Nguyễn An Ninh: Nhà trí thức yêu nước

262

VNTN – 75 năm trước, tại nhà lao Côn Đảo, vào ngày 14-8-1943, chí sĩ yêu nước nổi tiếng Nguyễn An Ninh đã trút hơi thở cuối cùng trong nhà tù thực dân Pháp kết thúc một cuộc đời ngắn ngủi nhưng đầy sôi động của một trí thức dấn thân vì dân tộc đến hơi thở cuối cùng.

 

Trước khi nhắm mắt xuôi tay, Nguyễn An Ninh đã để lại một bài thơ nổi tiếng: Sống và chết: Sống mà vô dụng, sống làm chi/ Sống chẳng lương tâm, sống ích gì?/ Sống trái đạo người, người thêm tủi/ Sống quên ơn nước, nước càng khi/ Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn/ Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ/ Sống sao nên phải, cho nên sống/ Sống để muôn đời, sử tạc ghi/ Chết sao danh tiếng vẫn còn hoài/ Chết đáng là người đủ mắt tai/ Chết được dựng hình tên chẳng mục/ Chết đưa vào sử chứ không phai/ Chết đó, rõ ràng danh sống mãi/ Chết đây, chỉ chết cái hình hài/ Chết vì Tổ quốc, đời khen ngợi/ Chết cho hậu thế, đẹp tương lai.

Thời tuổi trẻ sôi động

Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX là cái nôi xuất hiện rất nhiều phong trào yêu nước và cùng với đó là sự xuất hiện của hàng loạt những nhà yêu nước nổi tiếng mà tên tuổi của họ sẽ vẫn còn sống mãi với non sông, một trong những nhân vật nổi tiếng ấy chính là Nguyễn An Ninh. Nguyễn An Ninh quê ở Cần Giuộc, Chợ Lớn nay thuộc Long An. Ông sinh vào ngày 15/9/1900 trong một gia đình trí thức. Người viết bài này đã có vinh dự được tham dự buổi hội thảo về ông mà diễn giả chính là bà Nguyễn Thị Minh, con gái Nguyễn An Ninh. Theo bà Nguyễn Thị Minh, tổ tiên Nguyễn An Ninh vốn cùng họ Đoàn của Đoàn Thị Điểm, do chống lại chúa Trịnh nên đã trốn vào Bình Định và đổi thành họ Nguyễn. Độc giả miền Nam những năm đầu thế kỷ XX từng say sưa với bản dịch Vạn Huê Lầu. Tác giả bản dịch ấy chính là cụ Nguyễn An Cư, thân phụ Nguyễn An Ninh. Cả cha và chú của ông không những là những nhà văn có tinh thần yêu nước chống Pháp mà còn là người thầy thuốc chuyên giúp đỡ người nghèo.

Mặc dù được tuyển thẳng ra Hà Nội học nghề y và sau đó đã chuyển sang học luật, nhưng ông không hài lòng với chế độ giáo dục nên ông tìm đường sang Pháp. Tại Pháp, ông chỉ mất 1 năm để hoàn thành chương trình 4 năm và lấy bằng cử nhân luật hạng xuất sắc của đại học Sorbonne. Đây là sự kiện gây ngạc nhiên và thích thú trong giới trí thức Pháp đương thời. Trên đất Pháp, ông cùng các nhà trí thức và cách mạng tên tuổi tại Pháp thành lập một nhóm Ngũ Long bao gồm: Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành (tức Nguyễn Ái Quốc). Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Paris sang Nga để học cách tổ chức và lãnh đạo cách mạng. Theo bà Nguyễn Thị Minh, con gái ông, vé tàu Nguyễn Ái Quốc đi từ Pháp sang Nga năm ấy do Nguyễn An Ninh mua. Kể từ cuộc chia tay ấy, bộ ba Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền (Cụ Phan mất sau đó và cụ Phan Văn Trường cũng bị quản thúc) thất lạc nhau. Năm 1935, Nguyễn An Ninh móc nối đưa Nguyễn Ái Quốc về Sài Gòn hoạt động nhưng không thành. Riêng Nguyễn Thế Truyền bị người Pháp đưa đi đày và năm 1954 được thả và có gặp Hồ Chí Minh trước khi di cư vào Nam năm 1954. Sau đó Nguyễn Thế Truyền làm báo và có ra tranh cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1961 nhưng thất bại. Ngày 02/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời tại Hà Nội, ngày 4/9 năm ấy, Nguyễn Thế Truyền tuyên bố tuyệt thực và qua đời ngày 19/9/1969. Riêng Nguyễn An Ninh, cho đến ngày hi sinh tại Côn Đảo, ông đã không gặp người bạn thân thiết của mình – Nguyễn Tất Thành.

Người đánh thức các thế hệ thanh niên Việt Nam

Mặc dù nhà cầm quyền thực dân dùng đủ mọi cách để mua chuộc, dụ dỗ ông cộng tác với chính quyền thực dân với lương cao, bổng hậu, ruộng đất, thế nhưng Nguyễn An Ninh đã quyết đi vào con đường tranh đấu cho dân tộc, kể cả không theo học để lấy bằng tiến tiến sĩ. Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng Nguyễn An Ninh là người “đánh thức các thế hệ thanh niên Việt Nam khi ấy”. Trần Văn Giàu cho biết, những năm ấy, các cậu ấm như ông từ Nam Kỳ lục tỉnh lên Sài Gòn đi học, ăn mặc chỉn chu, đúng điệu đã bị thuyết phục và mê hoặc bởi một Nguyễn An Ninh, cử nhân luật tại Pháp, xuất thân trong một gia đình danh giá nhưng đã từ bỏ tất cả để đội nón lá, bán dầu cù là, bán báo ở ven đường với mục đích cao nhất là thức tỉnh thanh niên về tinh thần yêu nước. Nguyễn An Ninh đã tổ chức diễn thuyết 2 lần ở Việt Nam và đều được quần chúng hoan nghênh nhiệt liệt. Đó là cuộc diễn thuyết đầu tiên ngày 25/01/1923 khi ông từ Pháp về thăm dò phong trào quần chúng trong nước với đề tài: “Nền Văn hóa Việt Nam” và cuộc diễn thuyết lần thứ hai vào đêm 15 tháng 10 năm 1923 với đề tài “Lý tưởng thanh niên An Nam”. Các bài diễn thuyết của ông sau đó đã được xem là tiếng chuông thức tỉnh đồng bào đang lầm than, mê đắm với tuyên ngôn nổi tiếng: “Dân tộc nào để cho một nền văn hóa ngoại bang ngự trị thì không thể có độc lập thực sự. Văn hóa là tâm hồn của dân tộc  … một dân tộc muốn sống, muốn độc lập, muốn rạng danh trong nhân loại, cần phải có một nền văn hóa riêng của mình (…). Hãy tôn sùng những ai đã dùng tài năng hay thiên phú của mình mà tự nâng vị trí của dân tộc ta (chỉ người Việt) trên thế giới và những ai đã đóng góp vào việc cải thiện điều kiện sống cho dân tộc chúng ta”.

Sau rất nhiều chiêu bài dụ dỗ không thành, kể cả mời phu nhân của ông (bà Trương Thị Sáu, cô ruột, nhưng là mẹ nuôi ông Trương Văn Bang, Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam bộ) lên thuyết phục, thực dân Pháp cấm ông diễn thuyết. Không thể tranh đấu bằng lời nói, ông chuyển qua làm báo và ra báo La Cloche Fêlée (Tiếng Chuông Rè) nhưng đã bị tạm ngưng khi xuất bản được 19 số.

La Cloche Fêlée chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn và số lượng có hạn, lại viết bằng tiếng Pháp nhưng được đánh giá là đã “gióng lên tiếng chuông “thức tỉnh đồng bào” và lột trần bản chất của chế độ thuộc địa”. Học giả Vương Hồng Sển trong một tác phẩm cho biết, lo sợ trước ảnh hưởng của La Cloche Fêlée, Thống đốc Nam Kỳ đã có lệnh cấm tất cả công chức không được đọc. Tuy nhiên, Cụ Vương Hồng Sển cũng cho biết, dù có lệnh cấm ấy và nếu bị phát hiện những người đọc nó sẽ mất việc như chơi, nhưng trong gầm bàn của rất nhiều công chức chính quyền thuộc địa vẫn có tờ La Cloche Fêlée. Không những chỉ hoạt động trong nước, Nguyễn An Ninh còn mở chiến dịch sang Pháp để đòi các “quyền tự do – dân chủ” cho Việt Nam và đi diễn thuyết nhiều nơi ở nước Pháp cũng như thành lập và làm Chủ tịch Thanh niên cao vọng đảng còn gọi là Hội kín Nguyễn An Ninh ở  Nam Bộ. Đây được xem là tổ chức chính trị đầu tiên của giới bình dân, có ảnh hưởng rộng khắp Nam Kỳ trong suốt thập niên 1920. Nguyễn An Ninh cũn là người đã kết nối để đưa cụ Phan Chu Trinh về Sài Gòn diễn thuyết.

Hứng chịu tù đày và hi sinh

Trong cuộc đời tranh đấu của mình, Nguyễn An Ninh đã 5 lần bị chế độ thực dân bắt ngồi tù, đến lần thứ 5 thì ông đã ra đi mãi mãi ở tuổi 43. Mùng 5 tháng 10 năm 1939, Nguyễn An Ninh bị kết án tù lần thứ 5 với mức án 5 năm lưu đày Côn Đảo. Khi người Nhật vào Đông Dương, đã 2 lần cho người ra Côn Đảo đặt vấn đề mời ông về nhận chức Thủ tướng của chính phủ thân Nhật do người Nhật dự kiến thành lập nhưng ông đều từ chối. Nhà văn – Người tù thế kỷ Sơn Vương Trương Văn Thoại trong một bài viết của mình cho biết, ông là người gẫn gũi với Nguyễn An Ninh tại Côn Đảo và đã chứng kiến giây phút hi sinh lẫm liệt cuối cùng của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh. Theo Sơn Vương Trương Văn Thoại, tất cả những người tù Côn Đảo khi chết đều được cho đem về chôn ở Hàng Keo (nơi đây là nơi yên nghỉ của gần 10.000 tù nhân yêu nước – NV). Nhà văn Sơn Vương cho biết, khi ông đang oằn oại đau thương, tên quan tư Tisseyre có đến thăm chừng, bị ông mắng ngay vào mặt câu này: “Bọn thực dân các anh giết tôi là diệt được mầm mống đấu tranh có phải? Không đâu! Mất Ninh này còn có hàng trăm hàng ngàn Ninh khác liên tục ra đời. Những Ninh tương lai ấy còn tài ba vượt trội và nhiệt tình yêu nước hơn tôi, gấp bội nữa kìa”. Nhà văn Sơn Vương cho biết trước đây lúc các tù nhân qua đời đều được chôn với chiếc hòm thô sơ do 4 miếng ván ghép lại. Đến thời Giám đốc Tisseyre không cho dùng ván đóng hòm vì có bao bàng thay thế. Ông Ninh phản kháng vụ này, Tisseyre trả lời một cách mỉa mai “Khi nào đến lượt anh, vấn đề sẽ được cứu xét…!”. Cũng theo nhà văn Sơn Vương, các tù nhân Côn Đảo thường ca một lời ca đầy ai oán, bi thương do chính Nguyễn An Ninh đặt ra: Cảnh nào bằng cảnh Côn Nôn/ Sống nhờ gạo lứt thác chôn bao bàng! Côn Lôn đi dễ khó về, Sống nương Núi Chúa, thác về Hàng Keo, trong đó có Nguyễn An Ninh. Và rồi, “mọi việc xảy ra sau ngày ông nhắm mắt lìa đời đúng lời ông tiên đoán không sai tí nào”. Vì lòng nhân đạo, viên kỹ sư nhà đèn cùng bà vợ lai Việt có đóng cho ông một chiếc hòm bằng cây khá tốt, nhưng vì thù vặt, tên chúa ngục Tisseyre bác bỏ không cho. Xác ông bị chôn bằng hai chiếc bao bàng như bao tù nhân bất hạnh khác. Nhà văn Lê Minh Quốc trong cuốn sách Nguyễn An Ninh – Dấu ấn để lại cho biết: Rognorn, người lính Pháp gác cổng trại giam, đã kêu rú lên khi thấy trong chiếc bao bố là xác ông Ninh được bó trong manh chiếu. Rognorn chạy nhanh đến xin chúa đảo Côn Đảo Tisseyer một cái hòm, nhưng chẳng được gì ngoài lời chửi rủa. Bà Charlotte Printanière, vợ của giám đốc Sở điện của đảo, trước đây cùng học chung với ông Ninh, đến ngỏ ý muốn đóng một quan tài cho ông, nhưng cũng bị chúa đảo từ chối. Vì vậy, chiếc xe bò chở xác Nguyễn An Ninh cứ như thế, lại tiếp tục lộc cộc đi qua những con đường gập ghềnh để đến khu mộ Hàng Keo. Thấy quần áo ông quá cũ nát, một người tù đã lấy chiếc áo còn khá lành lặn của mình để thay. Và họ đã tìm thấy trong túi áo ông một bài thơ viết nghệch ngoạc ghi trên.

Sau ngày Côn Đảo giành được chính quyền, Sơn Vương trở thành Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Côn Đảo từ ngày 12/12/1945 cho đến ngày 18/6/1946 khi thực dân Pháp tái chiếm Côn Đảo. Chính nhà văn Sơn Vương là người đã cải táng mộ ông thành ngôi mộ khang trang và lấy tên Nguyễn An Ninh đặt cho Côn Đảo với tên gọi là An Ninh quần đảo.

Nhà cách mạng Trần Văn Giàu đã đánh giá về Nguyễn An Ninh: “Người anh Ninh, tóc chấm vai, mắt sáng như sao, tiếng trong như chuông. Ở đất Sài Gòn mà mặc bà ba, đi guốc, bán báo Chuông rè của mình viết. Hình ảnh đó tự nó đủ gây cảm tình sâu sắc với đồng bào… Một thuở, Nguyễn An Ninh là thần tượng của đồng bào lục tỉnh, của học sinh chúng tôi… Con người sôi nổi, đại chúng đó, hùng hồn ở diễn đàn, bén nhọn trên cột báo, không chút sợ Tây, tà, vào tù như về quê, con người ấy đồng thời là một người trầm tư, mặc tưởng… Nguyễn An Ninh là một chính khách, học giả, một nhà chính trị hoạt động. Trước hết, anh là một con người của quần chúng, là con người của nhân dân… Trong mắt, trong lòng người Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, chí sĩ Nguyễn An Ninh là một người cách mạng, xứng đáng được lưu danh bằng bia đá, tượng đồng”.

Cuộc đời Nguyễn An Ninh đã khép lại ở tuổi 43 trong tủi hận hờn căm vì mục tiêu mà ông và các chí sĩ yêu nước của dân tộc dành cả cuộc đời tranh đấu đã chưa đi đến đích cuối cùng. Phải hai năm sau, với cuộc cách mạng Tháng Tám vĩ đại, hoài bão và khát vọng của bao lớp cha anh, trong đó có những chí sĩ yêu nước nổi tiếng như Nguyễn An Ninh mới trở thành hiện thực.

Vũ Trung Kiên