Thử nghĩ về những yếu tố làm nên thơ hay

1055

VNTN – Chứng chỉ cho danh hiệu nhà thơ là những bài thơ hay. Nhưng thế nào là thơ hay? Trả lời câu hỏi này không đơn giản và khó mà có được sự nhất trí.
Trước hết là do sự phân hóa về thị hiếu, quan điểm thẩm mĩ. Lưu Hiệp – nhà thi học cổ Trung Hoa đã nói về điều này trong tác phẩm nổi tiếng Văn tâm điêu long: “Người khảng khái gặp được âm điệu kích ngang thì vỗ nhịp. Người hàm súc gặp bài văn chặt chẽ cứ theo đi. Người hời hợt thấy văn chương màu mè đã rung động. Người ưa tân kỳ được câu thơ lạ cứ thích nghe. Hợp mình thì ngợi khen, khác mình thì bỏ mặc”.

          Hơn nữa, quan niệm về thơ và thơ hay có tính lịch sử. Mỗi thời đại quan niệm thơ mỗi khác. Hàng ngàn năm Trung đại, chịu ảnh hưởng của mỹ học cổ Trung Hoa ông cha ta yên tâm làm thơ bằng chữ Hán, rồi sau đó bằng chữ Nôm với hình thức thơ Đường khuôn mẫu, niêm luật chặt chẽ, đăng đối. Tiếp xúc với văn hóa phương Tây, Phong trào Thơ mới 1932-1945 đã làm một cuộc cách mạng thi ca, đưa thơ Việt Nam vào thời kỳ hiện đại. Tính sáng tạo được đặt lên hàng đầu:

          – Lòng rộng quá chẳng chịu khung nào hết

          Chân tự do đạp phăng cả hàng rào

          – Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen.

                             (Xuân Diệu)

          Thời chúng ta đang sống sự phân hóa về thị hiếu, quan điểm thẩm mĩ càng trở nên vô cùng phức tạp. Bên cạnh đó khi cánh cửa rộng mở, các quan điểm, trường phái thơ thế giới cũng theo đó mà ảnh hưởng vào Việt Nam. Những tranh luận quyết liệt xung quanh các xu hướng thơ “hiện đại”, “hậu hiện đại”, “tân hình thức”… trong những năm qua cho thấy điều đó.

          Tuy vậy, cũng lại phải thừa nhận rằng, thơ dù có hàng ngàn vạn nhánh phát triển thì vẫn có chung bản chất là nghệ thuật ngôn từ. Trên cơ sở chung ấy có khoảng tự do mênh mông cho sáng tạo. Có bao nhiêu nhà thơ chân chính thì cũng có bấy nhiêu cách cảm nhận thế giới, cảm nhận con người và cách thể hiện nghệ thuật khác nhau, tạo nên sự đa dạng, phong phú muôn mặt của thơ. Nhưng sự đa dạng đó không loại trừ cái chung trong quan niệm về thơ hay. Có người đã nói rất thú vị rằng người đẹp ở đâu cũng lấy được chồng, đã là thơ hay thì thế nào cũng sẽ được tiếp nhận. Các hiện tượng phức tạp như thơ Hàn Mặc Tử, Bích Khê từ sự tri âm của Hoài Thanh, Chế Lan Viên dần dần đã được đông đảo người đọc tán thưởng.

          Điểm gặp gỡ trong quan niệm về thơ hay, theo chúng tôi là xuất phát từ nguyên lý tính nhân bản: nghệ thuật thuộc về con người, nghệ thuật sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Thơ hay dù cao siêu, tân kỳ đến mấy cũng sẽ đến được với độc giả nhờ khả năng đồng cảm kỳ diệu của con người, trước hết là của những người có cảm quan tinh tế và am hiểu thơ ca hàng đầu.

          Thơ vô cùng phong phú, đa dạng. Có thơ hay một cách giản dị, trong sáng. Lại có thơ hay trong sự phức tạp, không dễ hiểu. Thật là thiên hình, vạn trạng. Nhưng tôi cho rằng thơ hay là thơ giàu chất nhân bản, có những ý tưởng minh triết về đời sống, và có sáng tạo về thi pháp. Bài thơ hay là khi “đọc thì xúc động, nghĩ thì sâu xa” với những dư âm, dư vị không cùng.

          Bài thơ hay là một sinh thể nghệ thuật toàn vẹn. Mỗi bài thơ hay có một vẻ riêng, độc đáo, không lặp lại. Có thể nói đến những yếu tố chính làm nên thơ hay như sau.

  1. Thơ hay là khi có nội dung trữ tình giàu tính nhân bản và mới lạ

          Những gì xuất phát từ trái tim mới đến được với trái tim. Các thời đại đi qua nhưng trái tim con người có những hằng số, trong đó có sự xúc động trước tình người.

          Đức lớn của trời đất là lòng hiếu sinh. Niềm hạnh phúc, tình yêu của con người với con người, của con người với thiên nhiên tất yếu là nội dung trữ tình của thơ ca. Nhưng đó mới là một nửa sự thật đời sống. Nhìn một phía khác thì chiến tranh, nghèo khổ, bệnh tật, tai ương, tử biệt sinh ly…luôn rình rập, vây bủa kiếp người. Không phải ngẫu nhiên mà người ta nói đời là bể khổ. Con người xứng đáng là đối tượng ngợi ca đồng thời cũng là đối tượng để cảm thông, thương xót, nâng đỡ. Thi hào Pháp Alfred De Musset đã viết:

          Không gì làm ta lớn lên bằng những nỗi đau

          Vần thơ đau thương là vần thơ đẹp nhất

          Những tác phẩm như Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du là những tiếng kêu đứt ruột thương xót cho những kiếp người “trong trường dạ tối tăm trời đất”.

          Có những hiện tượng thơ nhất thời được đề cao, tán tụng nhưng về lâu dài không tác phẩm nào được gọi là lớn, là hay mà lại xa rời tính nhân bản.

          Thơ hay được sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, nhưng đó là cái đẹp mới. Chế Lan Viên đã viết: “Phân chia bờ cõi thơ bằng hai chữ mới, cũ chẳng có ý nghĩa gì”. Nhà thơ Nga A.Voznesensky cũng cho rằng: “Không có mới và cũ, chỉ có tài và bất tài mà thôi. Ai có tài thì người đó mới”. Theo chúng tôi, vấn đề không đơn giản như vậy. Cùng một cô gái đẹp nhưng vận áo tứ thân, nón thúng, quai thao và diện mốt 2018 cho ta hai vẻ đẹp khác nhau: Một cái đẹp đã thuộc về quá khứ và một cái đẹp của hôm nay. Thơ cũng vậy. Có nội dung thời đại thì cũng có hình thức của thời đại.

          Nhà thơ là người không chịu nhìn cuộc sống theo “lẽ phải thông thường” đã trở nên quen thuộc, sáo mòn. Đối tượng công phá thường trực của thơ là sự rập khuôn, máy móc của tư duy, của cách cảm, cách nghĩ, cách viết mà người ta sa vào một cách tự động, nhiều khi không tự biết. Thơ phải gây được hiệu ứng tâm lý ngạc nhiên, thú vị và khâm phục ở người tiếp nhận: Ngạc nhiên ở khả năng nhìn ra cái mới nơi thế giới quen thuộc, ngạc nhiên ở khả năng nới rộng tính nhân bản của con người. Bài thơ Tôi yêu em của A.Pushkine là một ví dụ. Vượt lên sự thường tình, câu thơ “Cầu cho em được người tình như anh đã yêu em” của Thi hào sẽ mãi mãi được ghi nhớ. Ấn tượng mới lạ cũng thật đậm nét với bài thơ Ngập ngừng của Hồ Dzếnh: “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé”. Mùa Xuân là mùa mở đầu một năm nhưng với Xuân Diệu thì “Xuân không mùa”…Chế Lan Viên đã bàn về thơ đầy ý vị tuyên ngôn: “Làm thơ là làm sự phi thường”.

          Làm thơ là vừa tự nói với mình, vừa gửi đến người nghe, người đọc một thông điệp. Thông điệp ấy có thể là một cảm xúc, một tâm trạng, một suy nghĩ có tính minh triết, một kinh nghiệm thẩm mỹ về cuộc sống, con người và về bản thân ngôn ngữ. Vấn đề là những thông điệp ấy phải thực sự mới mẻ. Bài thơ dân gian “Con cóc” là biếm họa điển hình về loại thơ dở, không có thông điệp gì đáng nói.

  1. Bài thơ hay là khi có cấu trúc tứ thơ độc đáo

          Về tầm quan trọng của tứ thơ, Xuân Diệu đã viết: “Ngôn từ, lời chữ, vần rất quan trọng, bởi thơ là nghệ thuật của ngôn ngữ. Tuy nhiên, đó là cái quan trọng thứ hai. Mà cái quan trọng thứ nhất làm rường cột cho tất cả là cái tứ thơ, nó chủ đạo cả bài. Làm thơ khó nhất là tìm tứ”.

          Cấu trúc tứ thơ là kết quả của tư duy sáng tạo, là mô hình nghệ thuật tổng quát làm cho mọi thành phần, yếu tố đều tập trung cho ý đồ nghệ thuật, cho chủ đề của bài thơ. Nhà thơ Anh S.Koleridgơ cho rằng: “Một bài thơ hay là những ngôn từ sáng giá trong một cấu trúc hoàn hảo”. Tứ thơ cho thấy rất rõ tài năng sáng tạo của nhà thơ. Tôi nhớ mãi bài thơ Đêm đến chống chiến tranh phát xít của nhà thơ Đức Bertolt Brecht chỉ gồm 2 câu:

          Hôm nay những lứa đôi yêu nhau

          Ngày mai những đứa trẻ mồ côi ra đời.

          Cái găm vào trí nhớ ta là cấu trúc tứ thơ độc đáo của bài thơ.
Tứ thơ phong phú, đa dạng do sáng tạo là thuộc tính của thơ. Yêu cầu lý tưởng là mỗi bài thơ phải có một cấu trúc tứ thơ độc đáo, không lặp lại. Tuy nhiên trong thực tiễn sáng tạo thơ ta thường gặp một số kiểu cấu trúc tứ thơ như:

Cấu trúc tứ thơ quy nạp

          Ở những bài thơ có mục đích thuyết phục người đọc một ý tưởng nào đó, cấu trúc tứ thơ thường có dạng vận động từ cụ thể đến khái quát. Bài thơ “Tiếng bom ở Seng Phan” (Phạm Tiến Duật) là một thí dụ tiêu biểu.

Cấu trúc tứ thơ diễn dịch

          Nhà thơ đưa ra một nhận định khái quát về cuộc sống, con người rồi diễn dịch bằng nhiều ý thơ như những luận điểm nhằm thuyết phục người đọc. Tiêu biểu là bài thơ “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” của Chế Lan Viên.

Cấu trúc tứ thơ đối lập

          Tứ thơ dạng đối lập có tác dụng làm nổi bật tư tưởng chủ đề của bài thơ. Theo quan sát của chúng tôi, tứ thơ dạng đối lập được rất nhiều nhà thơ sử dụng làm nên những bài thơ hay. Ví dụ bài “Hai câu hỏi” (Chế Lan Viên):

          Ta là ai ? Như ngọn gió siêu hình

          Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt.

          Ta vì ai? Sẽ xoay chiều ngọn bấc

          Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh.

Cấu trúc tứ thơ tương đồng

          So sánh tương đồng là một thao tác tư duy thường xuyên của con người nhằm làm nổi rõ đối tượng nhận thức. Cấu trúc tứ thơ tương đồng đưa đến hiệu quả là làm nổi bật chủ đề trữ tình. Bài thơ “Không đề” (Khuyết danh-Triều Tiên) là một ví dụ:

          Khi trên khung cửi chỉ đứt

          Cần mẫn em ngồi

          Dùng răng dùng môi

          Hai đầu nối lại.

          Khi đứt chỉ tình yêu, ơi cô gái

          Em cũng nên làm như thế đừng quên. 

Cấu trúc tứ thơ ý tại ngôn ngoại

          Đây là loại cấu trúc tứ thơ đặc biệt tinh tế khiến ta đọc ra cái “vắng mặt” trong văn bản. Các nhà thơ Việt Nam và Trung Quốc xưa thường sử dụng loại tứ thơ này làm nên nét đặc trưng thơ Á Đông. Bài “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương có cấu trúc tứ thơ dạng này.

Cấu trúc tứ thơ song song

          Ở cấu trúc tứ thơ song song, các khổ thơ trong bài đều có một thành phần điệp cú hoặc điệp ngữ. Tính lặp lại như vậy làm nên cấu trúc độc đáo của bài thơ. Ví dụ bài “Tự nhủ” của Bế Kiến Quốc:

          Bàn chân ơi, ta đưa ngươi đi

          Mọi nẻo đường dù có khi ngươi vấp

          Có khi dẫm vào gai và biết đâu có khi…

          Ta phải đi vì ta yêu mục đích.

          Vành tai ơi, ta đưa ngươi đi

          Đến miệng đời dù nghe lời đắng chát

          Lời thô bỉ và biết đâu có khi…

          Ta phải nghe vì ta yêu tiếng hát.

          Tất nhiên, trong thực tiễn sáng tạo, còn rất nhiều kiểu tứ thơ độc đáo, giàu tính sáng tạo khác cần phải được tiếp tục tìm hiểu.

  1. Bài thơ hay là khi có nhạc tính độc đáo

          Quan niệm thơ đã thay đổi rất nhiều theo thời gian, trường phái, cá tính sáng tạo của nhà thơ… nhưng có một nguyên lý bất di bất dịch: Thơ phải có tính nhạc. Tính nhạc không chỉ phân biệt thơ với các loại hình nghệ thuật ngôn từ khác mà còn làm cho mỗi bài thơ là một sinh thể nghệ thuật. Có thể thấy mỗi bài thơ hay thật sự có một cấu trúc nhạc tính riêng.

          Bàn về thơ, Mallarmé cho rằng: “Nhạc phải đi trước mọi sự”. Có thể dẫn ra rất nhiều bài thơ hay có nhạc tính độc đáo như: Say (Vũ Hoàng Chương), Màu thời gian (Đoàn Phú Tứ), Nguyệt cầm (Xuân Diệu)… Các bài thơ của Bích Khê như Hoàng hoa, Tỳ bà có một chất nhạc rất lạ và rất hấp dẫn.

          Trong thơ cổ, tính nhạc có tính chất khuôn mẫu và đã được đúc kết trong các thể thơ. Lao động sáng tác của nhà thơ gợi người ta nghĩ đến công việc soạn lời cho các làn điệu dân ca. Trong thơ hiện đại, mỗi bài thơ phải có tính nhạc độc đáo. Ở mỗi bài thơ hay ta thấy lời thơ được linh cảm về nhạc của thi sĩ dẫn dắt, nhịp điệu vừa tự do, vừa liên hệ với kết cấu nhạc tính toàn bài, cuốn hút người đọc. Thậm chí nhạc có thể đi trước ngữ nghĩa, ta chưa kịp hiểu đã cảm thấy hay, như trong thơ tượng trưng.

  1. Bài thơ hay là khi có ngôn ngữ thơ mới lạ

          Thơ là nghệ thuật ngôn từ. Nhà thơ là nghệ sĩ ngôn từ. Một nguyên lí của thơ là ngôn ngữ phải mới lạ. Thơ không chấp nhận thứ ngôn ngữ quen thuộc đến sờn mòn. Tuổi trẻ hôm nay không ai tỏ tình bằng ca dao: “Đến đây mận mới hỏi đào/ Vườn hồng có lối ai vào hay chưa”. Để diễn tả cảm xúc yêu đương thơ hôm nay sẽ có cách nói khác, phù hợp với tâm lý cảm nhận của người đọc hiện đại.
Mới lạ là yếu tính của ngôn ngữ thơ. Đã có hàng triệu câu thơ về tình yêu, Maiacovsky vẫn tìm được cách nói mới:

          Anh yêu em

          Như người thương binh yêu cái chân còn lại của mình.

          Nhiều câu thơ găm vào trí nhớ của ta do sự sáng tạo, mới lạ:

          Từ trời xanh rơi vài giọt tháp Chàm

                             (Văn Cao)

          Tôi già hơn em một cuộc chiến tranh

                             (Thu Bồn)

          Tôi khóc những chân trời không có người bay

          Lại khóc những người bay không có chân trời

                             (Trần Dần)

          Ngôn ngữ thơ đối lập với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ hàng ngày và ít khi là lời nói thẳng. Có vô vàn thủ pháp nghệ thuật để lạ hóa ngôn ngữ như nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, cường điệu, nói giảm, nói vòng, động từ hóa tính từ…Lạ hoá trong thơ hiện đại được đẩy lên một nấc mới khi tự do, táo bạo trong việc kết hợp từ. Nhiều trường hợp dẫn đến phi giao tiếp nhưng cũng không ít khi có những sáng tạo mới lạ như: “Biển pha lê”, “đêm thuỷ tinh”, “lệ ngân”…(Xuân Diệu). “Nắng thuỷ tinh” trong thơ Thanh Tâm Tuyền, trong ca từ Trịnh Công Sơn ánh lên một vẻ đẹp mới lạ.

  1. Bài thơ hay là khi có sáng tạo về nghệ thuật 

          Bài thơ là một giá trị tổng hợp, nhưng trước hết là nghệ thuật ngôn từ. Vì vậy các thủ pháp nghệ thuật có một vai trò quan trọng. Chất thơ thể hiện không chỉ ở nội dung trữ tình (nói điều gì?) mà còn ở chỗ nhà nghệ sĩ ngôn từ đã sáng tạo bằng các thủ pháp nào.

          Trên hành trình phát triển thơ vừa tích luỹ các thủ pháp nghệ thuật truyền thống, vừa không ngừng sáng tạo các thủ pháp mới. Nhận diện những bài thơ hay trong thơ hiện đại là không đơn giản do sự sáng tạo đã nới rộng đường biên lãnh địa thơ. Sáng tạo của nhà thơ thường vượt lên trước tầm đón nhận của công chúng bạn đọc. Nghĩ về Bích Khê, Chế Lan Viên đã viết: “Có những người làm thơ. Lại có những người vừa làm thơ vừa đẩy thơ về phía trước. Khê thuộc loại thứ hai”. Với phong trào Thơ mới, ngoài những thủ pháp nghệ thuật như nhân hóa, so sánh, ẩn dụ…, thơ Việt Nam đã giàu có thêm các thủ pháp mới như: miêu tả khách thể thẩm mỹ một cách cụ thể, cảm tính (thơ “tả chân”), tương hợp cảm giác, đặt cạnh nhau những từ xa nhau về ngữ nghĩa, kết cấu bài thơ bằng nhạc tính…

          Tất cả kinh nghiệm sáng tạo thi ca cổ, kim, đông, tây… đều có ích, nhưng điều quan trọng là nhà thơ phải sáng tạo nên những thủ pháp nghệ thuật mới mẻ, mang dấu ấn phong cách riêng. Tư duy thơ tương hợp gắn với tên tuổi của nhà thơ tượng trưng Pháp Ch.Baudelaire. Hình thức thơ bậc thang gắn với Nhà thơ Nga V.Mayacovsky…

          Như vậy, mỗi tác phẩm thơ hay “là một phát minh về nội dung đồng thời là một phát minh về hình thức” (Leonid Leonov).

Phạm Quốc Ca