Khung cửa sổ mở

79

Saki là bút danh của nhà văn Hector Hugh Munro (1870-1916). Ông sinh ra tại Miến Điện (nay là Myanmar), lớn lên và học tại Anh. Hết trung học, ông trở về Miến Điện làm việc trong ngành quân cảnh. Khi Thế Chiến thứ I bùng nổ, tuy đã quá tuổi động viên ông vẫn tình nguyện nhập ngũ và hy sinh tại chiến trường Pháp. Tuy viết nhiều thể loại, nhưng Saki được xem là bậc thầy về truyện ngắn, được so sánh với O. Henry, Dorothy Parker. Thế giới truyện ngắn của ông là con người và đất nước Anh vào đầu thế kỷ XX. Truyện “Khung cửa sổ mở” (The open window) dưới đây được xem là một trong những truyện ngắn nổi tiếng nhất của Saki – điển hình của khả năng kết hợp tài tình giữa tính hài hước và kinh dị trong thể loại truyện ngắn.

Saki – nhà văn Hector Hugh Munro
(Nguồn Internet)

Cô của cháu sẽ xuống ngay bây giờ, thưa ông Nuttle. – Cô bé mười lăm tuổi nói bằng giọng nói rất bình tĩnh. – Trong khi chờ đợi ông phải chịu đựng cháu thôi.
Framton Nuttle cố nói gì đó thích hợp để lấy lòng cô bé mà không làm người cô sắp xuất hiện của cô bé phật ý. Thực ra trong lòng, hơn bao giờ hết anh không tin những chuyến thăm viếng người lạ mang tính hình thức này lại có thể góp phần tích cực vào phương pháp chữa trị căn bệnh thần kinh mà anh đang phải áp dụng.
– Chị biết việc đó sẽ như thế nào. – Chị gái của anh thở dài khi biết anh chuẩn bị về vùng thôn quê này để tĩnh dưỡng. – Cậu sẽ tự chôn mình ở đó mất thôi, ở đó cậu sẽ không trò chuyện được với ai, và rồi tinh thần của cậu sẽ tệ hơn bây giờ vì buồn chán. Chị sẽ viết cho cậu mấy bức thư, giới thiệu cậu với tất cả những ai chị quen biết ở vùng đó. Chị nhớ là vài người trong số họ khá tốt bụng.

Framton không biết bà Sappleton, người phụ nữ mà anh sắp gặp, có nằm trong số những người tốt bụng ấy hay không.
– Ông có quen biết nhiều người ở vùng này không? – Cô cháu gái của chủ nhà hỏi trong khi cô bé đánh giá rằng vị khách mình đang tiếp là một người kiệm lời.
– Tôi gần như không quen ai. – Framton đáp. – Bốn năm trước chị gái tôi đã từng sống ở vùng này và chị ấy viết mấy bức thư giới thiệu tôi với những người quen của chị ấy ở đây.
Giọng nói của Framton lộ rõ vẻ sầu muộn.
– Vậy là ông hầu như không biết gì về cô của cháu? – Cô bé tự tin tiếp tục dò hỏi.
– Tôi chỉ biết tên và địa chỉ của bà ấy thôi. – Framton thật thà đáp. Anh băn khoăn không biết bà Sappleton còn chồng hay đã trở thành một góa phụ. Có gì đó trong căn phòng gợi đến sự tồn tại của đàn ông.

– Ba năm trước đây một bi kịch khủng khiếp xảy ra với cô của cháu. – Cô bé chậm rãi nói.
– Bi kịch ư? – Framton không ngăn nổi sự tò mò: bi kịch xảy ra ở vùng thôn quê êm đềm này quả là điều anh không ngờ tới.
– Ông có lẽ sẽ thắc mắc tại sao khung cửa sổ kia lại mở trong một chiều tháng Mười như thế này. – Cô bé vừa nói vừa chỉ tay về phía khung cửa sổ rộng kiểu Pháp hướng ra bãi cỏ.
– Thời tiết bây giờ cũng không đến nỗi lạnh lắm. – Framton nói. – Nhưng ô cửa sổ đó thì liên quan gì đến bi kịch của bà chủ chứ?

– Từ khung cửa đó, ba năm trước đây, chồng của cô ấy và hai người em trai đã bắt đầu một cuộc đi săn. Họ không bao giờ trở về nữa. Trong khi săn chim dẽ giun ở cánh đồng hoang họ và con chó săn giống spanh-ơn đã thụt xuống một bãi lầy. Đó là một chiều mùa hè ẩm ướt đáng sợ, và những chỗ vốn an toàn bỗng sụt lún không một dấu hiệu báo trước. Người ta không tìm được thi thể của họ. Thật khủng khiếp. – Nói đến đây giọng cô bé mất đi sự bình tĩnh và trở lên ấp úng. – Cô ấy luôn cho rằng chồng cô ấy và các em trai sẽ trở về vào một ngày nào đó, và họ sẽ vào nhà bằng lối cửa sổ kia như họ vẫn thường làm. Đó là lý do tại sao cửa sổ đó lại luôn mở từ sáng sớm cho tới tối khuya. Người cô tội nghiệp của cháu, cô ấy thường kể cho cháu nghe cảnh họ lên đường đi săn hôm ấy, chồng cô ấy với chiếc áo đi mưa màu trắng vắt trên cánh tay, còn Ronnie, em trai út của cô ấy thì vui vẻ hát ”Bertie, sao phải bồn chồn kia chứ?” như mọi khi để trêu cô ấy, bởi vì cô ấy luôn lo lắng mỗi khi họ đi săn. Ông biết đấy, thỉnh thoảng vào những buổi chiều muộn yên ắng như thế này, ý nghĩ rằng họ sẽ trở về qua lối cửa sổ kia khiến cháu rùng mình.

Cô bé ngừng lời và Framton nhận thấy cô bé khẽ rùng mình. Vừa lúc đó cô của cô bé bước vào phòng với lời xin lỗi nhẹ nhàng.
– Tôi hy vọng Vera đã làm anh vui? – Bà ấy nói.
– Cô bé rất dễ thương – Framton nói.
– Tôi hy vọng anh không khó chịu vì chúng tôi để cửa sổ kia mở. – Bà Sappleton nói bằng giọng phấn khởi. – Chồng tôi và các em tôi đi săn về luôn vào nhà bằng lối cửa sổ đó. Hôm nay họ đi săn chim ở cánh đồng hoang, vì thế họ sẽ làm bẩn hết thảm phòng cho mà xem. Đàn ông là thế, đúng không?
Bà hào hứng nói về chuyện săn chim và săn vịt trời vào mùa đông. Đối với Framton chuyện đó thật đáng sợ. Bằng một nỗ lực tuyệt vọng anh cố lái câu chuyện sang một chủ đề bớt rùng rợn hơn; anh nhận thấy rằng bà chủ nhà không chú ý đến câu chuyện của anh mấy, bà ấy nghe câu được câu chăng vì chẳng lúc nào bà ấy rời mắt khỏi khung cửa sổ để mở và bãi cỏ bên ngoài. Framton nghĩ mình thật không may đã tình cờ chứng kiến cảnh hoài nhớ một bi kịch thương tâm.

– Các bác sỹ khuyên tôi nên nghỉ ngơi hoàn toàn, tránh xúc động. – Framton nhắc khéo bà chủ nhà, anh đã lầm tưởng rằng những người lạ và những người quen tình cờ luôn muốn nghe từng chi tiết nhỏ về bệnh tật và sự phiền não của một người cùng những nguyên nhân và cách chữa trị chúng. – Chỉ riêng vấn đề chế độ ăn uống đã không có sự thống nhất giữa họ. – Anh tiếp tục.
– Không ư? – Bà Sappleton hỏi bằng một giọng hờ hững chỉ hơn một cái ngáp một chút. Rồi bà ấy đột nhiên hào hứng. Nhưng không phải vì những lời Framton nói. – Họ về đây rồi! – Bà ấy reo lên. – Vừa kịp giờ uống trà, và trông kìa, người họ dính bùn đến tận mắt!
Framton run rẩy nhìn cô cháu gái của bà chủ nhà với ánh mắt đầy cảm thông. Cô bé đang nhìn đăm đăm ra ngoài khung cửa sổ mở đầy vẻ kinh hoàng. Sửng sốt, Framton quay người nhìn theo họ.

Trong bóng chiều chạng vạng ba người đàn ông đang bước trên bãi cỏ tiến về phía cửa sổ; cả ba đều cầm súng săn, và một trong số họ khoác chiếc áo khoác đi mưa màu trắng trên vai. Một con chó săn màu nâu bám theo gót họ. Họ đi tới sát ngôi nhà, và một giọng nam trẻ trung cất lên du dương: ”Tôi đã nói rồi mà, Bertie, sao phải bồn chồn kia chứ?”.
Framton vội chộp lấy mũ của mình; hành lang, lối đi trải sỏi, và cổng chính là những điều duy nhất anh chú ý trên đường tháo chạy. Một người đi xe đạp đã phải lao xe vào bờ rào để khỏi đâm vào anh.

– Bọn anh đã về rồi đây. – Một giọng nói đàn ông vọng qua cửa sổ căn nhà. – Ôi đầy bùn, nhưng toàn bùn khô. Ai vừa chạy ra như bị ma đuổi vậy em?
– Một anh chàng không bình thường, một người mang họ Nuttle. – Bà Sappleton đáp. – Anh ta cứ ngồi nói về bệnh tật của mình, rồi chạy bán sống bán chết chẳng chào một câu. Ai không biết lại tưởng anh ta nhìn thấy ma.
– Cháu nghĩ ông ấy sợ con chó săn nhà mình đấy. – Cô cháu gái bình thản nói. – Ông ấy đã từng bị một đàn chó hoang ở bờ sông Ganges đuổi phải chạy vào một nghĩa địa, và phải trốn cả đêm trong một cái huyệt mới đào với cả đàn chó gầm gừ ở trên miệng huyệt. Rơi vào cảnh đó thì ai mà chẳng sợ hết hồn.
Bịa chuyện đúng là năng khiếu đặc biệt của cô bé.

Truyện ngắn. Saki (Anh)
Nguyễn Bích Lan (Dịch)