Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với những quyết sách kịp thời, đúng đắn

1076

VNTN – Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với Chính phủ lâm thời đầu tiên được thành lập ngày 28 tháng 8 năm 1945 là sự kiện vĩ đại trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Một thời gian tồn tại không dài, Chính phủ lâm thời đã đề ra rất nhiều các quyết sách kịp thời, đúng đắn.

Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập ngày 28 tháng 8 năm 1945 trên cơ sở cải tổ Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Quốc dân Đại hội Tân Trào thành lập ngày 16 và 17 tháng 8 năm 1945. Trong tổng số 15 thành viên Chính phủ được công bố, điều đặc biệt nhất trong Chính phủ này, ngoài các thành viên thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương là: Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Trần Huy Liệu, Phạm Ngọc Thạch, Lê Văn Hiến, Phạm Văn Đồng, Cù Huy Cận, Nguyễn Văn Xuân còn có 2 thành viên thuộc Đảng Dân chủ là Dương Đức Hiền – Bộ trưởng Bộ Thanh niên và Vũ Đình Hòe – Bộ trưởng Bộ quốc gia Giáo dục. Có 4 thành viên Chính phủ không thuộc đảng phái nào là các ông: Nguyễn Mạnh Hà – Bộ trưởng Bộ quốc dân kinh tế; Vũ Trọng Khánh – Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Đào Trọng Kim – Bộ trưởng Bộ Giao thông công chánh; Nguyễn Văn Tố – Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Hoàng thân Xu-pha-nu-vông (Lào, bên trái) và Cựu hoàng Bảo Đại (bên phải), – vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam, cũng là người được Hồ Chủ tịch mời làm cố vấn cho Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà. Ảnh tư liệu.

Ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng toàn dân xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân. Ngày 3 tháng 9 năm 1945, chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ lâm thời đã họp phiên đầu tiên do Hồ Chí Minh chủ tọa và đề ra nhiều chính sách đặc biệt quan trọng trong đó có 3 nhiệm vụ cấp bách là: Diệt giặc đói, gặc dốt và giặc ngoại xâm.

Tại đây, Chính phủ đã thống nhất với đề xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh về 6 nội dung cấp bách phải thực hiện, đó là: Phát động tăng gia sản xuất, mở các cuộc lạc quyên để chống nạn đói; Mở phong trào chống nạn mù chữ; Tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân; Mở phong trào giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, bài trừ các tệ nạn do chế độ thực dân để lại; Xóa bỏ các thứ thuế vô lý, trước mắt là thuế thân, thuế chợ, thuế đò; tuyệt đối cấm hút thuộc phiện; Tuyên bố tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết. Chính phủ cũng ban hành sắc lệnh thành lập Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Hành chính địa phương các cấp. Ngoài ra, để khắc phục nạn đói khủng khiếp trước đó do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra làm cho 2 triệu đồng bào miền Bắc chết đói, Chính phủ đã tổ chức lễ phát động phong trào cứu đói, phái một ủy ban vào Nam bộ tổ chức vận chuyển gạo ra Bắc, kêu gọi các hội buôn và người dân tham gia vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc.

Để giải quyết nạn đói, ngoài thực hiện nhiệm vụ cấp bách là cứu đói, Chính phủ kêu gọi nhân dân tăng gia sản xuất. Kết quả là chỉ trong 5 tháng từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 5 năm 1946, sản lượng lương thực, chủ yếu là màu đạt tương đương 506.000 tấn lúa, đủ đắp được số thiếu hụt của vụ mùa năm 1945. Đến hết năm 1946, nạn đói đã cơ bản đã được giải quyết. Đúng một năm sau ngày tuyên bố độc lập, ngày 2 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch quân sự Võ Nguyên Giáp tuyên bố “Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kỳ công của chế độ dân chủ”.

Biểu tình giành chính quyền ngày 19-8-1945 tại Phủ Khâm sai Bắc Kỳ (sau Cách mạng tháng Tám là Bắc Bộ phủ, nay là Nhà khách Chính phủ). Ảnh: T.L

Nếu như năm 1945, trên 95% dân số Việt Nam mù chữ thì đến cuối năm 1946, riêng ở Bắc Bộ và Trung Bộ đã có trên 2,5 triệu người biết đọc, biết viết v.v… Trong 6 vấn đề cấp bách được nêu ra có vấn đề “Tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”… Một tháng sau, kể từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công, trong bài Chính phủ là công bộc của dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người… đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”. Chỉ hơn một tháng sau khi thành lập chính quyền cách mạng, trong thư gửi ủy ban nhân dân các cấp, Người đã thẳng thắn chỉ ra những lỗi lầm của đội ngũ cán bộ ủy ban các cấp hay mắc phải như: cậy thế, hủ hóa, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo và chỉ rõ những biểu hiện cụ thể của từng lỗi lầm đó. Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện như: “ngang tàng, phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân”.

Chính phủ lâm thời được cải tổ thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời Việt Nam vào ngày 01 tháng 01 năm 1946 với Chủ tịch Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần (Việt Cách), Bộ trưởng Nội vụ, tức Công an Võ Nguyên Giáp (Việt Minh), Bộ trưởng Quốc phòng Chu Văn Tấn (Việt Minh), Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Cổ động Trần Huy Liệu (Việt Minh), Bộ trưởng Thanh niên Dương Đức Hiền (Dân chủ), Bộ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế Nguyễn Mạnh Hà (nhân sỹ trí Công giáo), Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hòe (Dân chủ), Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh (Dân chủ), Bộ trưởng Bộ Y tế Trương Đình Tri (Việt Cách), Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính Đào Trọng Kim (nhân sỹ yêu nước), Bộ trưởng Lao động Lê Văn Hiến (Việt Minh), Bộ trưởng Tài chính Phạm Văn Đồng (Việt Minh), Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội Nguyễn Văn Tố (nhân sỹ yêu nước không đảng phái), Bộ trưởng Bộ Canh nông Cù Huy Cận (Dân chủ), Bộ trưởng không bộ Nguyễn Văn Xuân.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Liên hiệp lâm thời, Việt Nam đã tổ chức thành công cuộc bầu cử Quốc hội khóa I. Tư tưởng quản lý đất nước, xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, quan tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền đã được Hồ Chí Minh quan tâm từ rất sớm. Từ năm 1919, trong yêu sách 8 điểm gửi tới Hội nghị Versailles, thay mặt những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải cải cách pháp luật ở Đông Dương để người bản xứ được bảo đảm về luật pháp như người châu Âu. Người nhấn mạnh “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Chỉ một ngày sau lễ tuyên bố độc lập, ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”. Cuộc Tổng tuyển cử đã được toàn dân tham gia rộng rãi, có địa phương đến 90% tổng số cử tri đi bỏ phiếu. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái dân chủ khác nhau, 43% đại biểu không đảng phái (87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu các dân tộc ít người).

Ngay sau cuộc bầu cử Quốc hội khóa I, Chính phủ đầu tiên do cử tri toàn quốc bầu ra đã được thành lập ngày 02 tháng 3 năm 1946. Quốc hội khóa I đã ban hành Hiến pháp đầu tiên năm 1946. Trên cương vị là nguyên thủ quốc gia đồng thời là người đứng đầu Chính phủ và trực tiếp là Trưởng ban soạn thảo Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy trí tuệ của Đảng, toàn dân cùng với Quốc hội khóa I soạn thảo bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước nhà với những điểm tiến bộ vượt thời đại và vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay… Cả hai Chính phủ lâm thời là: Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Liên hiệp lâm thời Việt Nam do Hồ Chí Minh đứng đầu đã kịp thời đề ra và thực hiện rất nhiều các quyết sách kịp thời, đúng đắn tạo tiền đề cho sự ổn định và phát triển của đất nước về sau.

Hồng Phúc