Viết bên dòng sông Hàn

87

Tháng sáu này về với thành phố bên sông Hàn với những cảm xúc vui say. Bên cạnh vẻ lung linh của thành phố du lịch, bên cạnh cái nguy nga của thành phố trẻ năng động đang vươn mình đón gió biển khơi, tôi còn được chiêm ngưỡng thành phố biển với cảnh sinh hoạt, lao động bình dị của những con người mà từ lâu họ đã viết lên những dòng lịch sử đầy oai hùng nhưng cũng không ít bi thương của mảnh đất bị địch chiếm trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ hơn ba mươi năm.

Trời đã vào đêm, thành phố lên đèn rực rỡ, gió trên sông Hàn rười rượi thổi, sóng vỗ ì oạp vào bờ, ánh sáng của đèn điện trên đường tỏa xuống dòng sông lóng lánh, tràn trề. Những bụi tre, những rặng phi lao nghiêng ngả chìm vào làn sương lành lạnh. Cái chòi ngồi cất vó bên sông được dựng sơ sài chỉ có mỗi bốn cọc tre và hai tấm tôn đã gỉ lỗ chỗ vì nước lợ. Ông lão tựa hông vào tấm phản tre châm lửa hút thuốc, chốc chốc lại giơ tay xem đồng hồ. Chừng ba mươi phút ông bấm công tắc, chiếc vó rộng hơn trăm mét vuông từ từ cất lên khỏi mặt nước mang lên những con cá lấp lánh ánh bạc. Chiếc thuyền nhỏ quệt đuôi vào bờ bập bềnh một lát rồi bơi ra phía lưới. Một tay kéo tấm lưới đưa chiếc thuyền tiến lên, một tay gõ liên tục vào lưới bằng một thanh gỗ nhỏ, bằng đôi bàn tay thuần thục, rất nhanh ông lão dồn số cá trong lưới vào chiếc thùng xanh và trở lại bờ chờ đợi cho mẻ cất vó sau.

Nguồn: Internet

Khuya. Sương xuống dày hơn, trên phố ánh đèn đường đã thưa. Ở một góc sông ánh sáng đèn đổ xuống mặt sông trông như những cột ánh sáng lung linh muôn màu sắc. Gió thổi về ràn rạt cuốn theo tàn lân tinh từ nén hương ông lão vừa đốt lên. Khói hương thơm lẩn khuất trên gương mặt lòng vòng những nếp nhăn xô lại với nhau trên cổ và trên má đan dày như những vuông ruộng mùa thu hoạch. Sống suốt cuộc đời bên sông, sau hai cuộc chiến tranh đẫm máu, ông lão hiểu con sông Hàn mang trong mình biết bao xác người còn chìm sâu dưới đáy. Hằng đêm ông đốt những nén hương này dành riêng cho họ! Dòng sông cũng như ông, vẫn chảy miết để lắng sâu dưới đáy những nỗi đau và để sống một cuộc đời đầy yêu thương và hi vọng. Trên tay ông lão, dấu tích của chiến tranh vẫn còn đó. Ông đã quyết tâm biết bao khi tự mình phải cưa đi hai ngón tay để không phải đi lính cho giặc, mà đi làm cách mạng, góp phần nuôi dưỡng cán bộ Việt Minh chờ thời cơ vùng lên giành chính quyền từ tay bọn Mĩ. Hòa bình lập lại ông cũng như bao người dân Đà Nẵng bắt tay vào xây dựng thành phố. Với công việc đánh cá nhọc nhằn trên sông, vợ chồng ông lão đã có thể nuôi đủ một đàn con ngoan hơn mười người. Và mười mấy năm nay dù có phải làm cuộc chuyển dời nơi ở đến chỗ khác, nhường đất cho nhà nước làm dự án; dù cho hàng ngày có nghe ai đó nói về chuyện mấy ông quan tham ô tiền bạc tỉ; dù thấy vùng đất bao đời nay của ông cha được góp vào làm khu dân cư mới, ông vẫn cứ khơi khơi kể chuyện khu dân cư mình sống tốt hơn nhờ có các công trình mới được nhà nước đầu tư; cuối tuần khu dân cư cùng nhau tổng vệ sinh đường phố, rồi chuyện có ông cán bộ thương dân, hay về tận nơi hỏi thăm bà con và giải quyết các sự việc khiếu nại rõ ràng, rành mạch.

Gần sáng, trên nền trời trong vắt một vầng ánh sáng vàng nhạt như nhúm lông của chú gà con mới nở, làm nền cho những đám mây mang hình những con giống sẫm màu; vài ngôi sao thưa thớt hơi lấp lánh trên bầu trời mới rạng, ông lão mang cá về nhà cho bà lão ra chợ bán. Buổi sáng đến nhanh như người ta lau một lớp bụi mỏng trên tấm kính trong.
Giữa cuộc sống bộn bề, sức sống và niềm tin của những con người Đà Nẵng như loài hoa muống biển, luôn xanh mướt màu hi vọng và tim tím thủy chung đến vô cùng. Với niềm tin được xây dựng từ lòng dân như vậy, chúng ta vững tin rằng Đà Nẵng sẽ phát triển hơn nữa và sẽ không ngừng đổi thay, xứng đáng với tên gọi “thành phố đáng sống” của Tổ quốc Việt Nam!.

Trại sáng tác Đà Nẵng,tháng 6/2018

Hoài Thu