghịch ngợm như trẻ con, chả biết gì.

 

Đoàn công tác của tỉnh thăm hỏi bà Ngô Thị Thanh, vợ liệt sỹ Lê Quang Hòa.

Nhà làm ruộng trong hợp tác xã ăn công điểm, tôi giúp những việc linh tinh như chăn trâu cắt cỏ, đẩy xe phân gio ra đồng. Ông nhà tôi vẫn đi học phổ thông. Học xong cấp II tại xã lại lên Thái Nguyên học cấp III. Đang học lớp 8, lúc đó khoảng 17 tuổi, chẳng hiểu lý do gì ông ấy nằng nặc xin đi thanh niên xung phong. Trước khi đi cũng về nhà xin phép bố mẹ và nói với tôi: “Anh quyết định rồi, anh sẽ đi.” Chiến tranh ác liệt, ra nơi hòn tên mũi đạn chả biết thế nào. Phận làm dâu tôi chỉ biết trông chờ ý kiến của bố mẹ chồng. Hiểu tính con đã nói là làm, ông bà cụ cũng không ngăn cản. Nghe nói đơn vị vào tận Quảng Bình, Vĩnh Linh, mấy năm liền cũng ít thư từ. Tôi chưa nhìn thấy bản đồ bao giờ để biết Quảng Bình, Vĩnh Linh ở đâu, nghe bảo đấy là nơi máy bay địch trút bom chặn đường tiếp viện của ta cho chiến trường… Nhiều đêm tôi thức trắng đợi tin chồng từ miền xa bằn bặt.
Hoàn thành nhiệm vụ trở về, ông ấy vào làm việc tại Công ty lương thực Bắc Thái. Năm 21 tuổi vợ chồng tôi mới sinh cháu đầu. Ngày ấy ai cũng nghèo như nhau, hầu hết nhà cửa đều mái rơm vách đất, vợ chồng tôi cũng vậy. Tuy ông ấy thoát ly ăn lương nhà nước nhưng bố mẹ già yếu, con cái trứng gà trứng vịt nên cũng chẳng khá giả gì, chỉ hơn xóm làng cái đèn “măng sông” ông ấy chắt bóp mua trên Thái. Thương vợ, chủ nhật nào ông ấy cũng đạp xe từ Thái Nguyên về đỡ đần tôi mọi việc, từ chăm con lợn con gà đến ruộng vườn, đồng áng, cứ luôn chân luôn tay chả từ công việc nào. Vợ chồng tôi sinh được 5 cháu, có một cháu trai…”
Bà cười hiền hậu kể về những ngày đầu về làm dâu:
“Ngày cưới, hai bên mổ lợn mời bà con xóm giềng. Tôi còn bé như cái kẹo, thấy các cụ bảo cưới thì cũng kệ các cụ ăn cưới, bởi còn mải nô đùa với lũ bạn. Lúc đang đánh chắt, bác tôi bảo nhà trai đang đến xin dâu, tôi thích lắm vì được mặc quần áo mới, đó là chiếc áo màu mỡ gà và chiếc quần xa tanh đen bác tôi mua tận trên chợ huyện. Mãi chập choạng tối, tôi mới có cơ hội nhìn rõ mặt chồng vì đón dâu ra ngõ, ông ấy gặp ai đó có xe đạp bèn mượn xe tập chiều muộn mới về.

 

Liệt sỹ Đỗ Xuân Sinh và vợ ông – bà Nguyễn Thị Nhiễu

Dạo ông ấy trọ học cấp III trên Thái, nghe tin chồng ốm, tôi cuốc bộ từ dưới này lên thăm ông ấy mắng, thương vợ thân gái ròng rã bốn năm chục cây số đường đất. Ông nhà tôi ít nói, khi đi thanh niên xung phong cũng không năng biên thư, nhưng luôn hết lòng vì vợ vì con. Những lá thư ông ấy gửi về, tôi nhờ bạn bè đọc hộ rồi cất kỹ, bởi nào có đủ chữ để biên thư trả lời.”.

Ngắm nhìn khoảnh vườn nhỏ với những luống rau xanh nõn, tôi ngập ngừng: “Chồng công tác xa, mình bác lo toan mọi việc đồng áng, gia đình, lo con cái ăn học. Sức vóc của bác làm được quả là đáng khâm phục!”.
Bà trầm tư: “Ngày đó, tôi là xã viên hợp tác xã, chồng xa nhà có vất vả đôi chút, nhưng mọi việc đều có các chị em giúp đỡ cưu mang. Vả lại đã ai biết sinh đẻ kế hoạch là gì đâu, con cái cứ phải có chị có em cho vui cửa vui nhà. Các cụ quan niệm trời sinh voi, trời sinh cỏ… Khi ông ấy hy sinh đêm 24/12 tại ga Lưu Xá, tôi mới sinh đứa con gái út được 2 tháng. Gia đình tôi nhận được tin báo từ một anh cùng làm việc trên đó. Tôi và bố mẹ chồng lên đến nơi thì ông ấy và anh chị em hy sinh đã được an táng tại nghĩa trang Dốc Lim…”
Câu chuyện từ ký ức của bà về chồng thi thoảng lại ngắt quãng bởi bà quá xúc động, nỗi đau đã hơn bốn mươi năm như chưa hề nguôi ngoai. Tôi không thể hình dung nổi bà đã tảo tần lam lũ đến mức nào để ở vậy một mình nuôi 5 người con ăn học và trưởng thành. Trong tâm trí của bà, hình ảnh người chồng dường như vẫn hiện hữu. Giờ đây khi đã già yếu, sống với vợ chồng người con trai, bà càng trân trọng hơn sự cống hiến hy sinh của chồng cho đất nước và nhắc nhở con cháu giữ gìn thanh danh gia đình.
Nghe tôi hỏi về kỷ niệm đáng nhớ của bà và chồng, bà nghẹn ngào: “Lần ông ấy về cuối cùng, nhà có đàn gà, tôi định thịt một con, ông ấy gạt đi, bảo để để sinh nở xong có cái ăn cho lại sức…”
Chia tay chúng tôi, bà gắng nở nụ cười trên gương mặt còn đọng giọt nước mắt: “Nuôi con cái phương trưởng, tôi chỉ nói với chúng: Mẹ lấy chồng từ năm 14 tuổi. Bố mất, mẹ một tay lo toan công việc nhà chồng. Các con về nhà người ta, sống sao cho phải đạo.”

2. Dời nhà liệt sỹ Lê Quang Hòa ở xã Tân Phú, chúng tôi tìm đến nhà liệt sỹ Đỗ Xuân Sinh tại xóm Cầu Tiến xã Tân Hương, thị xã Phổ Yên. Tôi bất ngờ khi biết vợ liệt sỹ là bà Nguyễn Thị Nhiễu cũng đã mất. Hiện nay, người thờ cúng là chị Nguyễn Thị Vân Thu, cháu ruột vợ liệt sỹ.
Tâm sự với chúng tôi, bà Trần Thị Lợi mẹ chị Thu ngậm ngùi: “Chú Sinh quê ở xã Vạn Thọ, huyện Đại Từ. Mẹ mất sớm, bố đi bước nữa… Cùng công tác ở công ty lương thực nhưng chú ấy trên Thái Nguyên, cô Nhiễu làm tại cửa hàng lương thực Ba Hàng. Tôi không rõ cô chú ấy quen nhau trong hoàn cảnh nào, nhưng yêu nhau thắm thiết lắm. Hồi đó, gia đình cả hai bên đều nghèo. Đám cưới của hai người cũng giản tiện, vui vẻ như bao đám cưới thời chiến của các đôi lứa khác, không có cỗ bàn nhưng ngập tràn tiếng cười vui. Rạp cưới trang trí trên phông đôi chim bồ câu bay bên cạnh khóm trúc, trên cùng là dòng chữ “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ”.
Đôi vợ chồng mới cưới được phân một căn phòng tập thể gần cửa hàng. Phòng của hai vợ chồng chỉ có chiếc giường ghép lại từ hai chiếc giường một đã cũ, chỉ có đôi gối và chiếc chăn bông mới. Ngày cưới, cô chú cũng chỉ diện quần tây và mặc áo pô pơ lin không thật trắng. Chú Sinh cười bảo: “Cứ cưới đã rồi từ từ tính. Sắm sanh là việc cả đời. Ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu!”. Rồi chú Sinh đọc thơ, không biết thơ của chú tự làm hay thơ của ai, đại ý: “Giữa bom đạn kẻ thù tình yêu vẫn đơm hoa/ Những đứa trẻ ra đời trong tiếng còi báo động…”.
Cưới nhau được 40 ngày thì chú ấy hy sinh, hai người chưa có con cái gì. Bà Nhiễu cũng không chịu đi bước nữa mà ở vậy một mình. Lúc về nghỉ, bà ấy mở hàng nước ngay trước cửa. Chú Sinh là người hiền lành, hay cười, ai trêu chọc gì cũng chỉ cười. Mỗi tuần chú ấy về thăm nhà một lần vào chủ nhật rồi lại vội vã đi ngay. Hầu như không ai biết chú ấy làm công việc gì của công ty lương thực. Khi đơn vị báo tin chú hy sinh tại ga Lưu Xá, anh chị em lên đó mới biết chú là thủ kho, đang cùng Đại đội 915 làm nhiệm vụ giải tỏa hàng hóa. Trước mộ chồng ở nghĩa trang Dốc Lim, bà ấy ngất lên ngất xuống…”
Sắp đồ lễ đặt lên ban thờ, bà Trần Thị Lợi rân rấn nước mắt:
“Những năm đầu sau khi chồng hy sinh, bà Nhiễu suy sụp, thẫn thờ, rộc rạc như người vô hồn. Nhiều tối sang chơi, tôi bắt gặp bà quỳ trước di ảnh chồng lặng phắc như tượng. Sang cát và cùng gia đình chồng đưa hài cốt chú ấy về an táng trên quê xong, nhiều người khuyên bà Nhiễu đi bước nữa. Khuyên nhủ mãi không được, vài người bèn to nhỏ bảo thôi thì hay là xin đứa con để có chỗ nương tựa, đỡ cô quạnh khi về già, bà ngồi úp mặt khóc: “Từng này tuổi, mang tiếng chửa hoang nhục lắm”… Những năm sau chiến tranh, danh phận người vợ có chồng là liệt sỹ được cả xã hội trân trọng. Tôi không rõ bà ấy nghĩ gì, nhưng có lẽ không muốn làm tổn hại điều gì đó như thanh danh của mình nên cam phận ở vậy chăng?
Thắp nén nhang trước di ảnh bà và liệt sỹ, chị Nguyễn Thị Vân Thu xúc động: “Bà Nhiễu coi các cháu mình như con. Anh chị em trong gia đình cũng coi bà như mẹ. Có lần tôi dùng thỏi son tô môi trang điểm một chút đi đám cưới, bà cầm xem tỏ ra lạ lẫm. Tôi biết bà lấy chồng nhưng hồi đó chưa có váy cưới để mặc và cả đời chưa từng đánh phấn tô son… Hàng nước của bà cũng sơ sài với chiếc siêu đựng nước chè xanh, ấm tích ủ trà chén nóng, mấy lọ kẹo và ít hoa quả, chủ yếu mở hàng cho có việc làm để khuây khỏa lúc tuổi già”.
Nghe tôi hỏi chuyện về bà Nhiễu, bà cụ hàng xóm thở dài: “Bà ấy ăn ở phúc đức, chả có điều tiếng gì. Lấy chồng mới được 40 ngày. Cơ khổ, số lần chồng về đếm trên đầu ngón tay…”
Chiều ngả bóng, những tia nắng cuối cùng mỏng manh như cố chắt cạn mình sáng lên. Căn nhà của bà Nhiễu từng sống phảng phất nét rêu phong u tịch trong bảng lảng làn khói hương. Từ ngày bà mất, căn nhà ấy vẫn được giữ nguyên làm nơi thờ phụng bà và chồng.
Thắp nén nhang trước di ảnh của đôi vợ chồng đã cùng về với tiên tổ, lòng tôi cuộn lên nỗi buồn se thắt. Sự hy sinh của anh là mất mát và nỗi đau tột cùng của gia đình. Người đàn bà 40 ngày làm vợ và một đời lẻ bóng cũng là một sự hy sinh không gì có thể bù đắp.
Hai người đàn ông hy sinh đêm 24/12 cùng 60 đội viên TNXP để lại hai người đàn bà, mỗi người một số phận phải âm thầm chịu đựng.
Tinh thần làm việc quên mình và sự hy sinh thầm lặng của các anh không thể bị lãng quên. Tôi mong mỗi chúng ta hãy dành cho các anh sự tôn vinh và tri ân xứng đáng, đồng thời dành cho những người vợ liệt sỹ sự quan tâm cần thiết, cả về vật chất tinh thần trước khi quá muộn.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng nỗi đau còn đó. Trên ban thờ, nén nhang quặn khói như niềm thương nhớ khôn nguôi của những người đang sống gửi về miền xa thẳm.

Phan Thái