VĂN CHƯƠNG TINH HOA & VĂN CHƯƠNG ĐẠI CHÚNG

136

Đây là đề tài thú vị nhưng phức tạp. Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, tôi có mấy suy nghĩ như sau.
Trong điều kiện bình thường của đất nước, văn chương phân hóa thành hai bộ phận chủ yếu: Tinh hoa và đại chúng, hướng đến các đối tượng công chúng khác nhau.
Văn chương đại chúng hướng đến cái hay về nội dung và nghệ thuật vừa tầm đón nhận của đa số người đọc. Nhiều người tán thưởng là dấu hiệu thành công của tác phẩm. Tính chất truyền thống, dễ tiếp nhận là đặc điểm của văn chương đại chúng. Sẽ sai lầm khi coi thường văn chương đại chúng. Hướng tới con người bình thường, bộ phận văn chương này rất giàu dưỡng chất của đời sống, của cái hàng ngày, đặc biệt đậm nét trữ tình và giá trị nhân bản. Có thể nghĩ rộng ra để hiểu sức sống lâu bền của nhạc bolero trong đông đảo người yêu nhạc suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Nhưng loài người có đặc điểm là khao khát vô biên cái mới. Trong quá trình phát triển, văn học, nghệ thuật không chỉ bỏ qua cái kém, cái dở, cái lạc hậu… mà còn bỏ qua cả cái đẹp, cái hay đã quen thuộc. Văn chương đại chúng không đặt ra nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu đổi mới đó. Làm tiền đề cho tầm đón nhận của văn chương đại chúng là kinh nghiệm thẩm mỹ từ văn chương truyền thống của dân tộc. Bảo thủ về tầm đón nhận là đặc điểm của bộ phận công chúng văn chương này. Mà công chúng nào thì văn chương ấy!
Trong vô số những người viết văn, làm thơ có những tài năng không sáng tác một cách hồn nhiên, mình là thế nào thì cứ thế mà viết. Họ hiểu sâu sắc mỗi tác phẩm văn học là một sáng tạo mới cả về nội dung lẫn hình thức. Họ có ý thức bằng tác phẩm của mình góp phần thúc đẩy văn chương tiến về phía trước. Với tài năng và nhiệt huyết họ trở thành bộ phận tinh hoa của nền văn học. Hơn ở đâu hết ta thấy ở đây một quy luật của văn học, nghệ thuật: “Quý hồ tinh bất quý hồ đa”.

Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

Văn chương tinh hoa đặt nhiệm vụ khám phá con người và cuộc sống ở bề sâu, bề xa, chiếu những tia Rơnghen nhận thức, cảm thấu vào cõi bí ẩn, phức tạp của đời sống, đặc biệt là đời sống tinh thần của con người. Bộ phận văn chương này không chỉ thể hiện ý thức, tình cảm mà còn khám phá cõi vô thức, tiềm thức, tâm linh… Nó ráo riết cách tân về thi pháp, hướng tới bạn đọc hàng đầu, vượt lên trước tầm đón nhận của công chúng như người đua xe gắng vượt lên trước dù chỉ nửa vành bánh xe.
Sự cách tân về văn học, nghệ thuật nào mà chả phải trả giá? Trên quá trình tìm tòi, sáng tạo đó, nhiều tác phẩm chưa thuần thục, chỉ dừng ở mức thể nghiệm, chưa thành một sinh thể nghệ thuật thật sự. Giới thiệu về Phong trào Thơ mới 1932-1945 trong hợp tuyển “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh – Hoài Chân nói rõ họ đã phải đọc hàng vạn bài thơ dở mới lựa chọn được 146 bài đưa vào cuốn sách. Hàng chục bài trong số đó cũng đã không chịu đựng được thử thách của thời gian.
Sự đoạn tuyệt với thi pháp văn chương truyền thống, sử dụng các thủ pháp nghệ thuật được gợi ý từ trường phái tượng trưng, trường phái siêu thực và các trường phái hiện đại, hậu hiện đại khác… của phương Tây dễ dẫn đến tình trạng phi giao tiếp giữa văn bản và độc giả. Nhiều người là những tài năng văn học, nghệ thuật bị nhìn nhận như những kẻ điên, nhưng đó là “những người điên dũng cảm”. Không có họ không có sự tiến bộ trong văn học nghệ thuật. Vai trò tiên phong của họ cần được ghi nhận. Việc tiếp nhận thơ Hàn Mặc Tử là một bài học. Đương thời Xuân Diệu không chịu được thơ Hàn. Trong bài “Thơ của người” in trên báo “Ngày nay” số ra ngày 7-8-1938, thi sĩ trẻ đã viết: “Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân thi sĩ ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười… chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: “Tôi điên đây, tôi điên đây!”. Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên hãy cứ im lặng như thường mà im lặng sống”. Ngược lại, Chế Lan Viên khẳng định: “Tôi xin hứa hẹn với các người rằng mai sau những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi và còn lại của cái thời kỳ này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử” (“Người mới”, số 5, 23-11-1940). Thời gian đã chứng minh lời khẳng định của Chế Lan Viên.
Giữa văn chương đại chúng và văn chương tinh hoa có mối quan hệ biện chứng. Có nền mới có đỉnh. Có nhiều tác giả, tác phẩm đỉnh cao thì cái nền cũng sẽ được nâng lên. Thật thú vị khi nghĩ về thơ của Thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều:
– Vầng trăng ai sẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường!
và thơ ca dân gian:
– Vầng trăng ai sẻ làm đôi
Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng!
Không dễ khẳng định ai đã ảnh hưởng ai nhưng là hiện tượng tốt đẹp. Tôi nghiêng về khả năng người nghệ sĩ dân gian đã chịu ảnh hưởng Nguyễn Du thiên tài để sáng tạo nên cặp câu lục bát mang vẻ đẹp vượt thoát vẻ đẹp mộc mạc, chất phác của ca dao nói chung.
Trước Cách mạng tháng Tám 1945 Xuân Diệu được xem là nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất / Không có chi bè bạn nổi cùng ta!” (Hy Mã Lạp Sơn). Đương thời, trong điều kiện dân ta đa số mù chữ, ông là một trong những hiện tượng tinh hoa, đặc tuyển. Dần dần trình độ tiếp nhận của công chúng văn chương được nâng lên, thơ ông không còn là cái gì quá xa vời mà nằm trong vùng tiếp nhận của đại chúng.
Trước đây, trong hoàn cảnh cách mạng và kháng chiến, văn chương được định hướng đại chúng hóa, hướng về lực lượng cách mạng, chủ yếu là công, nông, binh. Đây là một quan điểm có lý của nó trong hoàn cảnh đặc biệt lúc bấy giờ. Chế Lan Viên đã lý giải:
“Cái tinh tế cỏ hoa tạm thời chưa nghĩ đến
Vì ta tính đến hàng chục triệu con người và vạn khoảnh non sông”.
Cũng trong hoàn cảnh đó, khi nói về định hướng đại chúng hóa ta chỉ thấy cái hay, cái được và thực tế đã có nhiều bài thơ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược “đi cùng năm tháng với nhân dân ta”. Điều đáng nói là trong hoàn cảnh đặc biệt (chiến tranh và cách mạng) quá kéo dài ta đã không thấy mặt trái của quan điểm đại chúng hóa. Văn chương theo ý hướng tiếp tục quá trình hiện đại hóa mở ra từ đầu thế kỷ XX đã không được chú ý đến, thậm chí bị kỳ thị. Lênin đã viết (đại ý): Vấn đề không phải là bắt các văn nghệ sĩ phải hạ thấp tính sáng tạo xuống cho vừa tầm tiếp nhận của quần chúng mà là phát triển sự nghiệp giáo dục để nâng tầm đón nhận của quần chúng lên. Hồ Chí Minh cũng đã từng huấn thị các nhà văn (đại ý): Trước đây trong kháng chiến quần chúng còn mù chữ, ít chữ ta phải viết ngắn gọn, dễ hiểu. Bây giờ trình độ học vấn chung đã được nâng lên, ta phải viết sao cho hay, cho thú vị!
Vì nhiều lý do, trong đó có quan điểm đại chúng hóa, trong văn học Việt Nam đương đại văn chương tinh hoa và văn chương đại chúng không xa cách nhau bao nhiêu và giữa chúng có sự chuyển hóa lẫn nhau. Thật ra thì ranh giới giữa hai kiểu loại văn chương này cũng không phải là rạch ròi, đứt đoạn. Ngay từ xưa đã thế. Truyện Kiều của Nguyễn Du là tác phẩm tinh hoa số một của thơ Việt Nam. Trong đó có những điều Đại thi hào đã tiếp thu, chuyển hóa từ văn hóa dân gian. Tác phẩm này có những phần người bình dân cảm nhận được với tất cả sự yêu quý, trân trọng và có những phần dành cho các bậc thức giả, cho “bạn đọc hàng đầu”- nói theo ngôn ngữ lý luận hôm nay- đồng điệu. Tác phẩm của thiên tài luôn là một cấu trúc nghệ thuật có tính chất mời gọi khám phá.
Trong cùng một người viết, các tác phẩm của họ cũng không đồng nhất về tính chất đại chúng hay tinh hoa. Việc họ hướng về loại người đọc nào sẽ quy định không chỉ thông điệp tư tưởng nghệ thuật mà còn cả việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật, cấu trúc tác phẩm, xử lý không gian, thời gian nghệ thuật… và suy cho cùng là liên quan đến chất lượng của tác phẩm.
Thực tế thì văn chương có cái hay dễ tiếp nhận và có cái hay tinh tế, phức tạp, mang tính hiện đại đòi hỏi người đọc phải động não – điều mà ngôn ngữ lý luận gọi là “đồng sáng tạo”. Chế Lan Viên đã có nhận định đáng lưu ý: “Xưa Aragon, Eluard là các ông tổ siêu thực. Giờ đây các vị là nguyên soái của hiện thực xã hội chủ nghĩa nhưng là một thứ hiện thực đã đi qua siêu thực còn mang trên mình những đốm lân tinh rực rỡ của nó. Hấp dẫn nhờ vậy” (Chế Lan Viên giữa chúng ta, Nxb Văn học – Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Hà Nội, 2000, tr.31). Không đơn giản là mới, nhiều xu hướng văn chương hiện đại còn sử dụng cái kì lạ, huyền ảo, đi vào vô thức, tiềm thức, sử dụng lối viết tự động tâm linh; không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật… cực kỳ phức tạp, không dễ nắm bắt.
Từ thực tế sáng tác và tiếp nhận có thể thấy rằng dị ứng với thơ hiện đại thế giới là điều không đúng. Để cách tân thì vai trò của truyền thống văn chương dân tộc không thể bỏ qua nhưng việc tiếp nhận các giá trị thơ thế giới là rất quan trọng. Ở đây tính dân tộc phải được hiểu thật sự khoa học trong thế vận động. Không thể nhân danh sự trong sáng được hiểu một cách giản đơn là gắn với truyền thống để kìm hãm sự phát triển của văn chương. Bởi vì: “Có trong sáng động và trong sáng tĩnh, có trong sáng giàu và trong sáng nghèo… Biết là sao được khi dòng sông ngôn ngữ tiếp xúc với cái mới, cái lạ thì nó hãy tạm thời bị vẩn đục. Vấn đề là nó phải nhanh chóng chủ động giải quyết sự đục ấy để không những lặp lại sự trong sáng cũ mà tiến đến một sự trong sáng mới cao hơn, giàu hơn vì bấy giờ đã thêm yếu tố mới nhập vào”(Chế Lan Viên, Sđd, tr.339).
Đã có một số nhà văn, nhà thơ có khát vọng cách tân, tự xếp mình vào xu hướng thơ văn hiện đại, hậu hiện đại. Tác phẩm của các nhà thơ Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, của các nhà văn Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh… làm cho bạn đọc phân hóa một cách sâu sắc. Người khen thì khen hết lời, người chê thì như đào đất đổ đi, rất khó nghe.
Vấn đề phức tạp thêm ở chỗ có một số người muốn được nhìn nhận là tiên phong, ra sức đưa văn chương vào cái sừng trâu tắc tị, hoặc đổi mới bằng cách đưa lên trang sách tất cả những gì bẩn thỉu, tục tằn nhất nhằm gây sự chú ý của bạn đọc. Đổi mới văn chương đâu dễ thế? Văn chương đích thực là kết tinh của tài năng, huyết lệ, mồ hôi, thậm chí là tuổi thọ của người viết.
Văn học nghệ thuật là lĩnh vực của tài năng, của sáng tạo, của cái đẹp. Không chỉ những cái tầm thường, mực thước sẽ không sống được với thời gian mà cả những cách tân giả tạo với những tuyên ngôn, những quảng cáo lập lòe màu sắc cũng sẽ bị đời sống văn chương bỏ qua. Tôi quan niệm văn chương dù đổi mới thế nào thì vẫn phải được sáng tạo theo quy luật của cái đẹp và dựa trên nền tảng nhân văn. Và cuối cùng thì tác phẩm phải trả lời được vấn đề là: Có hay không?.
Tôi tin ở trái tim, khối óc của công chúng hôm nay khi tiếp nhận văn chương. Những tác phẩm có giá trị thật sự bao giờ cũng là một sinh thể nghệ thuật có sức lay động, xúc động người đọc. Thơ giả, văn giả như hoa nhựa không có hương vị gì, chỉ lòe người bằng vẻ sặc sỡ.
Trên cơ sở cái nền chung khá rộng đang nổi lên nhu cầu xuất hiện những nhà văn, nhà thơ thật sự tài năng, không chỉ đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người đầu thế kỷ XXI, mà còn làm chứng chỉ đại diện cho văn chương Việt Nam đương đại trước thế giới.

Đà Lạt, tháng 5 -2018

Phạm Quốc Ca