Rumani với chúng tôi

90

1. Quả thật trước khi đặt chân đến Bucaret chúng tôi không hề biết Rumani là gì, ở đâu. Lúc đó ở lứa tuổi 18 – 20, học trò cấp III phổ thông của những năm 60 thế kỷ trước chúng tôi chỉ biết có Liên Xô với “Nước Nga – Ờ nước ấy/… Lão ngồi mơ nước Nga” và “Trăng Liên Xô tròn hơn trăng nước Mỹ. Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ”.
Cũng thời gian đó là cuộc chiến tranh chống Mỹ đang ở giai đoạn tàn khốc và ác liệt nhất ở miền Nam. Sau cuộc tấn công và nổi dậy mùa xuân 1968 chiến tranh không chấm dứt mà lại còn dữ dội hơn. Trước đó là cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc (1964) đã tàn phá xứ Nghệ quê tôi. Chiến tranh chết chóc tang thương, đói rét thiếu thốn đến cùng cực.
Chúng tôi, những học trò chưa rời ghế trường phổ thông đã phải cầm súng, lăn xả vào chết chóc và đói khát. Và rồi một số ít những người lính trở về từ mặt trận được Nhà nước cho ra nước ngoài học tập cùng với một số học sinh học hết cấp III (hồi ấy hệ phổ thông chỉ có 10 năm). Hàng nghìn lưu học sinh được gửi đi học ở cả 12 nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Rumani.
Tháng 8 năm 1968, chúng tôi được đưa đến Bucaret và từ đó Rumani đã trở thành máu thịt của chúng tôi. Tôi thấm thía câu thơ của Chế Lan Viên:
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn
Vì chưa từng nghe, từng biết về Rumani, nên hiểu biết của chúng tôi nhiều lắm chỉ là những khung xe com-măng-ca có nhãn hiệu Cacpat bị máy bay Mỹ bắn cháy nằm chỏng gọng quăn queo dọc các bến phà, dọc đường quốc lộ xuyên Nghệ – Tĩnh vào đường mòn Hồ Chí Minh trong dãy Trường Sơn. Đó là những chiếc xe do Rumani viện trợ Việt Nam đánh Mỹ.

Pháo đài Peles

Tôi, 20 tuổi đã cầm súng 3 năm, trực tiếp bắn máy bay Mỹ 2 năm, chưa được một bữa ăn no, chưa biết cái áo len là gì, quanh năm đi chân đất. Sang tận Bucaret, người còn cáu bẩn với bộ comple sờn cổ cũng cáu bẩn không kém do Bộ Tài chính cho mượn, mặc rồi sau đó phải trả lại. Tóc tai bù xù, nhiều người còn cả chấy rận.
Chúng tôi, hơn 300 lưu học sinh đến đất nước Rumani thanh bình, tươi đẹp với sự ngạc nhiên như là cô bé Alixơ trong câu chuyện thần tiên Alice ở đất nước thần tiên (Alice in Wonderland) của Levis Carroll mà chúng tôi từng mê đắm khi còn tuổi học trò. Chúng tôi được tắm rửa, cắt tóc, vệ sinh. Được ăn no, ăn ngon mặc ấm và đẹp. Bởi vì Tổ quốc tôi đang có chiến tranh, thiếu thốn và đói khát. Lần đầu có bữa ăn đầy thức ăn bơ, phomat, thịt nhiều món, bánh mì, sữa chua với dao và dĩa. Chẳng đứa nào biết sử dụng, cái nào trước, cái nào sau… chúng tôi được các bà, các chị ở nhà ăn dạy cho còn tỉ mẩn, cẩn thận hơn dạy trẻ lên ba.
Ngạn ngữ Nghệ Tĩnh có câu: Một thìa lúc đói bằng một đọi khi no; Miếng ngon nhớ lâu điều đau nhớ đời. Ngạn ngữ Rumani có câu “Cea mai bună pinea din lumea este a mamei” (Bánh mì ngon nhất thế gian là bánh mì của mẹ), đối với chúng tôi đến tận bây giờ càng thấm thía. Bánh mì (cơm) của mẹ và của nhân dân Rumani là bánh mì (cơm) ngon nhất thế gian. Các bạn Rumani phát tiền cho chúng tôi may mặc áo quần, giầy, tất mới. Sau hai tuần lễ chúng tôi ngạc nhiên nhìn nhau như không còn nhận ra nhau nữa. Sạch sẽ, hồng hào, ăn mặc đỏm dáng lịch sự, cô cậu nào cũng như hoàng tử và công chúa trong chuyện cổ tích Những câu chuyện bất tử (Porestiri nemuritoare) của Ion Ispirescu.

Trường Đại học Tổng hợp Babes Bolyai

Chúng tôi chia tay nhau đến các trung tâm Đại học ở các thành phố Bucuresti, Iasi, Cluj Napoca, Timisoara, Ploiesti, để học tập. Từ đó, 5 đến 6 năm trời ở đất bạn trong tình cảm yêu thương chăm chút của nhà trường, của nhân viên phục vụ – của cả nhân dân Rumani đùm bọc, dành cho chúng tôi những thứ gì quý nhất. Cảm ơn lòng tốt của bạn, nhưng chúng tôi càng ghi nhớ những gì chúng tôi đang được hưởng là xương máu của nhân dân Việt Nam, xương máu của bạn bè cùng lứa tuổi đang hy sinh ngoài mặt trận. Vì vậy chúng tôi càng phải nỗ lực học hành và gìn giữ tấm lòng trân quý của bạn bè, nhân dân Rumani.
Sau 5 – 6 năm học (tùy mỗi trường), 300 lưu học sinh khóa 1968 chỉ bị trượt 4 – 5 người ở năm học dự bị học tiếng; và bị rơi rụng không quá 10 người vì mắc “tội” yêu đương; còn lại chúng tôi đã tốt nghiệp Đại học, trở về xây dựng đất nước đang bị tàn phá trong chiến tranh. Nhiều người lại đi thẳng ra mặt trận cho đến ngày chiến tranh kết thúc, nước nhà toàn thắng (1975). Và không ai trong số lưu học sinh khóa này đảo ngũ, đầu hàng trong chiến tranh. Người vi phạm pháp luật trong hòa bình sau này cũng không có.
5 năm sống và học tập ở Đại học tổng hợp Babes Bolyai chúng tôi không chỉ học được kiến thức khoa học, mà trước hết là văn hóa. Văn hóa của dân tộc Rumani, văn hóa của các dân tộc khác qua những người bạn cùng lớp, cùng khoa, cùng trường và nhân dân thành phố. Rumani có các dân tộc cùng sống là Hungary, Đức, Nga, Anh, Thổ Nhĩ Kỳ. Nước Rumani chỉ rộng bằng 2/3 diện tích Việt Nam: 237.500km2 dân số 21,79 triệu người, GDP 274,1 tỷ USD. Tính theo đầu người là 12.800 USD, trong đó phần lớn là thu nhập từ nông nghiệp sau mới đến công nghiệp và dịch vụ. Là một nước nông nghiệp mạnh với những sản vật nổi tiếng như củ cải đường, khoai tây, nho, táo, mận, đào. Có được kết này đã là một quá trình vật lộn đau đớn và vinh quang từ xa xưa của nhân dân Rumani và Đảng Cộng sản Rumani, đặc biệt là năm 1989 với cuộc nổi dậy chôn vùi vợ chồng Ceaucescu.
Trường Đại học Tổng hợp Babes Bolyai có lịch sử hàng trăm năm. Thầy hiệu trưởng đầu tiên là người Ý, sau đó là người Hungari rồi đến người Rumani. Tên trường cũng là tên nhà bác học Babes Bolyai người Hungari. Chúng tôi ăn chung, ở chung, học chung với các bạn thuộc các dân tộc khác nhau. Nhà trường chăm lo cho chúng tôi tất cả từ nơi ăn, ở, vệ sinh ký túc xá, giặt giũ áo quần áo cho chúng tôi. Hàng tháng chúng tôi được nhận học bổng đủ tiền mua áo quần, giày mũ sách vở phục vụ học tập. Mùa hè được đi nghỉ biển ở Hắc Hải. Mùa đông lên nghỉ núi ở Sinaia trên núi Cacpat, ốm đau có bác sĩ đến tận ký túc xá khám và chữa bệnh.
Chúng tôi được nhân dân thành phố quan tâm chăm sóc. Nhiều trường hợp thật cảm động. Đến rạp chiếu phim mọi người nhường mua vé. Ra phố nhiều người quan tâm săn sóc, hỏi thăm gia đình. Mua hàng ở chợ, ở cửa hàng được đẩy lên trước: “Việt Nam, nhường mày không phải xếp hàng”. Tất nhiên chúng tôi biết cảm ơn và từ chối. Chúng tôi biết mọi người yêu quý chúng tôi, chăm sóc và nhường nhịn là vì nhân dân Việt Nam đang hy sinh trong bom đạn chiến tranh. Chúng tôi càng tự hào và thấy trách nhiệm của mình trong học tập và trong cuộc sống.

2. Trường tôi học là một trong nhiều trường đại học danh tiếng ở thành phố Cluj Napoca. Là thành phố lớn thứ hai sau Bucaret. Dân số 426.091 người, đông nhất là người Hungari. Rumani và Cluj Napoca cũng giống như Việt Nam của tôi đã trải qua những biến động dữ dội của lịch sử.
Con người đã có mặt ở đây từ thời tiền sử cách nay 40.000 năm. Họ đã lập nên Vương quốc Dacia vào năm 513 (TCN). Đã có thời Dacia là một quốc gia hùng mạnh đe dọa cả đế quốc La Mã. Vùng Transilvania nơi có thành phố tôi học đã bị nhập vào Bulgaria (1018) rồi sau đó thuộc Hungary (thế kỷ X và XI) đến thế kỷ XVI mới tách ra thành một tỉnh độc lập.
Từ thời trung cổ Rumani đã có 3 miền. Đó là Wallachia (Tara Romanească – Đất của người Rumani, hay vẫn gọi là Muntenia), Moldavia (Moldova), và Transilvania.
Đến thời cận đại với người anh hùng dân tộc Mihail Viteazul (Mihail Dũng cảm – 1558 – 1601) đã thống nhất 3 miền thành một quốc gia nhưng sau đó lại bị chia cắt và sát nhập vào đế quốc Ottoman và đế quốc Áo – Hung.
Nước Rumani hiện đại (năm 1859) ra đời với công tước Alexandru Ioan Cuza thủ lĩnh bang Moldavia ông đã thống nhất miền Tara Romaneasca và Moldavia. Sau đó là Transilvania để có nước Rumani như ngày nay.
Nước Rumani thời hiện đại không thay đổi nhiều về lãnh thổ nhưng chế độ chính trị thì thay đổi liên tục. Rumani từng tham gia chiến tranh thế giới I và II. Riêng chiến tranh thế giới II, lúc đầu Rumani tham gia liên quân Phát xít nhưng tháng 4-1944 nhân dân Rumani lật đổ chính phủ Antonescu và nhập vào quân đội đồng minh cùng Liên Xô đánh bại phát xít Đức.
Rumani quân chủ của Vua Michael I bị những người cộng sản Rumani và Liên Xô lật đổ vào năm 1947. Từ đó nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Rumani ra đời. Thời kỳ 1947 – 1956 là Ion Gheorgia Dej, tiếp đó là Nicolaie Ceaucescu đến năm 1989 thì tan rã khi nhân dân Rumani nổi dậy và vợ chồng ông bị xử bắn.
Chúng tôi cùng đau xót với nhân dân Rumani chịu đựng sự đô hộ của nước ngoài như Việt Nam suốt 1000 năm của người Hán, rồi đất nước chia ly thời Trịnh – Nguyễn, sự xâm lược của thực dân Pháp, chiến tranh với Mỹ và sự xâm lược của Trung Quốc năm 1979. Sao mà số phận hai dân tộc giống nhau đến vậy.
Nằm lọt giữa vòng cung của dãy núi Cacpat dài 1800km rộng đến 500km xung quanh núi là Balan, Slovacia, Secbi, Ukraina. Rumani ôm trọn châu thổ sông Danuyp đổ xuống Hắc Hải. Với nền văn hóa La Mã cổ đại lại nằm ở phía Nam Châu Âu là nơi giao lưu của tất cả các nền văn hóa nên Rumani có tất cả các nền văn minh là văn hóa nhân loại, tạo nên một kho tàng và truyền thống văn hóa giàu có và đa dạng. Lịch sử qua đi, các triều đại và thể chế chính trị thay đổi nhưng văn hóa thì còn mãi. Ngày nay vẫn còn đó những lễ hội văn hóa dân gian lớn và nhiều nhất Châu Âu. Ca dao, truyện cổ tích vẫn tràn đầy sức sống. Lễ hội văn hóa dân gian cứ 4 năm lại được tổ chức với giải thưởng Con hươu vàng (Cerb de Aur) hấp dẫn lôi cuốn cả thế giới về đây.
Còn đó Pháo đài Peles. Đây là một công trình văn hóa với phong cách Baraque độc đáo. Là một bảo tàng vũ khí thời trung cổ với kiến trúc đặc biệt của Châu Âu. Neo-gothic và Phục Hưng pha trộn lẫn nhau. Rộng tới 3200m2 được trang trí cầu kỳ, tinh xảo. Được xây dựng từ năm 1873 do kiến trúc sư người Đức Viennese Wilhem Doderer thiết kế. Là lâu đài đầu tiên ở Châu Âu có lò sưởi dùng điện, có 160 phòng. Trong đó lưu giữ nhiều bức tranh của nhiều danh họa thế giới. Hiếm có một bảo tàng nghệ thuật nào trên thế giới với 300 tuổi mà vẫn giữ nguyên kiến trúc ban đầu, cả cái tên Bran như Pháo đài Peles, lâu đài Dracula nổi tiếng thế giới được xây dựng từ năm 1212 gắn với tên tuổi Bá tước Dracula – Ma hút máu của Transilvania. Thực tế, đó là hình bóng của nhân vật lịch sử Vlad Tepes đã trị vì Muntenia ở thế kỷ XV. Lâu đài Dracula càng nổi tiếng hơn nhờ nhà văn người Anh Bram Stocker với tác phẩm Dracula từ thế kỷ XIX. Lâu đài Dracula với kiến trúc thời trung cổ tuyệt đẹp được các thương gia thành phố Brasov xây nên và tặng cho Nữ hoàng Maria từ năm 1920. Năm 1948 nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý, đuổi con cháu Hoàng tộc ra nước ngoài. Lâu đài rã rời, đổ nát, hoang tàn, sau năm 1989 mới được trùng tu lại, rạng rỡ trong sương mù của núi Cacpat thu hút hàng vạn khách du lịch đến thăm.
Vườn Thực vật (Gradina Botanica) lớn nhất Châu Âu có đủ mọi loài thực vật trên thế giới nằm ngay cạnh trường tôi học.
Mỏ muối Salina Turda. Khi thế giới mở ra một ngành du lịch mới là Du lịch Hang động (Geopark) thì người ta mới giật mình. Hóa ra Rumani đã có từ lâu lắm. Mỏ muối Salina ở thành phố Turda đã có hàng trăm năm nay rồi. Như một mê cung nằm sâu dưới lòng đất, mỏ muối có từ thời cổ đại, khai thác mãi đến đầu thế kỷ XX mới hết. Mỏ muối được giữ nguyên, năm 1992 được quy hoạch như một công viên và Viện bảo tàng dưới lòng đất, sâu tới hàng trăm mét. Phải lên xuống bằng băng chuyền hoặc thang máy, nếu đi bộ thì phải xuống 172 bậc để có thể đánh tennit, chèo thuyền, bơi lặn trong hồ nước sâu dưới lòng đất.
Thời hiện đại, trước khi bị lật đổ Ceaucescu để lại một Cung Nghị viện Rumani nguy nga đồ sộ vào hạng nhất nhì thế giới. Được xây dựng trên đồi Spirii với tên gọi là “Ngôi nhà của nhân dân” (Casa poporului) do nữ kiến trúc sư Anca Petrescu thiết kế lúc cô mới 28 tuổi, được khởi công từ năm 1984, đến năm 1989 mới cơ bản hoàn thành, trước ngày vợ chồng Ceaucescu bị xử bắn với câu nói để đời: “Chỉ có nhân dân Rumani mới có quyền phán xét tôi”. Khuôn viên rộng 365.000m2, dài 270, rộng 240, cao trên mặt đất 86m, sâu dưới mặt đất 92 mét. Tòa lâu đài có 12 tầng nổi và 8 tầng chìm dưới mặt đất, có cả hầm ngầm chống bom nguyên tử.
Trong suốt 6 năm trời có 100.000 công nhân làm việc suốt ngày đêm với 700 kiến trúc sư, phải giải tỏa 3.000 hộ dân đi nơi khác. Tòa lâu đài có đúng 1.000 phòng (400 phòng làm việc, 30 cung hội nghị, 3 thư viện). Có hội trường rộng đến hàng trăm m2, cao bằng tòa nhà 7 tầng được mạ vàng thật. Riêng thảm trải tòa lâu đài là 24ha. Cung Nghị viện Rumani xứng đáng là công trình văn hóa kiệt tác để loài người chiêm ngưỡng.
3. Tôi về nước từ năm 1973, đến nay đã tròn 50 năm. Nửa thế kỷ xa Rumani nhưng đêm ngày vẫn sống với nó, cả trong giấc mơ. Còn nhớ cả tiếng lóng, tiếng tục và phương ngữ Rumani. Khi còn là sinh viên vùi đầu vào học hành tôi đâu biết từ năm 1953 nhạc sĩ Lương Ngọc Trác đã dẫn đầu đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam đến Bucaret dự đại hội đại biểu thanh niên Thế giới. Cũng năm đó bắt đầu chiến dịch Điện Biên Phủ, những thanh niên ưu tú trở về từ Bucaret tiếp tục tham gia chiến đấu tại Điện Biên Phủ đã đặt tên cho một quả đồi ở đó là “Đồi Bucaret”. Và tháng 10 năm 1957 Bác Hồ đã sang thăm Rumani, Bác đã đến Bucaret với nhân dân Rumani.
Ngay từ những năm 60 thế kỷ trước, văn học Rumani qua bản dịch tiếng Pháp đã ào ạt sang Việt Nam. Người dịch nhiều nhất và dịch tốt nhất là Tuấn Đô với toàn bộ kịch của Caragiale. Tiểu thuyết Sadoveanu, tiểu thuyết Rebreanu và nhiều nhà văn, nhà thơ khác cũng đã được nhiều người dịch.
Về sau này, thế hệ chúng tôi về nước đã có thêm Thơ Mihail Eminescu – ngôi sao sáng nhất của văn học Rumani và là nhà thơ lãng mạn cuối cùng của văn học lãng mạn châu Âu do Phạm Viết Đào dịch. Thơ Tudor Arghezi tiểu thuyết hiện đại Thành phố trên sông Muret của Francis Munteanu do Lê Đình Cúc dịch. Truyện cổ tích Rumani do Lê Đình Cúc và Đào Duy Hiệp dịch. Tác phẩm của các nhà khoa học, nhà văn như Ion Ionescu, Lucien Goldman cũng đã được dịch ở Việt Nam. Năm 2005 Nhật ký trong tù của Bác Hồ đã được dịch sang tiếng Rumani, Truyện Kiều của Nguyễn Du và Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ). Nhật ký Đặng Thùy Trâm và nhiều tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại đã được dịch ra tiếng Rumani.
Cuối những năm 60 thế kỷ trước, lứa lưu học sinh đầu tiên ở Rumani về Viện Văn học đã có những công trình nghiên cứu về văn học Rumani tiếp tục đến bây giờ.
Rumani đã nuôi dạy cho Việt Nam gần 4000 sinh viên tất cả. Suốt thế kỷ này đã có hàng trăm đoàn cựu sinh viên trở lại thăm và làm việc ở Rumani. Đi cá nhân cũng có hàng trăm người. Chỉ có điều là số người sang Rumani học ngày càng ít dần. (Năm học 2017 – 2018 chỉ có 10 lưu học sinh sang, thi hết năm dự bị đã trượt đến 6 em. Những lưu học sinh này đã được chọn và cử của Bộ Đại học và Đào tạo. Buồn cho giáo dục nước mình hiện nay!).
Tháng 8 năm 2018, đoàn lưu học sinh Đại học Tổng hợp Babes Bolyai trở lại thăm trường và Rumani – Quê hương thứ 2 của chúng tôi. Ai cũng nghẹn ngào xúc động. Thầy giáo, cô giáo cũ chỉ còn lại vài người. Bạn bè cùng lớp, cùng khoa đã già lắm rồi, nhiều người đã mất. Bùi ngùi xúc động, chúng tôi đã đi từ Bucaret xuống những thành phố biển Mamaia, Costinesti ở Hắc Hải tắm như 50 năm trước. Chúng tôi đã vòng quanh đất nước Rumani yêu thương, qua Ploiesti, lên Brasov, Sinaia… thăm lại những di tích và công trình văn hóa trên đây, qua Sibiu “về nhà” là Cluj Napoca và cả không quên đến nghĩa trang Ghenca Cemetery – Bucaret thắp hương cho vợ chồng Ceacescu. “Nghĩa tử là nghĩa tận”, ông có công, có tội gì do nhân dân Rumani phán xét nhưng chúng tôi đã đến Rumani học tập thời ông làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Rumani.

Cung Nghị viện Rumani

Rumani hôm nay vẫn như một công viên với những di tích lịch sử và di tích văn hóa, các lâu đài, nhà thờ, các pháo đài và các công trình nghệ thuật. Tượng đài là một ngành nghệ thuật rực rỡ ở Rumani. Ở các quảng trường thành phố, ở cả những thị tứ, khắp nơi đều có tượng đài. Các nhà điêu khắc, các nhà văn, nhà thơ, nhà khoa học và nghệ sĩ được tạc tượng và đặt tên phố cùng với danh nhân trong lịch sử. Thật khó tìm được tên phố hay công trình văn hóa nào mang tên các nhà chính trị, tướng lĩnh thời hiện đại. Không phải là cái nhìn của 2 tuần sống trên đất Rumani mà là tầm nhìn của 50 năm sống với nhân dân và đất nước Rumani dù chúng tôi đã xa cách đến nửa cuộc đời. Vui và xúc động. Đất nước Rumani lộng lẫy như một vườn hoa. Trong công viên, dọc đường đi, trong các làng xóm, nhà thờ… đâu đâu cũng rực rỡ hoa và quả chín. Táo, nho, mận, đào… đang mùa thu hoạch. Hoa hướng dương ngút ngàn, trải rộng suốt chân trời. Các thành phố chúng tôi đi qua và ở lại vẫn nề nếp, thanh bình (mặc dù những cuộc biểu tình nổ ra thường xuyên). Đường phố rộng thênh thang không khói bụi, ít tắc đường. Suốt tuần không đánh giày, vẫn sáng bóng. Ngay cả Bucaret có đến 2 triệu xe ô tô nhưng không nghe một tiếng còi, ngày đêm không có bóng cảnh sát. Cả nước Rumani không một trạm thu phí BOT. Rừng được bảo vệ tuyệt đối. Cây xanh được bảo vệ tuyệt đối. Môi trường xanh, sạch, đẹp được đặc biệt quan tâm. Các cửa hàng, siêu thị đầy ắp hàng hóa nhưng không nơi nào bán túi ni – lông đựng hàng cho khách mua hàng. Ai đi mua hàng cũng phải mang theo, điều này hạn chế đến tối đa rác thải.
Trên tất cả vẫn là tấm lòng người dân Rumani với chúng tôi. Thân ái, hiền lành, nhân hậu, nhiệt tình và trung thực. Với một bề dày phong phú và giàu có của văn hóa, dù Rumani chưa phải là nước phát triển về kinh tế ở Châu Âu nhưng nền tảng xã hội ổn định và đang trên đà phát triển.
Chúng tôi trở về và hẹn ngày trở lại. Tạm biệt trường Đại học Tổng hợp Babes Bolyai và Rumani với một so sánh là có lẽ cả trăm năm nữa Việt Nam cũng chưa thể có một cơ sở đại học như thế này.

 

Ký sự. Lê Đình Cúc